Kính thưa Đoàn Chủ tịch!
Kính thưa Đại hội!
1. Qua 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia có nền kinh tế lạc hậu, phụ thuộc vào viện trợ, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô đứng thứ 32 thế giới, đưa Việt Nam vượt ngưỡng thu nhập trung bình thấp, trở thành nước có thu nhập trung bình cao1. Thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế đạt nhiều kết quả tích cực, mô hình tăng trưởng ngày càng dựa nhiều hơn vào hiệu quả sử dụng vốn, lao động, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong đó, những điểm nhấn nổi bật là:
Thứ nhất, năng suất lao động có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP ngày càng cao; Thứ hai, các ngành, lĩnh vực kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp thủy sản trong GDP giảm đáng kể, từ 46,3% năm 1988 xuống khoảng 11,8% vào năm 2025; tỷ trọng công nghiệp xây dựng và dịch vụ tăng nhanh, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành động lực tăng trưởng chính với tỷ trọng trong GDP năm 2025 lên khoảng 25%; Thứ ba, các khu vực kinh tế phát triển sôi động và ngày càng hiệu quả. Kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, định hướng phát triển của nhà nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển nhanh chóng, đã bước đầu hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Kinh tế tập thể, hợp tác xã tiếp tục có bước phát triển, tăng nhanh về số lượng, cải thiện về chất lượng, hình thành nhiều mô hình hợp tác xã hiệu quả, tăng cường tính liên kết. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục được phát huy, thu hút ngày càng nhiều các dự án đầu tư FDI chất lượng cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao vị trí của một số ngành sản xuất của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; Thứ tư, cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ chuyển dịch theo hướng tích cực, ngày càng phát huy tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương; liên kết vùng được chú trọng, từng bước xây dựng các hành lang kinh tế, vùng động lực, cực tăng trưởng nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế các vùng, các địa phương. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội. Kinh tế biển được thúc đẩy phát triển tích cực...; Thứ năm, các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế ban đêm, kinh tế chia sẻ... được quan tâm triển khai với nhiều cơ chế, chính sách mới được ban hành, tạo chuyển biến và kết quả tích cực, trong đó, đóng góp của kinh tế số vào GDP tăng từ 12,88% năm 2021 lên khoảng 14% năm 2025; Thứ sáu, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) gắn kết với khoảng 60 nền kinh tế chủ chốt ở khu vực và toàn cầu; có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện và Đối tác chiến lược với 26 nước, trong đó có tất cả các thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, các nước lớn. Công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự kết hợp với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu phòng thủ gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Thành tựu của công cuộc đổi mới đã tạo nên nền tảng phát triển to lớn cho đất nước trong những giai đoạn tiếp theo.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày tham luận tại Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: ĐH |
2. Tuy nhiên, nhìn lại quá trình đổi mới, phát triển từ năm 1986 tới nay, bên cạnh những kết quả to lớn đã đạt được cũng cho thấy nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém, đặc biệt là: Tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng và chưa đạt được các mục tiêu đề ra; có sự chênh lệch tương đối lớn giữa các vùng và địa phương; còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; tiềm năng của các khu vực, các ngành kinh tế còn rất lớn nhưng chưa được khai thác, phát huy hiệu quả; các động lực tăng trưởng như vốn đầu tư, năng suất lao động, đổi mới công nghệ... hiệu quả còn ở mức thấp hoặc chưa có những cải thiện rõ rệt; cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thực hiện các đột phá chiến lược chuyển biến còn chậm, chưa đi nhanh vào chiều sâu; các nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự bền vững... Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả, có mặt còn trầm trọng hơn, nhất là tại các đô thị lớn; khả năng ứng phó, giảm thiểu tác hại của thiên tai và biến đổi khí hậu chưa đáp ứng yêu cầu; công tác quản lý, hiệu quả sử dụng tài nguyên, khoáng sản, nhất là đất đai, nguồn nước và một số khoáng sản chiến lược chưa cao.
3. Để đạt được 2 mục tiêu 100 năm đã được đề ra tại Chiến lược phát triển 10 năm 2021-2030, cần phải khẩn trương tiếp tục tiến hành công cuộc đổi mới về kinh tế lần thứ 2 với tư duy đột phá và thực hiện đồng bộ, mạnh mẽ, quyết liệt, toàn diện hơn nữa để vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển thịnh vượng, giàu mạnh của đất nước. Yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững ở mức 2 con số trong giai đoạn tới đang đặt ra rất cấp bách, không thể chậm trễ nhằm tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình và thu nhập trung bình cao, hoàn thành các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045, đồng thời cũng là một thách thức lớn, bởi trong những giai đoạn trước đây Việt Nam chưa bao giờ đạt được tốc độ tăng trưởng như vậy. Tuy nhiên, chúng ta có đủ điều kiện, tiềm năng, dư địa và trí tuệ, quyết tâm để thực hiện mục tiêu này, cụ thể là: (i)- Hiệu quả chung của nền kinh tế còn thấp, nếu được cải thiện sẽ tạo được tăng trưởng đột phá; (ii)- Các khu vực kinh tế đều cho thấy còn nhiều dư địa để tăng trưởng. Trong nông nghiệp, nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như gạo, cà phê, rau quả, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản, gỗ và các sản phẩm từ gỗ... đều là các mặt hàng xuất khẩu thuộc tốp cao nhất trên thế giới song chủ yếu vẫn là các sản phẩm thô, thương hiệu còn yếu, giá trị gia tăng nhìn chung còn rất thấp, dư địa để khai thác chiều sâu và nâng cao giá trị gia tăng là rất lớn. Trong công nghiệp, công nghiệp chế biến chế tạo còn nhiều dư địa phát triển. Các ngành công nghiệp công nghệ cao có thị trường rộng lớn, nguồn nhân lực công nghệ thông tin dồi dào. Cùng với đó, Việt Nam có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng gió, năng lượng mặt trời. Trong lĩnh vực dịch vụ, tiềm năng từ du lịch còn rất lớn, chi tiêu của khách quốc tế tới Việt Nam còn ở mức thấp. Thương mại điện tử đang trên đà phát triển nhanh chóng, thuộc tốp tăng nhanh nhất khu vực và thế giới song quy mô thị trường thương mại điện tử mới đạt khoảng 25 tỷ USD, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với GDP...; (iii)- Nhiều nguồn lực, động lực mới cho tăng trưởng chưa được khai thác, phát huy một cách mạnh mẽ và hiệu quả, nhất là từ: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; công nghiệp văn hóa; các mô hình kinh tế mới; không gian phát triển mới của các địa phương sau sáp nhập; giá trị thương hiệu quốc gia và thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm Việt Nam... Đặc biệt là, nhiều việc trước đây tưởng chừng không thể thực hiện được hoặc thực hiện kéo dài nhiều năm chưa đạt kết quả, nhưng thực tế trong những năm gần đây cho thấy chúng ta đã thực hiện được và thực hiện được rất nhanh chóng, hiệu quả.
4. Bối cảnh trong nước và quốc tế đang đặt ra cho Việt Nam những thách thức to lớn, nhưng cũng tạo nên cơ hội quí giá để có thể tận dụng nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển và vươn lên mạnh mẽ. Từ tình hình trên, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương xin đề xuất một số giải pháp chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số trong giai đoạn tới, cụ thể như sau:
Một là, đảm bảo duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong cả trước mắt và dài hạn; đồng thời, cần có tư duy lấy phát triển để ổn định kinh tế vĩ mô. Xác định đây là giải pháp chiến lược trước tiên, trên hết phải được thực hiện và bảo đảm thường xuyên, liên tục. Trong đó, trọng tâm là kiểm soát lạm phát và kết hợp đồng bộ, hài hòa giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; hướng nguồn vốn vào các lĩnh vực ưu tiên chiến lược của nền kinh tế. Thúc đẩy mạnh mẽ và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời kiến tạo, khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới từ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, các ngành, lĩnh vực mới nổi, các không gian tăng trưởng mới.
Hai là, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, theo đó: (i)- Phát triển các ngành, lĩnh vực theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung vào các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ chất lượng cao, trình độ cao. Tăng đầu tư vào các ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp mũi nhọn và một số lĩnh vực ưu tiên như công nghiệp cơ khí, chế tạo; công nghiệp vật liệu; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản; phát triển các ngành kinh tế biển... Phát triển các ngành năng lượng và công nghiệp xanh, trong đó ưu tiên tập trung triển khai có hiệu quả các dự án điện, bảo đảm năng lượng quốc gia nói chung và đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp số và chuyển đổi số với trọng tâm ưu tiên ứng dụng AI và dữ liệu lớn vào sản xuất; phát triển các nền tảng IoT, blockchain để nâng cao hiệu quả sản xuất; thúc đẩy phát triển 5G và hạ tầng số; phát triển thương mại điện tử và tài chính số; thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới. (ii)- Phát huy cao nhất vai trò của các khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân. Nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước; tổ chức lại, giải thể các doanh nghiệp nhà nước yếu kém; tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa một số doanh nghiệp để dành nguồn lực từ cổ phần hóa tham gia đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng. Phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả, bền vững. Củng cố, hiện đại hóa các tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã. Hỗ trợ hiện đại hóa mô hình hợp tác xã theo hướng số hóa, liên kết chuỗi, tích hợp đa dịch vụ, gắn với vai trò của tổ chức nghề nghiệp, ứng dụng dữ liệu canh tác, logistics chung và truy xuất nguồn gốc. Phát triển kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, bảo đảm kinh tế tư nhân cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong tiếp cận cơ hội kinh doanh và các nguồn lực của nền kinh tế; khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển trong những lĩnh vực ưu tiên, đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tham gia vào các nhiệm vụ quan trọng, chiến lược của quốc gia và vươn tầm khu vực, thế giới... Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài để tăng nhanh tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, đầu tư R&D, phát triển chuỗi cung ứng trong nước, đào tạo nhân lực tại chỗ, xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo. (iii)- Phát huy vai trò dẫn dắt tăng trưởng của các vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng. Lấy quy hoạch là công cụ chủ yếu để tạo kết nối và thu hút, phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả theo các tín hiệu của thị trường; Lấy các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu thương mại tự do, đặc khu kinh tế, trung tâm tài chính quốc tế... làm cứ điểm chiến lược để tạo động lực phát triển cho các vùng và cả nước. Có chiến lược quy hoạch đồng bộ và đầu tư mạnh vào hạ tầng kết nối vùng. Có các cơ chế chính sách đặc thù để thu hút đầu tư vào các vùng động lực và cực tăng trưởng mới, thúc đẩy liên kết vùng theo mô hình "đa cực, liên kết, bền vững".
Ba là, khai thác hiệu quả các thị trường quốc tế, đẩy nhanh phát triển thị trường nội địa thực sự trở thành trụ cột vững chắc cho tăng trưởng. Tập trung khai thác thị trường với lợi thế quy mô dân số hơn 100 triệu người với tầng lớp trung lưu đang tăng rất nhanh và tận dụng giai đoạn dân số vàng không còn dài của Việt Nam để tăng tốc phát triển. Trong đó, tập trung phát triển hệ thống phân phối hiện đại và nâng cao năng lực của doanh nghiệp nội địa; mở rộng thị trường nông thôn và phát triển thương mại điện tử; thúc đẩy sản xuất trong nước, hạn chế phụ thuộc vào hàng nhập khẩu; khơi thông và phát triển thị trường bất động sản hiệu quả, bền vững. Tái cấu trúc chiến lược xuất khẩu, chuyển mạnh từ chiếm lĩnh thị trường bằng giá rẻ sang chiến lược xuất khẩu dựa trên thương hiệu, tiêu chuẩn cao và sản phẩm có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao; khai thác sâu lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các thị trường mới nổi.
Bốn là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn vốn, để phục vụ tăng trưởng ở mức cao từ cả 3 kênh đầu tư công, đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong đó, phân bổ và sử dụng vốn đầu tư công hiệu quả hơn; đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung vào các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia; áp dụng mô hình đấu thầu công khai, minh bạch, chống lãng phí để nâng cao hiệu quả đầu tư. Thúc đẩy đầu tư tư nhân và phát triển thị trường vốn, nhất là nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp; khuyến khích mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm, công ty công nghệ tài chính (fintech), trái phiếu xanh để huy động vốn dài hạn. Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao và tiết kiệm năng lượng.
Năm là, đẩy mạnh các đột phá về thể chế kinh tế; nguồn nhân lực; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và cơ sở hạ tầng làm nền tảng vững chắc để tăng trưởng nhanh và bền vững, cụ thể: (i)- Tập trung hoàn thiện thể chế để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và kiến tạo phát triển trong tất cả các lĩnh vực; coi đây giải pháp có tính chiến lược và là trọng tâm xuyên suốt của quá trình đổi mới về kinh tế, đóng vai trò quyết định trong việc tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và kiến tạo phát triển. Cần phải thực hiện đầy đủ, toàn diện và thực chất các nguyên tắc của kinh tế thị trường cùng với sự quản lý chặt chẽ, phù hợp của nhà nước để phát huy cao nhất hiệu quả hoạt động của nền kinh tế theo các quy luật của thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. (ii)- Tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao; thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên. Tập trung vào cải cách giáo dục, nâng cao kỹ năng lao động, phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ và thu hút nhân tài toàn cầu. (iii)- Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo xung lực mới và đột phá phát triển trong giai đoạn tới. Thực hiện toàn diện, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. (iv)- Đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là các hạ tầng chiến lược, hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Đẩy nhanh xây dựng các tuyến đường bộ cao tốc kết nối liên vùng, kết nối các cảng biển cửa ngõ quốc tế, các cửa khẩu quốc tế; các dự án đầu tư tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam, một số tuyến đường sắt kết nối quốc tế; xây dựng và mở rộng các cảng hàng không quốc tế; xây dựng các trung tâm logistics lớn; hình thành các cụm kinh tế biển đa ngành; phát triển hạ tầng đô thị đồng bộ, hiện đại, thông minh.
5. Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững dựa trên phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao tính độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế của nước ta, nhưng đồng thời phải gắn liền và bảo đảm quản trị tốt các rủi ro, nâng cao năng lực chống chịu và khả năng thích ứng, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái thời gian tới. Đây vừa là yêu cầu, đòi hỏi nhưng cũng vừa là phương châm, cách thức để Việt Nam có thể vượt qua khó khăn, thách thức và tận dụng được những cơ hội để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn phát triển sắp tới. Nhận thức sâu sắc yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới, với chức năng, nhiệm vụ được giao, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương sẽ tiếp tục nỗ lực, phát huy trí tuệ để cùng cả nước thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Trân trọng cảm ơn Đại hội!
_______
1 Quy mô GDP năm 2025 ước đạt 510 tỷ USD, đưa Việt Nam xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong ASEAN. Tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP năm 2025 đạt khoảng 1.760 tỷ USD, đứng thứ 25 toàn cầu. GDP bình quân đầu người tăng từ 3.552 USD (2020) lên khoảng 5.000 USD, (GNI bình quân đầu người đạt khoảng 4.750 USD).