Sáng tác

Hoa xương rồng. Truyện ngắn của Nguyễn Thị Bích Vượng

Nguyễn Thị Bích Vượng
Truyện 09:00 | 11/04/2026
Baovannghe.vn- Mới giữa tháng mười mà rét đã về. Cơn gió đầu mùa se sắt chạy dọc qua cánh đồng, cuốn theo mùi rơm rạ khét lẫn trong mùi đất ẩm.
aa
Hoa xương rồng. Truyện ngắn của Nguyễn Thị Bích Vượng
Minh họa Đào Quốc Huy

Cánh đồng lúa vàng rực hôm nào bây giờ chỉ còn trơ lại những gốc rạ khô. Xa xa, dãy núi mờ sương, bầu trời loang xám như tấm khăn choàng cũ. Gió luồn qua từng mái nhà, rít khẽ bên hiên rồi chạm vào da thịt người, như muốn nhắc rằng mùa đông đã thực sự đến gần.

Gần nghĩa trang liệt sĩ đầu xóm nhà tôi có một cửa hàng nhỏ bán đồ vàng mã. Mỗi lần về quê thăm bố, tôi đều ghé qua đó. Khi thì mua ít tiền vàng, khi lại mua bộ quần áo giấy để mang sang nghĩa trang thắp hương cho bố. Cửa hàng ấy là của cô Liên - con gái cụ Như, người trong xóm.

Trên bậc cửa nhà cô, lúc nào cũng đặt một chậu xương rồng nhỏ. Thân cây xanh thẫm, gai nhọn tua tủa, nhưng giữa những mũi gai ấy lại bật lên những bông hoa đỏ chói bé xíu. Loài hoa dưới nắng gắt và gió lạnh vẫn nở rực rỡ, kiêu hãnh như thách thức mọi khắc nghiệt của đất trời. Tôi dừng lại, chợt thấy lòng se sắt. Không hiểu sao, bông hoa ấy khiến tôi nghĩ đến cô Liên - nhỏ bé mà mạnh mẽ, kiên cường giữa gió sương.

Cụ Như, bố cô Liên, ngày trước là y sĩ quân y, từng theo bộ đội ra mặt trận. Sau khi bị thương, cụ trở về làng, vẫn tiếp tục bốc thuốc, khám bệnh giúp dân. Ngôi nhà ba gian mái ngói đỏ au của cụ nép mình dưới tán nhãn già che kín cả khoảng sân lát gạch. Dưới gốc nhãn, chiếc chõng tre cũ là nơi mấy cụ ông trong xóm thường ngồi uống trà, bàn chuyện đời. Ông nội tôi cũng hay ghé qua, khi thì đánh cờ với cụ Như, khi chỉ ngồi lặng lẽ uống chén trà nóng, nghe tiếng chim ríu rít trong lồng treo trên cành nhãn. Cái hiên nhà cụ khi ấy luôn thơm mùi thuốc bắc quyện với hương nhãn chín. Giờ đây, mỗi lần đi qua, tôi vẫn thấy như còn phảng phất hơi ấm của những ngày xưa ấy.

Cô Liên được thừa hưởng ở cha sự nhân hậu và tính nết cẩn trọng. Cô học giỏi, nổi tiếng trường cấp ba thời đó. Năm ấy, cô thi đỗ Đại học Sư phạm; giấy báo nhập học vừa tới thì có lệnh tổng động viên. Cô gấp lại giấc mơ giảng đường, viết đơn tình nguyện vào đội Thanh niên xung phong. Trong một lần mở đường cho đoàn xe chở vũ khí vào mặt trận, cô bị thương nặng, mất một chân - khi ấy, chỉ còn ít ngày nữa là đến đại thắng mùa xuân năm 1975.

Giờ đây, cô sống một mình. Cửa hàng nhỏ của cô chủ yếu phục vụ người đến viếng nghĩa trang, hàng hóa lúc nào cũng rẻ hơn nơi khác. Cô nói, giọng nhẹ như gió: “Cô bán chỉ để phục vụ đồng đội thôi, không lấy lãi đâu cháu à. Cô sống bằng tiền trợ cấp, trồng thêm mấy luống rau, nuôi đàn gà là đủ rồi.”

Khi khách vãn, cô lại ngồi xuống chiếc ghế gỗ nhỏ, tay thoăn thoắt đan áo len. Cô bảo để gửi ra Trường Sa, cho mấy cậu lính trẻ đang ngày đêm canh biển. Tôi nhìn những vòng len đỏ, vàng, xanh dần lớn lên dưới đôi tay gầy, từng sợi như nối liền quá khứ với hiện tại - như thể trong cô vẫn chảy nhịp tim của những người đồng đội năm nào. Ngoài hiên, bông xương rồng vẫn đỏ chói, rực rỡ trong gió lạnh.

Cô đón tôi bằng nụ cười dịu dàng, đôi mắt hiền âu yếm: Con gái rượu lại về thăm bố rồi đấy!

Cô vừa nói vừa chống chiếc nạng gỗ đứng dậy, dáng khập khiễng mà giọng vẫn trong như ngày nào.

- Dạ vâng. Cô dạo này có khỏe không ạ?

Cô xoa hai bàn tay, cười khẽ:

- Cũng tàm tạm thôi. Mấy mảnh đạn còn sót trong người vẫn hay quấy rầy… nhưng làm sao quật ngã được cô!

Cô nói mà ánh mắt vẫn sáng, như có ngọn lửa âm ỉ cháy trong đó. Dưới mái hiên, trên chiếc ghế gỗ nhỏ, trong bộ quân phục sờn cũ, một ống quần bên trái buông thõng, cô ngồi đan áo len. Những mũi kim lên xuống đều đặn qua những ngón tay gầy, từng sợi len rơi mềm như được dệt bằng kí ức. Ánh mắt cô thẳm sâu, bình thản êm đềm như mặt giếng quê mùa thu. Mái tóc điểm bạc lấp lánh trong nắng hanh hao - vừa yếu đuối, vừa kiêu hãnh, như chính bông hoa nhỏ trong chậu xương rồng ngoài hiên.

- Chớp mắt mà mấy chục năm rồi đấy… - Cô khẽ thở dài, ánh nhìn xa xăm hướng ra khoảng trời nhạt nắng.

Rồi như chợt nhớ điều gì, giọng cô bỗng chùng xuống:

- Cô còn nhớ cái ngày đơn vị đưa di vật của bố cháu về. Một ba lô, đôi dép cao su đã mòn gót, bộ quân phục bạc màu, cuốn nhật kí nhỏ, tấm ảnh của mẹ cháu đã ố vàng và mấy lá thư chưa kịp gửi. Mẹ cháu ôm chiếc ba lô ấy suốt buổi, nước mắt cứ chảy mà chẳng nói được lời nào…

Tôi lặng người. Trong đầu chợt hiện lên hình ảnh năm xưa: mẹ tôi ngồi bên bàn thờ, gương mặt hốc hác, đôi mắt trũng sâu. Đôi tay run run của mẹ mở cuốn sổ nhỏ - cuốn sổ thấm đẫm mùi đất, mùi thuốc súng và nỗi đau chia li. Ở trang cuối, bố viết bằng nét mực tím đã loang:

“Ngày mai anh ra trận. Khi nào hết giặc, anh sẽ đưa em và con lên Hà Nội thăm Thủ đô, mình sẽ dạo quanh hồ Hoàn Kiếm, chắc con sẽ thích lắm…”

Chỉ một dòng ngắn ngủi mà như nén lại tất cả thương yêu, lời hẹn chưa kịp thành, giấc mơ còn dang dở giữa hai bờ sinh tử. Không ngờ, đó lại là những dòng chữ cuối cùng của bố - ông đã hi sinh ngay trong trận chiến ấy.

Sau khi nhận giấy báo tử, mẹ tôi như người mất hồn. Nhiều năm liền, áo quần lấm bụi đường, bà ngược xuôi khắp các nghĩa trang, đi như một cuộc hành hương trong nỗi đau và niềm hi vọng mong manh. Có thời gian dài mẹ ngã bệnh, tưởng không qua khỏi, nhưng rồi mẹ lại gượng dậy, lần này còn mang theo cả tôi - đứa con nhỏ - trên những chuyến đi xa lặn lội. Cứ thế, nỗi nhớ và niềm tin dắt mẹ đi qua bao mùa mưa nắng. Cuối cùng, nhờ sự giúp đỡ của những đồng đội cũ của bố, chúng tôi mới tìm được nơi bố nằm lại, đưa được bố về yên nghỉ giữa đồng đội - nơi nghĩa trang này.

Những mất mát của chiến tranh tưởng đã ngủ yên, mà vẫn nhói buốt trong từng kỉ niệm. Có lẽ, với những người từng đi qua chiến tranh, nỗi buồn không bao giờ mất; nó chỉ nằm im, chờ một ngày gió lạnh ùa về, lại thức dậy cồn cào. Cô Liên nhìn tôi, giọng nhỏ nhẹ:

- Bố cháu trên kia chắc cũng chẳng muốn thấy cháu buồn đâu. Người nằm xuống rồi chỉ mong con cái mạnh khỏe, sống sao cho xứng đáng với người đã hi sinh thôi, cháu à!

Tôi khẽ gật đầu. Trước hiên, bông xương rồng đỏ chói khẽ lay trong gió - nhỏ bé mà kiêu hãnh, như thể cũng đang lặng lẽ gật đầu đồng tình. Hình ảnh ấy khắc sâu trong lòng tôi. Mỗi khi mùa thu trở gió, chỉ cần thấy sương trắng giăng trên cánh đồng, tim tôi lại rưng rưng nhớ về buổi sáng cuối thu năm ấy. Rồi cô Liên nhìn tôi, giọng chậm và nhẹ, như sợ làm động không gian tĩnh mịch:

- Cháu vào nhà uống chén nước đã.

Tôi lắc đầu, cố giữ giọng bình thản:

- Cháu cảm ơn cô. Để hôm khác cháu vào chơi. Hôm nay cháu muốn lên với bố một lát ạ.

Cô gật đầu, chậm rãi lấy từ trong tủ ra túi đồ lễ đã gói sẵn đưa cho tôi. Vẫn như mọi lần, bên trong là một bộ quân phục xanh còn thơm mùi giấy mới. Tay khẽ run run, tôi nói nhỏ:

- Cô ạ… Bố cháu yên nghỉ rồi. Đất nước yên bình rồi. Có lẽ… không cần bộ quân phục này nữa đâu, cô ạ.

Cô khựng lại một chút. Ánh mắt đượm buồn, rồi mỉm cười hiền:

- Ừ… Cũng phải. Nhưng cô vẫn quen gói như thế. Thói quen của người từng tiễn đồng đội, cháu à.

Tôi im lặng. Không biết nói gì thêm. Chỉ thấy trong nụ cười cô - nụ cười từng trải qua bao mất mát, vẫn ánh lên một thứ bình thản dịu dàng, như vệt nắng cuối ngày rơi trên hàng cây xương rồng ngoài hiên.

Tôi đổi lấy hai bộ sơ mi và một bộ com lê mới để dâng bố. Tay xách túi đồ, men theo con đường lát gạch dẫn vào nghĩa trang, tôi nghe lòng mình chùng xuống. Xa xa, gió thu thổi qua hàng bạch đàn, tiếng lá xào xạc như lời ai gọi vọng…

Trời về chiều. Mây trắng lững lờ vờn quanh đỉnh núi, ánh nắng cuối cùng rơi lên những tấm bia lạnh. Hai hàng phi lao đứng im phăng phắc, chỉ có tiếng gió thoảng qua khe lá, nghe như lời khấn thầm của những linh hồn xa xưa. Con đường lát gạch chạy thẳng tắp, rêu phong phủ mờ, ánh lên sắc xám nhạt trong nắng chiều. Gió mang theo mùi cỏ dại quện trong khói hương, tạo thành thứ hương vị vừa thân quen, vừa thiêng liêng đến lạ.

Tôi dừng lại trước phần mộ của bố. Tấm bia đã ngả màu theo năm tháng, dòng chữ khắc tên bố tôi mờ dần, nhưng ánh sáng từ mặt đá vẫn phản chiếu dịu dàng, như ánh mắt của bố năm nào. Tôi khẽ đặt túi đồ xuống, châm ba nén nhang, cúi đầu thật lâu. Xung quanh, những chậu xương rồng được đặt đều trên mỗi phần mộ. Thân cây cằn cỗi, xanh thẫm, đan vào nhau như ôm trọn từng nắm đất. Giữa màu xanh ấy, lác đác vài chùm hoa đỏ nở rực rỡ. Những bông hoa xương rồng nhỏ xíu, mong manh, mà cháy lên bằng cả sức sống.

Tôi lặng người. Kì lạ thay, hoa lại nở đúng ngày giỗ bố tôi... Những bông hoa ấy như những ngọn lửa nhỏ - lặng lẽ, bền bỉ và đỏ rực, giống hệt như cách những con người nơi đây đã và đang sống. Loài cây tưởng chừng chỉ để làm cảnh, hóa ra lại bền bỉ đến lạ. Chúng chịu nắng, chịu gió, chịu cả cằn khô mà vẫn âm thầm dâng hiến sắc hoa - như chính những người lính năm nào: bố tôi, cô Liên, và biết bao người khác. Lặng lẽ mà kiên cường. Lặng lẽ mà trường tồn.

Gió nổi lên. Từng cánh hoa xương rồng khẽ run, ánh đỏ hắt lên mặt bia. Tôi có cảm giác bố đang mỉm cười, hiền từ và bao dung như thuở nào.

Tôi đang mở túi đồ lễ thì phía sau vang lên giọng nói khàn khàn nhưng ấm:

- Cháu về thắp hương cho bố à?

Tôi ngoảnh lại. Là chú Quân - người quản trang. Gương mặt chú hằn những nếp nhăn, làn da sạm nắng, dáng nhỏ thó trong bộ quân phục cũ đã bạc màu. Chú chống chiếc cuốc xuống đất, cười hiền, đôi mắt nheo lại, ánh lên trong nắng chiều.

- Chú xới đất để trồng gì ạ?

- Chú làm đất để trồng thêm ít hoa cho ấm mộ anh em đồng đội của chú…

Giọng chú chậm, khàn khàn như gió thổi qua sỏi đá. Tôi mời chú lại ngồi nghỉ. Chúng tôi ngồi bên hàng bia, khói hương bay nghi ngút, gió khẽ lay làm tàn tro bay tản mát.

Một lát sau, chú Quân nhìn xa xăm, giọng trầm xuống:

- Hồi cô Mận nhà chú còn sống, cứ mỗi đợt trời trở gió là cô lại giặt mấy chiếc áo len, phơi lên hàng rào. Cô bảo để sẵn, trời sắp rét chú mặc cho đỡ lạnh. Bây giờ thì…

Chú bỏ lửng câu nói. Đôi mắt đỏ hoe, bàn tay khẽ run trên cán cuốc. Tôi hiểu nỗi đau thẳm sâu trong giọng nói ấy. Tôi khẽ nói, như cho cả hai cùng nhẹ lòng:

- Chiến tranh thật tàn khốc, để có cuộc sống hôm nay, người ta phải đánh đổi quá nhiều, chú ạ…

Chú Quân gật đầu, giọng nghèn nghẹn:

- So với những đồng đội đang nằm đây, chú còn may mắn hơn nhiều. Cháu nhìn kìa… còn biết bao ngôi mộ chưa có tên, chưa một lần được người thân tìm đến…

Nói đến đây, chú quay mặt đi. Tôi cũng nghẹn lại, lòng xa xót:

- Bố cháu… còn được trở về với quê hương, còn có cháu để hương khói. Tội cho các bác, các chú chưa kịp trở về…

Một khoảng lặng dài trôi qua. Chỉ còn tiếng gió lùa qua hàng phi lao, khẽ rít lên như tiếng thở dài của đất. Rồi chú nói tiếp, giọng nhỏ lại, như chỉ để cho mình nghe:

- Chú chỉ thương cô… Hôm cô sinh, đứa con không thành hình hài, do di chứng của chất độc da cam vì chú bị nhiễm. Nhưng cô lại cứ tự dằn vặt, cứ nghĩ là lỗi của mình… Cô buồn, cô yếu dần, rồi cô ra đi. Trước khi đi, cô vẫn nắm tay chú, nói lời xin lỗi vì không sinh được cho chú một đứa con lành lặn…

Giọng chú nghẹn lại. Tôi không dám nhìn thẳng vào mắt chú, chỉ nghe tiếng gió rít qua tán phi lao và thấy tim mình se thắt.

- Chú nói gì với cô lúc đó ạ? - Tôi khẽ hỏi.

Chú cúi đầu, giọng khàn đi:

- Chú bảo… “Tôi mới là người có lỗi với mình.” Rồi cô đi, tay buông khỏi tay chú nhẹ như chiếc lá lìa cành. Từ đó, chú về đây trông coi nghĩa trang. Làm bạn với những đồng đội của mình. Và chăm sóc luôn phần mộ của cô.

Chú đưa tay chỉ về phía ngoài:

- Mộ cô ấy ở ngay kia, kìa cháu…

Tôi nhìn theo tay chú. Một ngôi mộ nhỏ, đơn sơ nằm nép bên rìa nghĩa trang. Trước mộ là mấy khóm hồng ta, những bông hoa đỏ au, nở rực trong gió chiều.

Chú Quân nhìn đăm đăm, giọng chậm rãi:

- Ngày còn sống, cô thích hoa hồng này lắm. Cô bảo, loài hoa ấy khỏe, dễ chăm, lại có hoa quanh năm…

Gió lại nổi lên. Những cánh hồng khẽ lay, đỏ như máu, như tình yêu vẫn còn ấm mãi trong lòng người ở lại.

Chúng tôi lặng đi hồi lâu. Gió chiều phả qua hàng phi lao, tiếng lá xào xạc nghe như tiếng thở dài của đất. Tôi mạnh dạn nói, giọng khẽ khàng:

- Hay chú… làm bạn với cô Liên, cháu thấy…

Tôi chưa kịp nói hết, chú đã xua tay, giọng dứt khoát mà vẫn hiền:

- Mọi người trong xóm cũng bảo thế. Nhưng nghĩ đến cô Mận, chú không đành. Lỡ cô Liên lại phải chịu cảnh như cô Mận thì tội lắm. Chú chỉ thương, chỉ giúp cô Liên như giúp một đồng đội thôi, cháu ạ.

Tôi hiểu. Bởi trong từng ánh mắt, từng việc chú làm, đều ẩn một thứ tình cảm trong trẻo, nhân hậu, không cần gọi tên. Chú vẫn thường bắc giàn mướp giúp cô, sửa lại mái ngói dột sau trận mưa. Còn cô Liên thì hay nấu thêm phần cơm cho chú - khi thì mang tận nơi, khi lại nhờ người gửi hộ.

Một buổi trưa, tôi từng bắt gặp cô Liên gói cặp lồng cơm cẩn thận, nhờ người mang cho chú Quân, vừa gói cô vừa nói nhỏ, giọng đầy thương cảm: Chú ấy sống một mình, ăn uống thất thường, tội lắm…

Cô chú thương nhau, đỡ đần nhau bằng thứ tình cảm lặng lẽ, trong veo như giọt sương mai còn vương trên cỏ. Tôi nhìn chú Quân - nơi khóe mắt chú rưng rưng, giọt nước mắt lóng lánh dưới nắng chiều. Cuộc đời người lính ấy đã trải qua bao mất mát, nhưng vẫn nhân hậu, vẫn cặm cụi vun đất, tỉa cỏ cho từng nấm mộ - như thể đang chăm chút chính người thân của mình.

Tôi đặt tay lên phiến mộ lạnh, thì thầm trong gió: “Bố ơi!… Con sẽ sống xứng đáng là con của bố ạ! Nhớ thương bố thật nhiều.”

Người liệt sĩ đã vì nước quên mình, các cháu của ông rồi cũng sẽ được nghe kể về ông của mình, như một ngọn gió lành thổi mãi qua những mùa hoa xương rồng.

Một cơn gió thoảng qua, làn khói hương run rẩy rồi tan dần trong không trung. Xa xa, mặt trời đã khuất dần sau triền núi, vệt nắng cuối cùng đỏ như máu rơi lặng lẽ xuống hàng bia đá. Mỗi tấm bia như một cuốn sách khép lại, chỉ còn mùi cỏ khô và hơi đất lạnh nói thay cho bao lời chưa kịp gửi.

Tôi đứng dậy, thắp thêm một nén hương, cúi đầu thật lâu. Con đường trở về làng chiều nay mờ sương, gió mang hơi lạnh của mùa đông sớm. Tôi ngoái lại nhìn, những bông hoa xương rồng trên những tấm bia mộ vẫn rực đỏ trong gió rét đầu mùa - nhỏ bé, kiêu hãnh, mà đẹp đến nhói lòng. Chúng như những ngọn lửa không tắt, thắp lên giữa đất trời gió lạnh - tượng trưng cho sự sống bền bỉ, cho tình yêu và lòng tri ân lặng lẽ tồn tại mãi trong mỗi trái tim người ở lại…

Từ “Ngày hội non sông”  đến một Quốc hội chuyên nghiệp

Từ “Ngày hội non sông” đến một Quốc hội chuyên nghiệp

Baovannghe.vn- Theo đánh giá của ủy ban bầu cử Trung ương, cuộc bầu cử diễn ra đúng như quy định trong Hiến pháp, Luật bầu cử Quốc hội và HĐND.
Mong manh - Thơ Trần Nhuận Minh

Mong manh - Thơ Trần Nhuận Minh

Baovannghe.vn- Bất ngờ ánh trăng non/ Bay ngang qua cửa sổ
Đẻ thuê. Truyện ngắn của Vũ Thị Thanh Hòa

Đẻ thuê. Truyện ngắn của Vũ Thị Thanh Hòa

Baovannghe.vn - Bao trùm lên ngôi nhà là một không khí nặng nề đến ngột ngạt. Mọi người luôn canh cánh trong lòng một nỗi bất an.
Văn học ứng dụng với đời sống đương đại - Từ lí luận tới thực tiễn

Văn học ứng dụng với đời sống đương đại - Từ lí luận tới thực tiễn

Baovannghe.vn - Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kì mới nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác và sử dụng hiệu quả các sản phẩm văn học, nghệ thuật ở Việt Nam.
Chuyện với cỏ lau - Thơ Nguyễn Thế Kiên

Chuyện với cỏ lau - Thơ Nguyễn Thế Kiên

Baovannghe.vn- Cờ lau từ phía Cố Đô/ Qua nghìn năm bỗng xuống đò sang sông.