Trong nhiều năm, phim lịch sử Việt thường đối diện với nghịch lý: nguồn chất liệu dồi dào nhưng ít tác phẩm được đầu tư quy mô lớn. Để tái hiện một giai đoạn quá khứ, nhà làm phim phải đồng thời giải bài toán về nghiên cứu lịch sử, phục trang, đạo cụ, bối cảnh và kỹ xảo. Chi phí lớn, trong khi yêu cầu về độ chính xác lịch sử và văn hóa càng khiến quá trình sản xuất phức tạp hơn.
Nhà sản xuất phim Nguyễn Trinh Hoan từng chỉ ra Việt Nam sở hữu bề dày lịch sử với nhiều nhân vật, sự kiện hấp dẫn, từ thời Trần, thời Nguyễn đến các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, rất nhiều đề tài để khai thác tạo ra sản phẩm giá trị, mang lại sự quan tâm từ công chúng. Tuy nhiên, để đưa chất liệu ấy lên màn ảnh đòi hỏi nguồn lực đáng kể cho việc dựng bối cảnh, phục trang, đạo cụ và phục dựng không gian lịch sử.
Những năm gần đây, các nhà làm phim Việt bắt đầu chấp nhận đầu tư lớn mặc dù mức độ rủi ro cao hơn. Một số dự án coi bối cảnh, hành động và phục trang là yếu tố quan trọng để tạo sức cạnh tranh.
Sau khi ra rạp, Mưa đỏ tạo hiệu ứng phòng vé đặc biệt, vượt 100 tỷ đồng sau ba ngày, đạt gần 714 tỷ đồng khi kết thúc hành trình chiếu rạp. Thành tích này cho thấy câu chuyện chiến tranh, lịch sử không mặc nhiên là dòng phim khó tiếp cận số đông.
Tuy nhiên, sức hút của Mưa đỏ không chỉ đến từ đề tài. Tác phẩm xây dựng từ câu chuyện cụ thể, tập trung vào những người lính trẻ trong lát cắt của trận chiến, thay vì biến toàn bộ sự kiện lịch sử thành “bài trình bày” trên màn ảnh. Kịch bản dành nhiều trọng tâm cho số phận con người và mối quan hệ trong chiến tranh.
Từ đây, một vấn đề được đặt ra: lịch sử cung cấp chất liệu, nhưng cách kể mới quyết định sức hút bộ phim.
Nếu Mưa đỏ cho thấy phim lịch sử có thể tạo sức hút thương mại, Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh lại đưa ra phép thử khác.
|
Ra rạp từ ngày 28/8/2026, bộ phim lấy cảm hứng từ truyền thuyết về 7 tráng sĩ nhận nhiệm vụ đưa 99 cỗ quan tài của vua Đinh Tiên Hoàng theo nhiều hướng khác nhau. Từ chất liệu ấy, tác phẩm kết hợp yếu tố huyền sử, phiêu lưu, võ thuật...
Phim được đầu tư quy mô lớn, có bối cảnh cổ trang, hành động và sự tham gia của nhiều diễn viên được chú ý. Kinh phí chính thức không được công bố, nhưng được ước tính khoảng 100 tỷ đồng. Tuy nhiên đến ngày 26/9, doanh thu mới đạt hơn 38 tỷ đồng. Trước đó, nhà sản xuất Ngô Thị Bích Hạnh thừa nhận sức bán vé không như kỳ vọng và cho biết số phận của phim cuối cùng nằm trong tay khán giả.
Nhìn vào trường hợp này, điều đáng bàn không chỉ là quy mô đầu tư, vấn đề đặt ra, vì sao một bộ phim hội tụ nhiều yếu tố có khả năng gây chú ý vẫn chưa thể chuyển hóa thành sức hút phòng vé.
TS Trần Hoài, Bộ môn Di sản học, Khoa Các khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội, ghi nhận nỗ lực của ê-kíp ở yếu tố văn hóa, đặc biệt là bối cảnh, ánh sáng và phục trang. Đoàn phim đã khảo sát thực địa tại Ninh Bình, làm việc với người nghiên cứu và thực hành Việt phục. Tuy nhiên theo ông, những yếu tố ấy chưa đủ nếu bộ phim thiếu một câu chuyện có khả năng kết nối với người xem.
Đây cũng là vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn khi điện ảnh Việt bước vào giai đoạn mạnh dạn đầu tư cho các dự án lịch sử. Một bộ phim có thể tái hiện thành quách, phục dựng trang phục, dàn dựng màn giao đấu quy mô… Nhưng tất cả yếu tố ấy khó tạo nên giá trị điện ảnh nếu nhân vật chưa đủ sức thuyết phục, câu chuyện thiếu trục dẫn dắt rõ ràng. Khi đó, quy mô đầu tư dù lớn đến đâu cũng chưa chắc chuyển hóa thành sức hút trên màn ảnh.
Một trong những thách thức của phim lịch sử nằm ở ranh giới giữa tái hiện và sáng tạo. Nếu lệ thuộc vào tư liệu, bộ phim dễ trở thành bài minh họa lịch sử. Ngược lại, hư cấu quá mức có thể khiến tác phẩm xa rời nền tảng lịch sử và văn hóa.
Tại Hội thảo Phát triển sản xuất phim khai thác đề tài lịch sử và chuyển thể từ tác phẩm văn học trong khuôn khổ Liên hoan phim quốc tế Hà Nội lần VII, đạo diễn Charlie Nguyễn phân biệt hai dạng “sự thật” nhà làm phim cần quan tâm. Một là sự thật thực tế về nhân vật lịch sử được nói đến, nơi chốn, thời điểm và sự việc... đây là câu chuyện đã được ghi lại trong chính sử và không thể chối cãi.
Hai là “sự thật về tinh thần”, là hành trình về tâm lý, đấu tranh nội tâm diễn ra bên trong nhân vật. “Đây là những thứ không có trong lịch sử, là trách nhiệm của người làm phim trong việc cài cắm ý nghĩa, thông điệp, kết nối với cảm xúc khán giả, chứng minh họ cũng chỉ là con người”, đạo diễn nói.
Điều này càng đáng lưu ý với phim huyền sử, khi chất liệu vốn nằm giữa lịch sử, truyền thuyết và hư cấu. Vì vậy, điện ảnh không nhất thiết phải tái dựng nguyên trạng câu chuyện được truyền lại, nhưng sự hư cấu cần được đặt trong cách kể có cơ sở và đủ sức thuyết phục.
Ngoài ra, bối cảnh cũng là bài toán không đơn giản. Tại tọa đàm Điện ảnh và di sản - Từ ươm mầm tài năng đến phát triển công nghiệp sáng tạo do Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam và Trung tâm Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám phối hợp tổ chức gần đây cho thấy bài toán này phức tạp hơn việc có phim trường lớn hay không. Việt Nam sở hữu nhiều di tích, cảnh quan và không gian văn hóa có giá trị, nhưng không thể mặc nhiên trở thành trường quay. Đoàn phim phải tính đến việc bảo vệ công trình, hạn chế thiết bị, con người, đạo cụ và các hoạt động có thể ảnh hưởng đến di tích.
Hộ linh tráng sĩ là một ví dụ. Nhà quay phim Nguyễn K’Linh chia sẻ khi quay tại Thung Nham, ê kíp xác định nguyên tắc “nương theo yêu cầu của di sản”, phối hợp với ban quản lý và chuyên gia để xác định những gì có thể điều chỉnh và những gì phải giữ nguyên.
Mưa đỏ lại chọn phương án phục dựng. Thay vì đưa các cảnh cháy nổ vào Thành cổ Quảng Trị, ê-kíp xây dựng trường quay cách di tích khoảng 4km. Đạo diễn Đặng Thái Huyền cho biết việc khảo sát thực tế giúp đoàn phim nhận thức rõ giá trị và tính chất linh thiêng của di tích, từ đó lựa chọn phương án không gây tác động đến địa điểm gốc.
Như vậy, bối cảnh thật, trường quay phục dựng hay kỹ xảo đều có thể trở thành lựa chọn của điện ảnh, tùy thuộc vào yêu cầu từng cảnh quay. Điều quan trọng hơn là lựa chọn nào phục vụ tốt cho câu chuyện, đồng thời tôn trọng giá trị nguyên bản.
Từ góc nhìn này, câu chuyện về một “đại phim trường” ở Việt Nam được nhìn rộng hơn. Tại tọa đàm, nhiều chuyên gia đặt vấn đề về nhu cầu xây dựng không gian phục vụ riêng cho phim lịch sử, trong đó Hoành Điếm của Trung Quốc được đưa ra như mô hình tham khảo. Tuy nhiên, phim trường lớn chỉ giải quyết một phần bài toán. Điện ảnh còn cần nhân lực, công nghệ, quy trình sản xuất và cơ chế phối hợp với các đơn vị quản lý di sản.
Theo TS Trần Hoài, không nên vì một bộ phim chưa đạt kỳ vọng mà các nhà làm phim hoặc nhà đầu tư trở nên e ngại với đề tài lịch sử. Việt Nam có nguồn chất liệu phong phú. Nếu được khai thác phù hợp, đây có thể là nguồn chất liệu quan trọng cho điện ảnh và công nghiệp văn hóa. “Tôi vẫn hy vọng các nhà làm phim và nhà đầu tư tiếp tục mạnh dạn đầu tư cho phim lịch sử. Bởi những bộ phim như vậy không chỉ có ý nghĩa đối với điện ảnh hay công nghiệp văn hóa, mà còn có thể giúp thế hệ trẻ tiếp cận lịch sử theo cách gần gũi và sinh động hơn.”
TS Trần Hoài cho hay, qua trường hợp Hộ linh tráng sĩ, chúng ta cũng cần nhìn lại cách kể chuyện. Khán giả không chỉ chờ đợi bộ phim có bối cảnh đẹp, trang phục đẹp hay màn võ thuật được đầu tư. Họ cần câu chuyện đủ sức chạm tới cảm xúc và khiến họ cảm thấy mình đang thực sự bước vào câu chuyện lịch sử.
Vì vậy, vấn đề không nằm ở việc có nên tiếp tục làm phim lịch sử hay không, mà làm thế nào để chất liệu, câu chuyện lịch sử ấy trở thành tác phẩm điện ảnh hấp dẫn. TS Trần Hoài hy vọng các nhà làm phim sẽ tiếp tục tìm tòi, đầu tư và kể câu chuyện đó bằng ngôn ngữ điện ảnh phù hợp với khán giả hôm nay.