Công đường phủ Thường Tín vừa được dựng tạm bằng tre nứa trên khoảnh đất rộng đối diện với cổng chợ. Trước cổng công đường, hai lá cờ đại ngũ sắc, hình vuông, bay phần phật ngạo nghễ trước gió. Một lá cờ ở giữa đỏ như máu. Lá kia đen như bùn.
Mai là phiên chợ chính.
Vào giờ Ngọ, trước đông đảo dân chúng, phó tổng Đặng Văn Mai và đồng bọn sẽ phải đền tội.
Cả tổng Tín An xôn xao bàn tán.
Ba ngày trước, Mai còn rung đùi cười khẩy trong nhà giam. Kẻ nào dám đụng một sợi lông chân của hắn chứ. Bất quá cho hắn thôi chức phó tổng và nộp phạt là cùng!
Họ Đặng giàu có và quyền thế nhất phủ.
Cha Mai có công với triều đình khi Nguyễn Ánh đem quân ra Bắc diệt Tây Sơn. Ông mất trong đám loạn quân ngày khải hoàn. Chú họ của Mai làm quan to ở kinh thành. Còn chị gái là thiếp yêu của Cai bạ trấn Sơn Nam.
Mai từ nhỏ chỉ biết ăn chơi lêu lổng, không chịu học hành. Lớn lên theo chị buôn bán đủ nghề từ lá chít, chổi đót đến thóc giống, bã hèm nghề gì cũng thạo. Từ ngày chị Mai làm thiếp quan Cai bạ trấn Sơn Nam việc buôn bán của Mai càng lúc càng phát. Nhờ bóng chú, dựa thế chị, Mai giàu lên nhanh chóng. Rồi kiếm một chức quan nhàn làm cảnh chơi.
Chỉ là phó tổng, nhưng Đặng Văn Mai có hẳn một ngôi biệt phủ to vật vã ở Lưu Khê, chẳng khác chi dinh thự của các công hầu. Mai là kẻ ngỗ ngược xấc láo, ỷ quyền thế làm bao điều càn bậy với dân, bất chấp phép nước. Ngày giỗ cha, Mai ngang nhiên cho người đào chân đê bắt cá. Lý trưởng Lưu Khê nhắm mắt làm ngơ. Dân có kẻ phát giác bèn làm đơn báo lên tri huyện. Quan phụ mẫu ăn của lót tìm cách bao che, còn đổ lỗi cho dân không chịu kè đập giữ đê. Liền đó sức về Lưu Khê lệnh cho kẻ kia đi phu. Dân thấy vậy lắc đầu ngao ngán.
Năm Canh Dần 1830, Bắc Thành lụt to chưa từng có. Đầu mùa thu, mưa to tầm tã suốt mấy ngày đêm xuống hạ giới. Nước đầu nguồn ào ào chảy xuống liền. Mưa xối xả như có ai cố ý mở cổng trời trút nước khiến mực nước các sông đều lên nhanh. Những con đê dọc theo sông Nhị oằn mình trước sức cuồn cuộn chảy xiết của những con nước. Đê Lưu Khê chẳng mấy chốc bị vỡ khiến cả một vùng hạ lưu Sơn Nam ngập chìm trong bể nước. Người chết. Nhà sập. Mùa màng mất trắng. Dịch bệnh khắp nơi. Dân chúng đói khát. Đê chính Lê Đại Cang và Nguyễn Văn Khoa, các viên trấn phủ huyện sở tại cùng với Phó tổng trấn Bắc Thành là Phan Văn Thuý đều bị giáng cách theo bậc khác nhau.
Cuối thu, khúc đê vỡ đã được đắp lại vững chãi, vua xuống chiếu phục chức cho tất cả các quan. Lòng dân kinh hãi như vừa trải qua một cuộc chiến tang thương.
Giờ Ngọ ngày mai xử vụ án vỡ đê Lưu Khê!
Đê điều và lũ lụt ở Bắc Thành bao đời nay luôn là nỗi lo thường trực của các vương triều.
Thời nhà Lý, các vua phải cho đắp đê trong và ngoài kinh thành vì thường xuyên bị lũ lụt đe dọa. Con đê đầu tiên có nhiệm vụ bảo vệ Thăng Long chính là đê Cơ Xá, được đắp vào năm Mậu Tý (1108). Dù vậy, mùa hạ năm Tân Sửu (1121) nước lụt lên to tràn vào đến ngoài cửa Đại Hưng.
Thời nhà Trần, lũ lụt cũng liên miên. Có năm, cả kinh thành lụt trắng khiến các quan phải đi thuyền vào Thăng Long chầu vua. Nước lụt có năm còn phá vỡ cả thành Đại La. Năm Bính Thân (1236), vỡ đê, nước ngập cung Lệ Thiên. Hai năm sau, đê lại vỡ, nước ngập cung Thưởng Xuân. Năm Mậu Thân (1248), vua Trần Thái Tông phải cho đắp đê Đỉnh Nhĩ từ đầu nguồn ra đến biển, để khắc chế sức tàn phá của Nhĩ Hà, tức sông Nhị.
Thời nhà Lê, dù có hộ đê nhưng lũ lụt vẫn là nỗi ám ảnh kinh hoàng. Cung vua thường bị ngập lụt. Năm Tân Hợi (1491), điện Kính Thiên nước ngập đến hơn hai thước. Năm Canh Ngọ (1630), nước chảy trên đường phố Cửa Nam như thác, dân chúng nhiều người chết đuối. Sông Nhị vào mùa lũ dữ dằn như con giao long cuộn sóng khiến ai nấy thảy đều kinh sợ.
Sông Nhị là sông xung yếu của Bắc Thành.
Đầu nguồn có bốn sông Thao, Đà, Lô, Đáy cùng hợp lưu tại Bạch Hạc. Nước đầu nguồn lúc nào cũng lên đột ngột nhưng sông Nhị cong cong như vành tai, lại uốn mình làm dáng khi qua Thăng Long nên nước thường không chảy kịp.
Chia nước cho sông Nhị chảy ra biển có Hát Môn bên hữu, có Nguyệt Đức và Thiên Đức bên tả. Các sông này hoặc bị cát bồi hoặc lòng sông nông choèn hoặc ngoằn ngoèo dễ tắc. Cho nên năm nào Thăng Long và Tứ trấn cũng chìm trong lũ lụt.
Đắp đê vì thế luôn được xem là chính sách an dân hàng đầu thời Nguyễn.
"Làm vỡ đê bị tội rất nặng, có thể chém bêu đầu giữa chợ.
Thự Hữu Tham tri Hình Bộ lĩnh Đê chính kiêm Bắc Thành Hình tào Lê Đại Cang vừa từ Sơn Nam trở về, đang ngồi lặng lẽ bên án thư.
Đê Lưu Khê đã được đắp lại, gia cố chắc chắn bằng cọc tre. Mực nước sông Nhị mấy ngày qua có lúc lên cao đến hơn chín thước mà đê vẫn vững chãi. Đê đã yên nhưng lòng Cang còn lắm nỗi niềm.
Từ ngày lĩnh Đê chính, Cang lúc nào cũng bận rộn. Hết đắp đê đến gia cố chân đê bằng cọc tre. Hết nạo vét sông Hát Môn, sông Nguyệt Đức đến nắn dòng chảy sông Thiên Đức để lũ thoát nhanh về hạ lưu. Cang còn cho thống kê tất cả đê công đê tư của cả Thăng Long và Tứ trấn to nhỏ thế nào, nguy cơ sạt lở dẫn đến vỡ đê ra sao, đã sửa chữa đắp lại năm nào làm thành một cuốn tổng kê đệ trình lên vua Minh Mạng. Cả một hệ thống đê điều Bắc Thành lần lượt được gia cố đắp lại vững vàng.
Vì đê chính, Cang mấy lần được thăng thưởng, nhưng cũng bao phen bị án cách lưu, thu hết bằng sắc. Trên thư án, một giọt nến hồng nóng rực vừa run rẩy lăn xuống.
Bức thư còn thơm mùi mực của Cai bạ trấn Sơn Nam nằm lặng trong tay Cang. Bên cạnh là món quà gửi ra từ kinh thành.
Lời thư nhẹ nhàng nhưng đầy ẩn ý, dù khiêm nhường nhưng rất khẩu khí của kẻ có chức trọng quyền cao.
Thư đôi đoạn tỏ vẻ đau đớn như người mẹ hiền suýt mất đứa con dại khiến Cang vô cùng khó chịu. Cha Mai có công với nước Mai lại là con trai độc nhất. Liệu có thể xem hành động đào đê của Mai là tham lam, là vô tình như gợi ý của Cai bạ trấn Sơn Nam? Mai cũng đâu phải là kẻ đã cầm cuốc đào đê?
Nhưng...
Đê vỡ đã đắp lại rồi, liệu lòng dân có vững? Thật là trăm mối tơ vò!
Tiếng trống báo sang canh rớt nhịp lẻ loi.
Trăng mang mang sông Nhị
Thuyền nhẹ nhẹ tách bến xuôi dòng
Lần nào đi thuyền trên sông Nhị, lòng Cang cũng thấy lạ lẫm như thể mười hai năm làm Thiên sự Bộ binh rồi hơn ba năm nay sống trọn vẹn với đê điều ở Bắc Thành không đủ để Cang hiểu và cùng cảm với nó. Ôi con sông hiền lành, đôi đoạn đẹp đến hoang dại vào mùa khô bỗng chốc dữ dằn, khó tính vào mùa lũ. Phải chăng, sông hiền hay dữ là tại tình người nết đất như người thiếp yêu của Cang, quận chúa Lê Ngọc Phiên, đã từng nói ngày mới quen nhau? Lần này cũng vậy Cang thấy mình trẻ dại như sông, lòng cứ muốn ùa theo từng con sóng xa bờ.
![]() |
| Hình ảnh minh họa. Nguồn pinterest |
Thăng Long mờ mờ ảo ảo trong sương, đẹp sững sờ khách đa tình.
Ánh trăng lấp lánh lấp lánh, từng gợn sóng như rắc bạc theo từng nhát chèo và dường như sáng hơn cùng với tiếng ngâm thơ trong trẻo của Lê Ngọc Phiên:
Trong đêm giục giã đường hoàng hoa,
Áo cũ ngựa gầy qua Nhĩ Hà.
Thành quách mơ hồ sương biếc tỏa
Làng quê thăm thẳm trắng mây xa
Lòng hăng hái thử qua ngàn sóng
Ý biệt còn say nửa chén ngà
Rất đổi đoạn trường không cản được
Là khi đuốc sáng lung linh qua
Hay, hay quá. Có phải là bài thơ Đêm qua sông Nhị, một tuyệt phẩm của Hải Ông đó chăng? Lê Đại Cang bất giác thốt lên.
Dạ vâng. Là Dạ Độ Nhĩ Hà của Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn, Lê Ngọc Phiên cười nụ.
Nghe đồn khi đi sứ, lúc rượu đã ngà ngà say, Đoàn tiên sinh đã ngẫu hứng phóng bút chép một bài thơ lên vách Hoàng Hạc Lâu. Nét chữ như rồng bay phụng múa, lời thơ như nhả ngọc phun châu, khiến ai ai cũng lấy làm kinh dị ngỡ là thần tiên giáng thế. Đoàn Tiên sinh còn có mấy mươi bài vịnh cảnh mùa thu Yên Kinh tuyệt hay khiến bọn văn nhân thi sĩ nhà Thanh và đoàn sứ Triều Tiên thảy đều nể phục.
Đúng vậy, thật là sảng khoái. Chàng thấy đó, tất cả thi phẩm của Đoàn tiên sinh đều là tuyệt tác, đáng lưu danh hậu thế. Tiếc là ....
Tiếc là, văn chương nghệ thuật thời ngụy dù bất hủ đều bị đốt sạch, cấm tiệt. Giọng Lê Đại Cang ngùi ngùi. Đặng tiên sinh thầy ta từng nhắc đến họ Đoàn với lòng ngưỡng mộ.
Dân chúng Bắc Hà còn cất giữ khá nhiều bài thơ về Thăng Long của Đoàn tiên sinh dù bị cấm đoán. Cha thiếp cũng thường ngâm thơ ông ấy và lần nào cũng tấm tắc khen hay.
“Thánh hiền sao nước nghìn năm vững. Nhân bạo tồn vong nửa ván cờ”. Giọng nói của Lê Đại Cang chợt trầm hẳn xuống. Ta từng nghe dân chúng quanh gò Đống Đa hát và về chiến tích Tây Sơn mỗi khi tết đến với giọng hào sảng không chút sợ hãi e dè. Phải chăng lòng dân mới chính là nơi lưu giữ tốt nhất những tinh hoa thời đại?
Ánh trăng chợt sáng rực một góc sông. Dường như câu hỏi của Cang vừa chạm thấu trời cao.
Có tiếng kêu cứu không xa phía hạ nguồn.
Lê Đại Cang vội cho tả hữu chèo gấp. Tiếng kêu cứu mơ hồ chìm trong tiếng gió u u, lẫn trong tiếng sóng vỗ voàm vạp vào mạn thuyền. Hình như Cang nghe nhầm. Sông Nhị cuối thu cuồn cuộn phù sa, nước mênh mông không thấy bờ. Không một bóng chim tăm cá. Thuyền bỗng chòng chành như mắc kẹt giữa dòng không thể chèo thêm nữa. Lê Đại Cang bèn cho thuyền cập bờ.
Có ánh đèn le lói không xa phía trước mặt. Một căn lều nhỏ bé, hình như lều chăn vịt, đứng trơ trọi trên triền đê.
Không ngờ dân chúng còn có người cơ cực như vậy. Làm quan chăn dân để con dân đói rách lầm than, thật là hổ thẹn.
Lời nói của Cang nhẹ như một cơn gió heo may tan nhanh vào giữa run rẩy mờ mịt bóng đêm.
Đó là một căn nhà mái rạ, trông nhỏ nhoi xiêu vẹo; mỏng mảnh như thể chỉ cần một cơn gió nhẹ nó dễ dàng đổ ập xuống. Một bà lão ốm như que củi, tóc bạc phơ đang ngồi lặng sau một chiếc bàn đá hình mai rùa, chiếc đàn nguyệt đặt ngay ngắn trên đùi như đang thổn thức đợi tri âm. Bọn Cang vừa bước qua cổng rêu, bà lão liền ôm lấy đàn, vừa khảy vừa hát:
Hồng, Hồng, Tuyết, Tuyết
Mới ngày nào chửa biết cái chi chi
Mười lăm năm thấm thoát có xa gì!
Ngoảnh mặt lại, đã tới kỳ tơ liễu...
Đàn đứt dây giữa chừng
Tiếng ngân ai oán đứt đoạn
Lê Đại Cang rùng mình như vừa có một cơn gió bấc nhói qua tim.
Ông đưa tay ra hiệu mọi người đợi bên ngoài, rồi cùng Lê Ngọc Phiên lặng lẽ bước qua cửa, khẽ nghiêng người chào bà lão. Bà lão vẫn ngồi bất động, chỉ có chiếc bóng nhỏ bé chập chờn trên vách lá. Đôi mắt bà thăm thẳm bóng tối.
Hình như bà đã mù.
Bà cất tiếng nói.
Tiếng nói trầm nhỏ và âm âm như từ nơi xa xăm đâu đó vọng về.
Thời buổi quan lại vô cảm với nỗi khổ cực của dân, đến thăm dân mùa lũ còn sợ lấm gót, quan lớn lại tới thăm căn lều rách của lão, thật là quý hóa quý hóa.
Dám hỏi lão bà, con cháu bà đang ở đâu, sao bà phải sống một mình ở nơi đồng không mông quạnh thế này? Cang quỳ xuống bên chiếc bàn đá hình mai rùa, khẽ cầm lấy bàn tay nhăn nheo của bà lão, giọng xúc động.
Xóm làng đã tan hoang sau đợt lũ vừa rồi. Đê vỡ nhà sập, các con ta đều theo thủy thần sông Nhị, ta còn biết nương tựa vào đâu?
Từng lời từng ý thản nhiên như không, lạnh lùng như một vết cứa qua tim Cang.
Lê Đại Cang và Lê Ngọc Phiên lặng lẽ đưa mắt nhìn nhau.
Lo nghĩ về người chết chỉ thêm đau lòng thôi bà ơi, chi bằng lo cho người còn sống. Đê Lưu Khê đã được đắp lại vững vàng, sông Nhị đã yên, mong bà trở về làng cũ để xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau, chẳng tốt lắm ư? Lê Ngọc Phiên nghẹn ngào muốn khóc.
Dân đói không lấy gì ăn, còn giúp được ai. Bọn tai to mặt bự chỉ lo bòn rút của dân, bao che lẫn nhau. Ta về để làm gì hử quan Đê chính?
Bà lão nói xong bất chợt cười một tràng dài. Tiếng cười nghe rợn cả gáy. Dứt tiếng cười, bà ôm mặt khóc hu hu ba tiếng.
Căn nhà bỗng rung lắc dữ dội. Chiếc bàn đá biến thành một con rùa trắng. Bà lão vụt đứng dậy, bóng to lớn như một vị thần, tay phất nhẹ cây phất trần vào ngực Cang rồi biến mất.
Lê Đại Cang giật mình thức giấc, mồ hôi ướt đẫm lưng.
Lòng Cang xao xác như cánh đồng vừa qua một cơn lũ lớn.
Nắng mai đã lên qua song thưa.
Lễ tam sinh đã chuẩn bị xong.
Miếu Hà thần vừa mới cất lại trên đoạn đê Lưu Khê bị vỡ không xa. Nước sông dờn dợn. Bên dưới gốc đa cạnh miếu, nắng trổ hoa chấp chới như những mặt người chết trôi. Cang quỳ xuống thành tâm tạ ơn thần đã phù hộ cho sóng yên gió lặng. Lúc ngước mặt lên, dường như ông nghe trong gió ban mai se lạnh thảng thốt một tiếng đàn đứt dây lạc nhịp.
Nắng đã đứng bóng.
Nóng hầm hập.
Hai lá cờ đại lừng lững uy nghiêm trước cổng chợ Gồi.
Mọi người đứng xung quanh công đường dựng tạm bằng tre, nín thở chờ nghe lời nghị án.
Hai hàng quân sĩ gươm giáo sáng quắc nghiêm trang đợi lệnh.
Khuôn mặt vuông, hàm bạnh, đôi mắt sắc lạnh của vị đại quan ngồi giữa công đường khiến những kẻ sâu dân mọt nước đang quỳ mọp dưới đất kia phải run rẩy cúi đầu.
Một hồi trống trầm đặc vang lên.
Tiếng roi vun vút.
Đó là hình phạt dành cho hai kẻ hại dân đã dám đào đê bắt cá!
Nhờ biết ăn năn hối cải, xin làm phu đắp đê ngay những ngày đầu tiên khi đê vỡ nên chúng được giảm án, chỉ đánh năm mươi roi giữa chợ làm gương.
Thêm một hồi trống nữa.
Lý trưởng Lưu Khê mặt cắt không còn hột máu, run té sấp mặt xuống đất.
Một trăm roi tội a tòng coi thường phép nước, lột mũ đuổi về làm dân thường!
Tiếng roi rít trong không khí chát chúa.
Tiếng gào thét đau đớn của kẻ chịu tội.
Tất cả dân chúng đều quay mặt không dám nhìn.
Nắng như đổ lửa.
Mồ hôi rịn ra các lỗ chân lông nhớp nhúa trên từng khuôn mặt người.
Trống lại vang lên.
Hai hồi dài.
Chậm và dứt khoát.
Tri huyện mặt thất thần, cái mặt thịt héo run như bánh đa nhúng nước để lâu, người mềm oặt như cái xác không hồn lúc bị lôi ra chỗ gia hình.
Hai trăm roi tội ăn của đút, bao che cho kẻ làm bậy, coi thường tính mạng của dân, lột áo mão đày ra trấn biên!
Mồm bị nhét giẻ rách, quan phụ mẫu oằn mình run lên đau đớn theo từng nhát roi.
Tiếng thịt nát xương tan.
Tiếng roi gãy ngọt lịm.
Tiếng con nít khóc thét lên giữa chợ.
Tiếng bàn tán nhốn nháo.
Căm phẫn và hả hê.
Mặt trời treo lơ lửng trên đầu đỏ lòm như một giọt máu chó.
Giữa giờ Ngọ.
Không khí ngột ngạt khó thở.
Tiếng trống vang lên.
Ba hồi chín tiếng.
Tiếng trống u u nhức buốt như tiếng roi vụt vào không khí.
Đặng Văn Mai biến sắc mặt. Vẻ ngạo mạn thường ngày biến mất. Mồ hôi túa ra lạnh ngắt hai bên sống lưng. Bất chợt hắn ngửa mặt lên trời tru lên một hồi dài.
Một chiếc thẻ tre sơn son bay vụt xuống sân, lăn khô khốc ba vòng trên nền đất nhầy nhụa thịt và máu. Mai chết vãi giữa công đường.
Hắn bị hình phạt cao nhất dành cho kẻ đã ngang nhiên phá hoại đê, dám coi khinh phép nước. Chém ngang lưng!
Đao phủ vung đao lên.
Đặng Văn Mai đứt làm hai đoạn.
Xác Mai bị vất xuống sông cho quạ xé cá rỉa.
Sông Nhị dùng dằng không chảy. Sóng phù sa ngấn từng vệt đỏ lòm trên từng vạt cỏ non trên thân đê Lưu Khê vừa đắp.
Trên miếu Hà thần, gió vừa rít qua tán cây da nghe đoài đoạn như tiếng đàn nguyệt đứt dây.