Sáng tác

Đêm mưa Tây Kinh. Truyện ngắn của Dạ Du

Dạ Du
Truyện 11:00 | 23/05/2026
Baovannghe.vn- Sấm chớp vang rền, nền trời rạn nứt. Gió thổi tung cửa sổ, luồng khí lạnh lẽo tạt vào làm tắt ngọn nến vốn chỉ còn le lói. Mưa đá đổ ập xuống mái ngói lưu li của hành cung phát ra tiếng lộc cộc mỗi lúc một dữ dội.
aa
Đêm mưa Tây Kinh. Truyện ngắn của Dạ Du
Minh họa Lê Anh Vân

Ngoài cửa có tiếng gọi dồn dập: “Y nữ, y nữ… Thái y Lê Hưu đâu? Sao không trực đêm? Mau đi chẩn bệnh cho bệ hạ!” Trúc Đào nghe gọi liền trở dậy, dụi mắt hỏi người cấm vệ đang đứng trước cửa: “Các nam y sinh… cũng không có ai?” Hắn gật đầu, thở dốc đáp: “Không, không gặp được ai cả!”

Nghe vậy, nàng lập tức trở vào phòng lấy thùng thuốc. Y nữ cùng phòng tên Thanh Mai đã thức, áo quần chỉnh tề nhưng nét mặt do dự nhìn ra khoảng trời sấm rền gió giật. Nghĩ cô ta ngại trận mưa lạ, mà ngự điện chẳng thiếu chi cung nữ hầu hạ nên Trúc Đào không gọi theo cùng.

Vượt qua màn mưa dày đặc những viên đá lạnh lẽo, cổng ngự điện đã thấp thoáng trước mặt. Lần đầu chẩn mạch cho vua nên Trúc Đào nghe trống ngực vỗ phập phồng, nước trên trán chảy xuống ròng ròng không biết là mưa hay mồ hôi lạnh. Cửa mở, tẩm điện ấm áp làm chóp mũi và vành tai đơ cứng của Trúc Đào dần có lại cảm giác, nàng chăm chú nghe thái giám hầu bệnh thuật lại việc vua bị say sóng và ướt mưa trên đường từ Đông Kinh tới đây rồi ngã bệnh. Hít một hơi sâu, Trúc Đào bước đến long sàn. Rèm vén lên, ánh nến vàng đượm lọt vào vẽ gương mặt bệ hạ thành bức chân dung nửa sáng nửa tối. Hơi nóng tỏa dưới lớp chăn hơ ấm bàn tay lạnh toát vì thấm mưa của Trúc Đào. Mạch đập dưới đầu ngón tay vừa yếu vừa loạn khiến nàng nhíu mày, đoạn nhúng khăn vào nước ấm, vắt khô. Khăn áp lên trán, mi mắt khẽ động đậy. Nàng hỏi nhỏ: “Ngài biết mình đang ở đâu không?”

“Tây Kinh.” Giọng tuy khẽ nhưng vẫn rõ ràng.

“Ngài đã uống thuốc gì?” Nàng hỏi tiếp, ngón tay không ngừng theo dõi mạch tượng. Lúc đó, thái giám hầu bệnh đưa ra bát thuốc còn sót lại mấy giọt nâu nhạt. Trúc Đào nhận lấy đưa lên miệng nếm, vị chát đắng lan ra đầu lưỡi xen lẫn một chút chua gắt khác thường. Nàng đang suy đoán các dược liệu trong bát thuốc thì chợt cảm giác bị ai đó nhìn, bèn ngẩng lên theo phản xạ. Gió lùa vào đẩy rèm sa khẽ lay, vùng sáng trên mặt vua di chuyển vừa vặn soi lên đôi mắt đang hướng về phía Trúc Đào. Gương mặt tái nhợt của bệ hạ làm nàng quên mất lễ nghi, không ngại ngần dùng cặp mắt của thầy thuốc mà nhìn thẳng long nhan, đoạn nắm bàn tay vua xoa một lúc rồi nói: “Sốt cao nhưng tay lạnh!”

Rèm mi ngài thoáng rung, chừng như đã nghe thấy lời nàng. Trúc Đào rời giường, đến bàn sách thảo ra một đơn thuốc cho vào ngực áo, dặn thái giám hầu bệnh: “Ông hãy dùng nước ấm lau người liên tục. Nửa canh giờ sau tôi mang thuốc đến.” Nàng rời đi, không bận tâm ngoài trời vẫn còn mưa rơi lất phất.

Trong gian nhà sau dược phòng, siêu thuốc trên bếp đã sôi lên mấy dạo bốc khói trắng. Trúc Đào đổ thuốc vào bát, đôi mắt cay xè vì thiếu ngủ nhìn ra sắc trời để đoán thời gian thì gặp Thanh Mai bước vào. Cô ấy quét mắt nhìn từ đầu đến chân Trúc Đào rồi chủ động đỡ lấy khay thuốc, nói: “Cô định cứ nhếch nhác thế này vào dâng thuốc à? Để tôi đi cho!” Trúc Đào được nhắc mới nhận ra y phục trên người đã từ ướt chuyển sang khô, lạnh lẽo và ám mùi khói bếp quả thật không tiện đến gần vua. Nàng cười xòa lấy ra đơn thuốc đã kê, dặn: “Thể chất ngài ấy hàn ẩm, không thể phối nhiều vị thanh nhiệt. Đây là đơn tôi đã kê, khi sư phụ trở về có hỏi thì cô hãy đưa ra.” Thanh Mai đón lấy đơn thuốc, đoạn đảo mắt qua lại một lượt rồi nói: “Có ấm trà gừng trong phòng, cô uống đi kẻo cảm lạnh!”.

Canh tư, mưa đá tan chảy tỏa ra luồng hơi lạnh lẽo bao phủ khắp hành cung. Trúc Đào uống ngụm trà gừng rồi cuộn người trong chăn, mắt lim dim hít thở trong hương trầm tỏa ra từ cây nến Thanh Mai mua được từ tay một thương buôn phương Bắc, giá đắt ngang với đường nâu nên bấy lâu vẫn chưa nỡ dùng. Cơn mộng mị ập tới tự lúc nào… Khi mở mắt lại, mặt trời đã nằm trên nhành liễu. Nàng cuống quýt bật dậy, tự trách mình sao ngủ say tới mức không nghe tiếng gõ canh. Giắt vội trâm gỗ lên tóc, Trúc Đào chạy đến ngự điện để xem tình hình. Lần này, không có người cấm vệ mở đường nên nàng chưa kịp đặt chân lên thềm đã bị chặn lại. Dù đã nói mình là y nữ tối qua bắt mạch cho vua, nhưng người thị vệ nghe xong liền híp mắt, giọng hồ nghi chất vấn: “Y nữ hầu bệnh suốt đêm qua vẫn còn bên trong, ngươi là ai mà nhận vơ như thế?”.

Bị phủi công, Trúc Đào ấm ức muốn cãi thì gặp Thanh Mai bước ra. Cô ấy nói với người thị vệ: “Tối qua đúng là y nữ này đã đến chẩn mạch, nhưng tôi mới là người hầu bệnh đến sáng!” Trúc Đào mặt nóng hừng hừng, cãi: “Nhưng tôi mới là người kê lại đơn thuốc…” Thanh Mai cứng cỏi đáp ngay: “Thì tôi đâu có tranh công! Nhưng cô đã ngủ cả đêm chứ đâu có tới đây hầu bệnh!”.

Trúc Đào sững người, không đủ lý lẽ để tranh công nhưng rõ ràng đang bị oan ức, nghĩ mãi không thông mình đã sơ suất ở đâu mà đánh mất cơ hội lập công hiếm có như vậy. Nàng quyết định đi tìm sư phụ Lê Hưu nhờ phân xử.

Bước qua cửa dược phòng, nàng chưa kịp đi tìm đã thấy Lê Hưu đứng phối thuốc trong quầy, thần sắc nhợt nhạt, đôi mắt thâm quầng chừng như đêm qua không được ngủ ngon. Trúc Đào không quên lễ nghĩa, mở lời thăm hỏi: “Sư phụ không khỏe à? Đêm qua bệ hạ sốt rất cao, ngự điện cho người đến tìm thầy nhưng không gặp…” Lê Hưu dùng đôi mắt trũng sâu nhìn học trò một cái rồi tiếp tục cân thuốc, đáp: “Ừ, thầy có chút việc nên đi vắng. Sáng nay đã cho Thanh Mai đi hầu bệnh rồi!”.

Sợ sư phụ về phe Thanh Mai, Trúc Đào vừa định trần tình thì có người bước vào. Đó là một thanh niên thân hình cao lớn, mắt to mày kiếm, vận bộ viên lĩnh đơn giản nhưng chất liệu thượng hạng rủ mềm, thoạt trông đã biết là giới quý tộc. Lê Hưu mặt biến sắc bước ra, tay nâng cao quá đầu định thi lễ nhưng bị ánh mắt của người đó ra hiệu dừng lại. Biết đây không phải là nhân vật tầm thường nên Trúc Đào cúi đầu nép trong một góc. Không gian im lặng chỉ nghe được tiếng thở nên nàng chợt hiểu mình không nên có mặt, bèn liền ngượng nghịu cáo lui. Chân vừa chạm thềm, sau lưng đã nghe tiếng cửa đóng sập lạnh lùng. Trúc Đào ngửa cổ nhìn trời, thở dài: “Sư phụ chọn cô ấy, mà bệ hạ tỉnh lại cũng chỉ thấy cô ấy…?”.

Không bỏ cuộc, Trúc Đào muốn giảng hòa rồi cùng Thanh Mai đi hầu bệnh để vớt vát lại chút công cán. Nhưng cô ấy đã dọn hẳn đến ngự điện nên có muốn mặt dày tiếp cận cũng không được. Tâm trạng nặng nề, bàn tay Trúc Đào chậm rì rì cọ rửa siêu thuốc ám khói, làm việc mà ánh mắt lửng lơ như kẻ mất hồn. Đột nhiên, lời bàn tán của các nữ y sinh lọt vào tai làm nàng phải chú ý. Họ nói Thanh Mai mát tay, bệ hạ khỏi cảm mạo rất nhanh và ước chừng chỉ trong ba hôm nữa là có thể lên thuyền về Đông Kinh. Ai cũng nói phen này Thanh Mai tiền đồ xán lạn. Riêng Trúc Đào thấy lạ, vì phương thuốc nàng kê ít nhất cũng phải năm ngày mới chữa khỏi cảm mạo, chưa kể phải phối thêm mấy thang điều dưỡng lại cơ thể hàn ẩm nữa, làm gì có chuyện mới qua hai ngày đã khỏe? Nàng quyết định: “Phải đi xem cô ta dùng thuốc gì mình mới phục được!”

Đêm xuống, hoa viên ít người qua lại nên xa xa mới có một chiếc đèn lồng. Dưới ánh sáng lờ mờ, Trúc Đào như con sóc nhỏ thoăn thoắt đi về phía cửa sau ngự điện, nơi Thanh Mai dùng làm chỗ sắc thuốc. Nàng kiên nhẫn nấp sau bụi nguyệt quế suốt buổi tối, căng mắt quan sát giờ giấc dâng thuốc, người ra kẻ vào. Liên tục ba ngày, cuối cùng phát hiện mỗi tối Thanh Mai đều lén ra bụi hồng gai sát góc tường để chôn bã thuốc. Ngay đêm sau, trời sụp tối cũng là lúc Trúc Đào xuất hiện nơi bụi hồng gai ẩm ướt bốc mùi chua ngai ngái. Nàng đào xuống chừng một tấc đất đã thấy được thứ mình muốn. Quả nhiên Thanh Mai dùng toàn vị đại bổ tính hàn để kích phát dương khí cấp tốc. Dùng một, hai lần lúc cấp bách còn được, chứ liên tục mấy ngày chẳng khác nào ép kinh mạch vốn yếu nhược phải gượng dậy, khác nào cây già rỗng ruột gặp bão lớn, không sụp đổ mới là chuyện lạ.

Hậu viện tối om, gió đêm lạnh lẽo nhưng Trúc Đào lại toát mồ hôi đầm đìa bởi ý nghĩ Lê Hưu hẳn phải biết thuốc đang sai, vì Thanh Mai mỗi ngày đều tới y viện lấy thuốc từ tay ông ta mà! Mơ hồ nhận ra mình vừa chạm vào một bí mật động trời liên quan đến mạng sống của bệ hạ, Trúc Đào nuốt nước bọt đánh ực, lảo đảo muốn trở về phòng trùm chăn lên đầu mà cẩn thận suy nghĩ. Nhưng khi quay lưng liền thấy một cái bóng cao lớn, đen sì từ đầu tới chân lù lù xuất hiện. Hắn nhanh như chớp kề lên cổ nàng thanh chủy thủ lạnh ngắt, đe dọa: “Đi theo ta, hét thì chết!” Trúc Đào vã mồ hôi, gật đầu lia lịa.

Đêm khuya sương dày, nội cung trở nên vắng vẻ. Nàng bị tên áo đen dắt đi trên con đường hẻo lánh dẫn đến cổng sau hành cung. Đây là dãy phòng khách đã cũ nên bị bỏ trống vài năm nay, vắng hơi người nên không gian lạnh lẽo ám mùi bụi bặm. Dừng lại trước căn phòng dưới gốc lim già, bên cạnh là một giếng cạn, người áo đen đẩy cửa thật nhẹ cốt sao cho tiếng kẽo kẹt không phát ra quá lớn, toàn thân hắn phút chốc chìm vào gian phòng tối mịt. Bị bỏ lại ngoài sân, Trúc Đào quên béng mình vừa bị kề dao vào cổ mà nhảy tới bám lấy hắn: “Chờ tôi!”.

Giật mình, hắn đánh rơi thứ gì đó xuống đất đánh “bộp” nên gắt gỏng: “Rơi mất con cúi rồi!” Nghe vậy, Trúc Đào ngồi thụp xuống nền đất để cùng hắn dò tìm, rồi thình lình chạm phải một bàn tay lạnh ngắt đang ngo ngoe cử động. Tưởng chừng tiếng hét của nàng sẽ đánh thức được cả hành cung, nhưng cuối cùng cái miệng há to đã bị bàn tay lạnh đó bịt chặt, chỉ phát ra tiếng “úm” gọn gàng. Biết mình chỉ vừa chạm vào tay hắn chứ không phải gặp ma, nàng liền thở phào, vai buông thõng nhẹ nhõm.

Hắn đóng cửa, thắp nến, ngồi đối diện Trúc Đào nhưng giữ khoảng cách để ánh sáng vẫn không rọi tới mặt. “Chẩn mạch!” Trúc Đào thực tâm không muốn giúp, nhưng thanh chủy thủ trên tay hắn hắt lên mặt nàng một vệt sáng lạnh lẽo còn đáng sợ hơn mọi lời uy hiếp. Nàng miễn cưỡng dò tìm mạch đập, trộm nghĩ không biết tên này là ai, có bệnh tại sao không đến y viện thăm khám mà phải lén lút thế này. Ngay lúc đó, từng nhịp đập hỗn loạn lúc mạnh lúc yếu khiến Trúc Đào rùng mình, tức khắc ngẩng đầu nhìn hắn không chớp mắt. Rồi nàng chụp lấy bàn tay lạnh đó mà không báo trước, hắn khẽ động đậy muốn rút lại nhưng cuối cùng vẫn cứ để yên. Lạnh! Cái lạnh bất thường mà quen thuộc làm Trúc Đào đứng bật dậy khỏi ghế, lưng áo rịn mồ hôi ướt đẫm. Hít một hơi sâu, nàng ngập ngừng: “Có phải công tử thường sốt về đêm, ngày ăn khó tiêu, đêm không ngủ yên. Da dẻ trông có vẻ hồng hào nhưng thực chất tay chân vô lực?” Hắn nhìn nàng hồi lâu, đoạn không đáp mà hỏi tiếp: “Vì sao lại như thế?”.

Đã đoán ra thân phận người này, Trúc Đào bất giác mắt hướng xuống đúng theo nghi lễ cung đình, nói: “Thể chất công tử là hàn ẩm, không nên vì nóng lòng muốn khôi phục mà uống thuốc bổ tính hàn dồn dập. Như vậy cơ thể sẽ như sao băng, rực sáng một lần rồi tắt lịm!” Nghe xong, người áo đen bước đến gần Trúc Đào, đủ gần để ánh nến một lần nữa dội lên gương mặt ấy nửa vùng sáng tối giống hệt đêm mưa đá mấy ngày trước. Hắn hỏi, mắt liếc xuống chiếc túi nhỏ trong ống tay áo, nơi giấu gói bã thuốc đào được: “Cụ thể là những vị thuốc nào không nên uống?” Trúc Đào bị thứ uy lực vô hình áp đảo, thành thật nói: “Huyền sâm, sinh địa, mạch môn, cam khương, ma hoàng… Nếu uống tiếp, e là trong mười ngày nửa tháng sẽ nội thương ngũ tạng, thất khiếu ứa máu, có khi… vong mạng!”

Người đó rất nhẹ giọng, chỉ có Trúc Đào vừa nghe đã thấy như sấm nổ bên tai: “Ngươi nhận ra Trẫm, đúng không?” Nàng lập tức quỳ rạp xuống: “Bệ hạ… sao ngài không tìm danh y khác? Nô tì… sợ!”

Trúc Đào cúi đầu sát đất, chỉ thấy cái bóng đen trải trên nền đất nhúng vai như cười cợt: “Ngươi dám đi tìm bã thuốc để điều tra sự thật mà lại sợ?” Lau mồ hôi lấm tấm trên trán, nàng lại nghe tiếp chất giọng trầm trầm, không giận mà tự uy: “Đêm đó ngươi kê lại đơn thuốc đúng thì hẳn không phải phe của chúng, chữa khỏi cho Trẫm, mạng ngươi sẽ giữ được!”

*

Đèn khuya leo lét, Trúc Đào lăn lộn trong chăn nghĩ cách hốt thuốc từ y viện sao cho Lê Hưu không hay biết. Không thể giả bệnh để xin kê đơn, cũng không thể trộm thuốc vì người canh giữ dược phòng cũng là Lê Hưu, làm sao mỗi ngày mất đi hai thang thuốc mà không biết chứ? Nàng vò đầu bứt tóc đến gần canh tư thì chợt thấy ánh sáng trong phòng yếu đi. Nhìn ngọn nến sáp ong chỉ còn chưa đầy một phân, nàng nói thầm: “Nến tẩm trầm hương Thanh Mai mua ở chợ!” Từng mảnh ghép vụn vặt xếp lại một cách có trật tự làm mắt nàng lóe sáng: “Phải rồi, ra chợ mua thuốc!”

Thư xin nghỉ phép của một y nữ tầm thường không làm bất kỳ ai nghi ngờ, Trúc Đào cầm thẻ bài xuất cung của mình bước ra khỏi tiểu môn dành cho người hầu. Đi khắp chợ lớn phủ Thanh Hoa, nàng đã chọn mua dạng dược hoàn (1*) cho dễ che giấu, vì y nữ mà đi mua thuốc nhiều sẽ bị lính gác cổng nghi ngờ. Xong việc, nàng định về cung thì nghe tiếng rao lơ lớ quen thuộc của người thương buôn phương Bắc. Nhớ tới loại nến thơm dễ chịu của Thanh Mai, nàng liền bước tới gánh hàng định chọn mua. Người thương buôn thấy Trúc Đào liền đon đả: “Tôi nhớ cô! Nến tẩm hương an thần bạn cô tặng lần trước dùng có tốt không?” Trúc Đào nghe máu trong người sôi lên: “Nến… an thần?”

Người thương buôn vuốt râu, đáp: “Phải, tháng trước vị cô nương kia muốn tặng quà bất ngờ nên dặn tôi không được nhiều lời! Sao? Chứng mất ngủ đã khỏi chưa?”

Trúc Đào nghiến răng nghĩ về ấm trà gừng và ngọn nến chết tiệt đêm mưa đá, dặn lòng sẽ có ngày trả lại thù này.

Trời sụp tối, Trúc Đào y hẹn mang thuốc đến dãy phòng khách bỏ hoang. Nàng pha xong ấm trà nóng thì có bóng dáng liu xiu bước vào. Ngài vẫn mặc áo đen, hông giắt chủy thủ như hôm trước nhưng ánh mắt và động tác không còn linh hoạt nữa. Trúc Đào vội dìu vua đến bên giường, theo thói quen kéo cổ tay bắt mạch. “Lại sốt!” Nàng nhanh chóng nâng cằm ngài lên trút dược hoàn vào miệng. Hơi thở bệ hạ phả vào lòng bàn tay nghe âm ấm, chợt có ý nghĩ kỳ lạ thoáng qua làm tim nàng thiếu mất một nhịp. Bốn mắt nhìn nhau, rồi có giọng rất khẽ lọt vào tai: “Nước!” Trúc Đào bừng tỉnh, lật đật đi rót tách trà mà hai má đỏ bừng.

Vua mệt nhọc tựa lưng vào gối, nét mặt tái nhợt đó làm nàng chua xót khó tả: “Bệ hạ, sao ngài không công khai trị tội Thanh Mai kê đơn sai? Tại sao vẫn cố uống thứ thuốc độc đó?”

“Bây giờ manh động thì chủ mưu sẽ hi sinh ngay mấy con tốt thí, Trẫm làm sao lôi hắn ra ánh sáng?” Vua lặng im hồi lâu để ổn định hơi thở, lại nói: “Ngươi nghĩ xem có cách nào tráo thuốc của Thanh Mai thành thuốc của ngươi cho Trẫm uống không?”

“Có!” Trúc Đào đáp ngay. Nỗi căm giận Thanh Mai dâng cao tới mức máu dồn hết lên đầu, giúp nàng nhanh chóng nghĩ ra một diệu kế!

*

Biết thời gian càng kéo dài thì bệ hạ càng phải uống nhiều thuốc độc, Trúc Đào dứt khoát hành động ngay đêm ấy. Chờ trời khuya sương dày, nàng ngâm mình trong nước lạnh, cửa sổ mở toang mặc cho gió lùa vào. Cứ thế, thân thể bé nhỏ run cầm cập trong thùng nước đến lúc gà gáy. Đúng với dự liệu, trời sáng thì Trúc Đào sốt cao nằm rên hừ hừ trên giường, Lê Hưu đến thăm rồi cho học trò nghỉ làm việc đến khi khỏi bệnh. Bóng lưng ông vừa khuất, nàng gượng dậy nghiền than củi mịn trộn đều với nước lá bàng già đun sôi để nguội rồi ngâm mình thêm một canh giờ. Buổi chiều, nàng tự uống thuốc làm cơn sốt dịu bớt, đoạn ngồi trước gương đồng ngắm làn da đã bị nhuộm thành nâu xỉn nhưng cảm thấy chưa đủ lạ mắt, nàng dứt khoát cắt phăng mái tóc dài lên tận ngang vai.

Sáng hôm sau, Trúc Đào tóc ngắn đến ngự trù nhận việc theo sắp xếp của thái giám tổng quản bên cạnh vua. Nàng cùng hai tì nữ ngự trù mang cơm sáng bước vào tẩm điện. Thanh Mai cũng có mặt và quả nhiên ả không nhận ra nàng trong bộ dạng da đen, tóc ngắn đến không thể búi mà phải buộc bằng chiếc khăn vải đơn sơ. Nàng mở nắp nồi canh bằng sứ, cố ý dùng thìa khuấy đúng ba vòng sao cho thìa cọ vào miệng nồi phát ra tiếng lột rột. Làm xong ám hiệu thì nhanh chân bước ra sau lưng người cung nữ hầu cơm để tránh bị Thanh Mai nhận ra. Lúc ấy, nàng không biết bệ hạ có nhận ra mình hay không, chỉ thấy ngài đột ngột phun hết ngụm thuốc vừa hớp rồi ho lên sặc sụa. Nhưng rất nhanh sau đó lại thản nhiên làm đúng theo giao ước, nói: “Để thuốc đấy, Trẫm muốn ăn trước!” Thanh Mai sợ không tận mắt thấy thuốc vào miệng vua nên chẳng muốn lui ra: “Như… Nhưng…!”

Lập tức, tia nhìn lộ vẻ phật ý đầy uy lực chiếu thẳng lên mặt khiến Thanh Mai cụp mắt lui ra. Trúc Đào hầu bệ hạ uống canh bổ, hai tì nữ kia được lệnh đi hâm nóng thức ăn dù món nào cũng còn ấm. Tranh thủ một khắc không có kẻ thứ ba, nàng nhanh tay đổ nước canh màu nâu nhạt ra bát, thoạt nhìn giống hệt với bát thuốc của Thanh Mai. Còn bát thuốc thật sự lại bị trút hết vào nồi canh hòa lẫn với thịt gà. Màn trộm long tráo phụng này có hơi mạo hiểm, nhưng quả nhiên Thanh Mai đã chứng kiến vua uống hết bát thuốc sau giờ cơm suốt ba ngày liền mà không hay biết. Ngày thứ tư, Trúc Đào theo thói quen định tráo bát thuốc thì ngoài cửa có tiếng thị vệ cố ý nói lớn: “Ô! Hôm nay thái y đích thân tới à?” Trúc Đào giật thót suýt chút đánh rơi bát sứ. Bệ hạ giữ được bình tĩnh đẩy nàng vào góc dưới long sàng, phủ rèm dày che lại. Ở vị trí đó, dù Lê Hưu có ngồi chẩn mạch thì ông ta cũng quay lưng về phía Trúc Đào nên không thấy được.

Lê Hưu cùng Thanh Mai bước vào, vua lại phải cầm bát thuốc kề lên miệng. Thấy ngài lại phải uống thuốc độc, Trúc Đào nép trong rèm siết chặt nắm tay, mắt ứa lệ. Thanh Mai đứng trong một góc, đảo mắt khắp phòng như đang tìm kiếm thứ gì, mãi đến khi vua đặt bát thuốc trống không xuống khay đánh “cộp” ả mới giật mình chỉnh trang tư thế. Còn Lê Hưu quả nhiên nhìn mâm cơm rồi lấy cớ kiểm tra thức ăn mà nếm thử. Thuốc chưa kịp tráo nên tất nhiên không có gì sơ hở. Trái tim trong ngực áo chưa ổn định được mấy nhịp thì lại đập loạn xạ khi Lê Hưu xin phép chẩn mạch cho vua. Mồ hôi trên trán chảy đầm đìa, nàng thầm than: “Chết, mạch tượng ổn định hơn nhiều nên ông ấy nghi ngờ rồi!”

Chợt nàng nghe bệ hạ gọi: “Lý Lăng!” Rồi cửa mở, một thị vệ cầm phong thư bước vào. Trúc Đào vừa trông đã không khỏi reo thầm: “Là thị vệ đêm đó đi gọi mình!”

“Vợ con ông nhờ Trẫm gửi thư báo bình an!” Người nói nhẹ giọng, nhưng vẻ mặt của Lê Hưu hệt như nghe sấm nổ giữa trời quang. Mảnh giấy trên tay ông ấy rung rung, mắt đỏ hoe lộ rõ quầng thâm hệt như khi Trúc Đào gặp ở dược phòng. Không biết trong thư viết gì, nhưng chiều hôm đó Thanh Mai không đến hầu vua uống thuốc nữa.

Đêm ấy cuối thu, gió nhẹ và mưa bụi ru Trúc Đào đi vào mộng. Đang ngủ, chợt nàng mơ hồ thấy nóng bức, ngực nặng như đá đè. Hé mắt trông ra thì lửa đã bén vào khung cửa sổ làm không gian rực sáng. Sau đó, nàng không tài nào mở mắt lên nổi nữa, chỉ nghe lẫn trong tiếng la hét gọi nhau cứu hỏa có giọng nói quen thuộc: “Nàng không được chết, ta muốn thấy nàng da trắng tóc dài như trước!” Nhưng cơn buồn ngủ ập đến mãnh liệt, chỉ tia ý thức cuối cùng báo cho nàng biết mình được ai đó bế lên…

Mi mắt động đậy mở ra một khe hẹp, ánh nến vàng, mùi đất ẩm bao trùm khiến Trúc Đào hốt hoảng bật dậy. Bên ngoài chấn song có ba người, một trong số đó là Lý Lăng. Gặp người quen, nàng mừng rỡ: “Sao tôi lại ở đây, có chuyện gì rồi?” Lướt mắt qua hai người cai ngục kia một lượt, Lý Lăng đáp: “Ngươi phạm tội kê thất trách làm cháy y viện. Bệ hạ ra lệnh tống giam chờ xét xử!”

Mặt đất chao đảo, Trúc Đào kêu oan khóc cạn nước mắt vẫn không được hồi đáp thêm bất cứ câu gì. Nàng tuyệt vọng nằm vật ra thở dốc. Khi ô cửa trên đỉnh đầu từ sáng chuyển qua tối, Trúc Đào mới nhận ra mình bị giam nhưng cơm ngon canh nóng, gối chăn dày dặn chẳng thiếu chi. Một niềm tin mơ hồ chợt len lỏi khiến lòng nàng dịu lại, yên tĩnh chờ nghe định mệnh sắp đặt.

Đầu đông se lạnh, Trúc Đào tỉnh giấc bởi tiếng dây xích lanh canh cọ xát vào nhau. Lý Lăng mở cửa ngục. Hắn im lặng mà nàng cũng chẳng hỏi, chỉ lặng lẽ cùng bước lên bậc thang nối liền hầm ngục với mặt đất, đôi mắt lâu ngày sống trong bóng tối vừa thấy mặt trời liền nhíu chặt. Khi quen với ánh sáng, Trúc Đào thấy mình đang đi trên lối phụ bên cánh tả hành cung. Cuối đường chính là sân chầu nối liền cổng lớn Đoan Môn và đại điện của hành cung Lam Kinh. Trước cổng là đoàn xa giá cờ phướn rợp trời, nàng chợt nhận ra mình đang mặc viên lĩnh màu trà, trùng khớp với váy áo của đoàn cung nữ xếp hàng dài bên trái ngự liễn (2*). Chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì Lý Lăng cưỡi ngựa ngay trước kiệu vua hô lớn: “Khởi giá!”

Đi được nửa dặm, thuyền rồng uy nghi đã thấp thoáng trên bến sông Chu. Trúc Đào đi theo đoàn cung nữ xuống thuyền. Lắm lúc, nàng liếc nhìn ngự liễn nhưng kiệu ấy có ba vách một cửa luôn đóng chặt, đến cái bóng của bệ hạ cũng chưa thấy được.

Hoàng hôn. Mặt trời đỏ ối là đà trôi theo thuyền rồng. Trúc Đào ngồi trong khoang dành cho cung nữ, lòng dạ nôn nao chờ đợi điều gì chính nàng cũng không rõ. Sau bữa cơm, có thái giám bước vào truyền: “Cho vời ngự tiền y nữ Thanh Mai!” Cái tên vừa được xướng khiến nàng giật thót nhìn quanh tìm kiếm, vì rõ ràng từ lúc xuống thuyền đến giờ cô ta chưa từng xuất hiện trong đoàn, sao bây giờ lại thành ngự tiền y nữ mất rồi? Đang mải nghĩ ngợi thì nàng bị vị thái giám trỏ vào mũi quở trách: “To gan, thánh thượng vời sao ngươi dám chậm trễ!”

*

Vị thái giám đưa Trúc Đào lên mui thuyền rồi lùi một khoảng rất xa, quay lưng đứng canh gác để nàng và vua trò chuyện. Con thuyền đầu rồng rẽ sóng lướt nhanh. Bệ hạ đứng dưới ngọn cờ, hoàng bào dài tung bay phần phật cùng chữ “Lê” trên quốc kỳ Đại Việt. Đôi mắt thiếu niên trong veo nhìn Trúc Đào như đang cười. Lồng ngực bỗng nghẹn, vạn lời muốn nói nhưng chỉ có bốn chữ bật ra: “Bệ… hạ, đã khỏe?” Ngài cười, nụ cười thật sự mà lần đầu nàng được thấy. Vua lấy mảnh khăn lụa, tay sắp chạm má nàng thì bỗng ngượng nghịu khựng lại. Trúc Đào cũng thẹn nên tự đón lấy khăn lau nước mắt. Đột nhiên, giọng bệ hạ trở nên chiều chuộng, mà Trúc Đào cũng thản nhiên đón nhận như thể mối quan hệ này đủ đặc biệt để không phải câu nệ thêm.

“Trẫm có lỗi, nên ngươi cứ hỏi đi. Điều gì có thể Trẫm sẽ nói hết!”

“Tại sao lại bắt giam nô tì?”

“Đêm đó Lê Hưu định gặp Trẫm để chỉ ra chủ mưu hành thích thì y viện phát hỏa, ông ấy chết cháy. Nếu từ đầu lộ diện chữa bệnh cho Trẫm thì nơi cháy to nhất là phòng của ngươi! Trẫm phải tách ngươi ra khỏi vòng xoáy!”

Trúc Đào lắp bắp: “Sư… sư phụ… mất rồi?” Vua khẽ gật, đoạn lại nói: “Lê Hưu vừa chết cháy, vợ con của ông ấy được Lý Lăng cứu về cũng đồng loạt trúng độc ngay trong căn viện bí mật của Trẫm. Rõ ràng, bên cạnh Trẫm còn có nội gián khác. Ngươi trung thành nên sớm muộn cũng bị sát hại. Ngươi ở ngục giam trong hành cung là tốt nhất!”

Trúc Đào nghe xong thì sững người, thời gian qua nàng oán trách sư phụ bất trung bất nghĩa, nào ngờ ông ấy cũng bị chủ mưu lấy vợ con ra uy hiếp mới phải làm vậy. Còn bệ hạ, thì ra ngài ấy cũng để tâm đến nàng, sợ nàng bị kẻ ác tổn hại… Chợt nhớ đến một người, nàng liền hỏi: “Thanh Mai, ả thì sao?”

“Ả nói chỉ nghe lời Lê Hưu để mong được nâng đỡ, ngoài ra không biết gì khác. Trẫm giam ở hành cung, cố tình canh gác sơ hở nhưng đến nay vẫn không bị diệt khẩu, nên có vẻ chủ mưu không biết đến ả. Vậy nên…” Vua dừng lại một chút rồi nheo mắt nhìn Trúc Đào: “Trẫm đã tung tin ngươi vong mạng trong hỏa hoạn, còn Thanh Mai có công phò tá nên phong ngự tiền y nữ ở lại bên cạnh Trẫm…”

Trúc Đào khẽ rùng mình: “phòng khi chủ mưu biết Thanh Mai, hắn sẽ thấy lạ rồi tiếp cận nô tì, manh mối vốn đứt sẽ được nối lại!” Vua gật đầu. Nàng nuốt nước bọt: “Sao bệ hạ lúc thì giam trong ngục để bảo vệ, lúc thì đẩy nô tì ra đầu sóng ngọn gió vậy?”

“Ở hành cung Trẫm ít thân tín, ngươi lại ở trong bóng tối nên khó lòng bảo vệ. Bây giờ, ngươi là ngự tiền y nữ của Trẫm, kẻ nào dám làm càn?”

Gió bỗng thổi mạnh, vải buộc tóc của Trúc Đào tuột ra bay xuống nước. Nàng lúng túng dùng tay vuốt gọn mái tóc đang bay loạn thì bệ hạ chủ động bước tới, rút khăn lụa lúc nãy ra khỏi tay Trúc Đào, đích thân cột gọn đuôi tóc ngắn cũn cho nàng. Chiếc cổ nhỏ nhắn bị ngón tay lành lạnh khẽ chạm, tim rung liên hồi, cả thân người nàng cứng đơ trước hành động thân thiết vượt mức tưởng tượng mà bậc đế vương có thể dành cho mình. “Về sau không được cắt tóc nhuộm da thế nữa, xấu xí quá!” Lời ngài nhẹ tựa gió thoảng, mang theo chút hương tình lẩn khuất. Nàng không dám tự mình đa tình rồi chuốc khổ ải, bèn dùng nghĩa quân thần để khuất lấp: “Bệ hạ nhân hậu mưu trí, nô tì sẽ dùng y thuật bảo vệ ngài bình an một đời!”

Ánh mắt vừa uy nghi vừa thân thuộc cứ bám riết không rời làm Trúc Đào e thẹn cúi mặt, má nóng rang. May sao, vị thái giám canh gác lúp xúp chạy đến giải vây cho nàng: “Bệ hạ, Lạng Sơn vương đến!”

Sóng vỗ mạn thuyền, lồng đèn lắc lư làm bóng dáng người đang bước ra trong khoang thoắt ẩn thoắt hiện, cuối cùng mới bước ra vùng sáng ngay trước mắt Trúc Đào. Gió đêm giữa sông Chu có lạnh cũng không bằng luồng khí vừa chạy dọc theo sống lưng nàng. Bởi, đối diện bệ hạ là vị vương gia có thân hình cao lớn, mắt to mày kiếm, mỗi cử chỉ đều gợi nhớ hình ảnh Lê Hưu khom lưng uốn gối trước vị khách lạ mặt trong dược phòng hôm ấy…

--------------

(1*) Dược hoàn: thuốc viên.

(2*) Ngự liễn: cách gọi cung đình của “kiệu vua”.

Ứng xử văn hoá trên môi trường số và Chung tay xây dựng môi trường văn hoá trên mạng

Ứng xử văn hoá trên môi trường số và Chung tay xây dựng môi trường văn hoá trên mạng

Baovannghe.vn - Sáng 22/5, tại TP.HCM, Cục Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ VHTT&DL) đã tổ chức Hội nghị phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hoá trên môi trường số; đồng thời ra mắt sáng kiến “Chung tay xây dựng môi trường văn hoá trên mạng”.
Dự thảo Điều lệ Công đoàn Việt Nam (Khóa XIV)

Dự thảo Điều lệ Công đoàn Việt Nam (Khóa XIV)

Baovannghe.vn - Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam dự kiến tổ chức cuối tháng 5/2026 tại Hà Nội. Báo Văn nghệ xin trân trọng giới thiệu Dự thảo Điều lệ Công đoàn Việt Nam (Khóa XIV).
PGS.TS, hoạ sĩ, đạo diễn, NSND Ngô Mạnh Lân giành giải “Thành tựu trọn đời - Hiệp sĩ Dế Mèn”

PGS.TS, hoạ sĩ, đạo diễn, NSND Ngô Mạnh Lân giành giải “Thành tựu trọn đời - Hiệp sĩ Dế Mèn”

Baovannghe.vn - Ngày 22/5, Báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN) đã tổ chức lễ trao Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn lần thứ 7 năm 2026
Khởi động “Cuộc thi Tài năng Diễn viên Kịch nói toàn quốc - 2026”

Khởi động “Cuộc thi Tài năng Diễn viên Kịch nói toàn quốc - 2026”

Baovannghe.vn - Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) vừa có thông báo về việc tổ chức “Cuộc thi Tài năng Diễn viên Kịch nói toàn quốc - 2026”.
Dự thảo Báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa XIII)

Dự thảo Báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa XIII)

Baovannghe.vn - Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Báo văn nghệ xin đăng tải toàn văn Dự thảo Báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa XIII).