![]() |
| Minh họa Đặng Tiến |
Dòng kể của Quỳnh Viên, tôi thường cắt ngang để xen vào các câu hỏi: tranh của thầy sao lại khác thường, sao lại gọi là đá cuội, em thử vẽ ra xem, sao khách đến lại thường vào lúc thầy trong định? Rồi tôi phóng chiếu từ tâm thức cảnh mình đi quanh các tịnh thất, như lạc vào mê cung cõi ảo. Tôi bước lên một hòn non bộ khổng lồ được dựng từ đá dưới suối lâu năm, nhìn xuống lô nhô mái tịnh thất loáng nắng, cây cỏ đan xen cùng con đường mòn nho nhỏ, nó vừa hoang sơ vừa như một góc thiên đường quyện lấy nhau. Thật khó tin là sau này tôi chạm đến tịnh thất, nhiều cảnh trùng khớp với những gì tôi đã tưởng tượng.
Điểm dừng đầu tiên lúc tôi chạy xe lên đến miền núi này, là quán cà phê của gia đình Quỳnh Viên. Cha em là một người vui tính và thân thiện, gặp tôi lần đầu mà như người thân cũ. Tôi chú ý đến bức tranh lớn, mảng màu khá lạ dẫu không phải siêu thực. Anh nói ngay là sư thầy ở chùa đá tặng. Nghe đến chùa đá tôi mới nhớ, một họa sĩ ở phố năm ngoái nói tôi nên lên thăm, đó là tuyệt tác. Bây giờ tôi biết chùa đá đó, gọi đúng là tịnh thất. Cha Quỳnh Viên là huynh đệ với thầy từ hồi xưa ấy…
Nhân duyên gặp gỡ cũng lạ. Quỳnh Viên đến cơ quan tôi cùng một họa sĩ, rồi một ngày chợt em trở lại mời tôi cà phê. Chúng tôi nói chuyện, nghe tịnh thất hấp dẫn, tôi muốn lên đó. Quỳnh Viên vui lắm, nói cha mẹ em sẽ rất mong anh.
Tôi chưa thấy đôi vợ chồng nào lại vui một cách tự nhiên như vậy. Ngày tôi đến, rủ lên tịnh thất, cả hai chở nhau, còn tôi được chở Quỳnh Viên. Không gặp thầy, anh chị nói về trước chuẩn bị cơm nước, tôi với Quỳnh Viên lội khắp.
Chúng tôi đi chưa hết các ngôi tịnh thất. Mỗi ngôi đều không cửa, ai cũng có thể vô ra ngồi xem tranh bên trong bên ngoài, ngẫm ngợi rồi lặng lẽ rời đi, nhưng tôi chỉ thấy vắng ngắt, cũng không có vật nuôi. Quỳnh Viên thụt người lại bởi một con rắn bò từ dưới gốc cây bên khe nước nhỏ chảy quanh. Hai chúng tôi điềm tĩnh lại, trông con rắn thật hiền, nó như không quan tâm đến ai. Rồi cóc nhái, các loài sâu bọ ẩn dưới lá xuất hiện. Hoa cỏ cũng lắm. Quỳnh Viên chụp cho tôi nhiều pô ảnh bên tranh của thầy. Có pô chụp nửa bức tranh, nửa là hồ sen với bông trắng duy nhất. Tôi nhìn lại thấy lạ lắm, hai không gian ghép lại trong pô ảnh ngỡ như bức tranh khổ lớn.
Thầy vẫn còn ngồi trong mùng, nơi gần góc nhà hơi tối. Quỳnh Viên nói thầy thường dậy sớm ngồi vậy, có khi qua chiều luôn. Vậy là tôi không được tiếp chuyện với thầy hôm nay. Bức ảnh tôi chụp Đạt Ma sư tổ trong cái thất gần cổng có ánh nắng vương trên miệng cười, chùm hoa sử quân tử sà xuống cạnh bên. Quỳnh Viên nói em học vẽ phong cảnh, chủ yếu dùng màu nước. Tôi cảm nhận được một bậc thầy hội họa thông qua tranh được đóng khung hộp trong mặt kính đặt khắp vườn. Thầy hồi xưa xuất gia rồi sau với lí do nào đó mà hoàn tục, tôi có thắc mắc chỗ ấy nên rất muốn biết.
“Mẹ nhắn về ăn cơm.” Đến nhà, tôi ra sau rửa tay, đứng một lúc nhìn vườn rau có đủ loại, dùng nấu canh, xào, số có thể ăn sống ngay, bước ra trước nhà thì mâm cơm đã dọn ở hiên. Cả nhà ba người với tôi nữa ăn rất tự nhiên, ngon lành. Chắc Quỳnh Viên dặn mẹ là tôi thích ăn thực vật nên bữa ăn này thuần chay. Tôi ngồi gần đối diện với cửa chính của ngôi nhà, thấy có bức tranh, phong cách đó biết ngay là tranh của thầy. Tôi nhìn hơi lâu nên cha Quỳnh Viên nói thầy tặng hồi mới dựng nhà đến giờ đó, có thêm ngoài quán mấy bức, em đã thấy.
Quán cà phê của Quỳnh Viên bên kia đường, cũng là đất do anh chị khai phá từ hồi lên đây, sau được chính quyền cấp cho luôn, nó nối dài dọc theo con đường từ dưới xuôi lên. Ngồi cả tiếng không thấy có khách vào, sau đó chúng tôi mới cùng lên tịnh thất. Anh nói trước đây khách đông lắm, sau này anh chị không bán thuốc lá, không cho đánh bài, vậy là giảm hẳn.
Hồi xưa tả không hết khổ, anh vừa ăn cơm vừa cười nói. Thật tình tôi chưa thấy ai có được ánh mắt vui như vậy khi tiếp khách. Cảm giác như tôi là khách quý hay ân nhân từng giúp đỡ Quỳnh Viên, mà tôi có giúp gì đâu. Chỉ là em có dấu ấn đặc biệt trong lần gặp ấy. Dẫu vậy nếu Quỳnh Viên không chủ động nhắn tin nói em đang ở gần cơ quan anh, anh rỗi cà phê không, dòng tin xuất hiện trở lại sau một năm ấy, thì tôi đã không biết kết nối lại với em như thế nào. Ánh mắt Quỳnh Viên như có ẩn giấu vết thương sâu và sự phiêu du của mây trời đồi núi.
Bữa cơm trôi qua, Quỳnh Viên cùng mẹ dọn ra sau bếp, ở đó mở góc nhìn vườn rau xanh ngút. Tôi ngồi uống trà với anh, lưng dựa vào bên cánh cửa áp vào tường, hướng thẳng ra quán cà phê. Anh nói quán cũng nhờ thầy gợi ý mở, cho Quỳnh Viên thỏa sức trang trí.
Tôi hỏi giả như vu vơ:
- Anh chị với thầy thâm tình nhỉ…?
Anh lại cười, cái cười có chút hài hước.
- Thâm tình còn là nhạt đó. Chuyện không có gì cần giữ, tuy gặp em vui và cũng hiểu qua lời Quỳnh Viên rồi, anh mới kể, chứ đến Quỳnh Viên cũng không biết gì. Anh chị muốn Quỳnh Viên hồn nhiên, cứ theo thầy học vẽ chứ không nên biết gì về chuyện trong quá khứ của gia đình. Bây giờ thì câu chuyện cũng cũ rồi. Anh tin có những kết nối từ năng lượng sóng tâm gì đó thầy hay giảng, chẳng hạn như thầy trò Quỳnh Viên, đến cha con cũng khó so bì được mối thâm tình ấy.
Hai vợ chồng lên đây ban đầu dựng túp lều, không biết buôn bán gì, cứ làm khoai sắn lúa đậu mong sao đủ qua ngày. Cái ngày rừng nhiều mà mưa lũ cũng nhiều. Phải tội chứ vợ lại mang thai vào mùa đông, củi lửa đốt thâu đêm ngày. Cũng may củi không thiếu, với lại tục lệ của đồng bào là giữ cho ngọn lửa trong bếp không bao giờ tắt, đó là ý Giàng. Hôm trở dạ, anh lạy trời đất thôi mưa, mà mưa vẫn mưa, trạm xá thì xa. Vợ anh ngất lịm mấy lần. Một điều lạ lùng. Anh thấy sư đứng trước nhà trú mưa, đã ướt hết. Lúc đó cảm giác anh dường như ngược lại, nghĩ trời Phật đưa sư tới chăng, hoặc là sư tự cảm biết mà tới. Nhưng một vị sư thì giúp được gì người phụ nữ trở dạ.
Không giúp được gì, đúng thế, chỉ là lúc đó chợt vợ anh bớt kêu đau dần, rồi nằm thiêm thiếp, còn gọi anh đắp thêm chăn. Anh mang chăn đến, chị nắm tay nói em thấy đỡ, chắc chưa sinh đâu.
Anh ra mời sư vào, đặt ghế ngồi ngoài hiên, nhà trống hoác không có phòng nào ngoài cái chái bếp nối liền. Sư uống ngụm nước ấm xong chậm rãi nói, chị sinh ở nhà cũng được, nhưng anh phải chuẩn bị các thứ sau. Sư liệt kê đầy đủ, rồi nói cần phải thực hành chính xác lời sư dặn. Sau đó là đến phần ăn uống bồi bổ.
Anh dạ dạ, nuốt tiếng ấy vào lòng. Anh càng nghe càng tin sư từng là y tá, thầy thuốc. Đằng nào anh cũng không đưa vợ đi được vào giữa ngày mưa dầm dề nước như tuôn xối như vậy, cũng không có đủ tiền để trang trải cho chuyến vượt cạn hiểm nguy hơn vượt lũ ấy.
Đến gần chiều, sư nói mượn anh bộ đồ. Sư thay y phục, gửi lại tấm áo phước điền cùng cái tay nải cũng màu vàng, nói nếu sư không còn trở lại thì anh giữ làm kỉ niệm, nếu sư trở lại thì sẽ có cái giúp gia đình mình.
Sư đi, như một người bình thường. Có lẽ là ngày sư hoàn tục chăng. Bởi từ đó cho đến nay sư ở trong thất riêng của mình, người đây gọi là chùa đá, gọi sư là sư, chứ sư không nhận mình thế.
Hai mẹ con rửa dọn xong, ra ngồi. Anh thôi dòng kể. Quỳnh Viên ngồi trên gót chân như kiểu người Nhật. Mẹ em hỏi tôi chiều cần đi đâu Quỳnh Viên chở đi. Tôi tính đi thăm con đập ngày xưa anh còn thanh niên tham gia vác đá, bây giờ dấu vết ở dưới chân móng, còn lại nó đã được đổ bê tông cốt thép. Mẹ ra hiệu với Quỳnh Viên đi vào, chị thoáng nghe cũng hiểu câu chuyện anh đang kể dở…
Hai người vào phòng ngủ, anh tiếp tục dòng chảy kí ức.
Sau này anh có đến phụ giúp thầy làm thất, một đoạn ngắn thôi, thầy nói đã thuê tốp thợ rồi. Thời gian đó người đến mua tranh của thầy nhiều, có cả nhà sưu tập nước ngoài. Em thấy, để ngổn ngang trong vườn vậy có khi hoại mục, mà bán thì giá phải là hạng không vừa tầm. Tranh của thầy đã định vậy, một là tặng, hai là bán, ba là hư hại theo thời tiết, thầy không vớt vát. Tiền có được thầy dồn vào làm thất.
Anh rót trà, một khoảng lặng trôi đến và ở lại đó. Ngoài đường nắng, vắng. Có vài người cõng gùi nặng mới trên núi về.
Lúc này anh chị đã có ngôi nhà, chu cấp cho Quỳnh Viên ăn học đầy đủ, anh trai nó lấy vợ sớm, ở riêng ngoài thị trấn, mua đồ của đồng bào ra bán, thỉnh thoảng chạy lên phố giao hàng, nói chung cũng gọi là no ấm. Nhà cửa đây và cái quán bên kia, quán là dành cho em nó nếu sau này không xin được việc hoặc muốn ở nhà vẽ vời.
Một khoảng lặng, cả hai nhìn ra đường. Tôi biết anh sẽ kể hết.
Cũng sau mấy chục năm, trong một buổi trà thầy mới kể câu chuyện ngày mưa hôm đó. Thầy trở về quê. Quê không còn ai. Có ông bác trông coi hộ ngôi nhà bệ rạc cùng vườn tược, giữ giấy tờ từ cha mẹ thầy trao gửi. Thầy về bán đất, dựng gian thờ ông bà cha mẹ, tặng ông bác một miếng đất nhỏ và nhờ bác thắp hương ngày giỗ kị. Phần tiền còn lại thầy cho anh chị. Nó quá lớn. Nó khiến anh chị tức ngực. Chị khóc nức, tưởng ngất đi được. Thầy nói có gì đâu nào, mọi thứ chỉ là chuyển đổi từ cái này qua cái khác thôi.
Thầy không về chùa nữa, không khoác y phước điền nữa, cũng không ai nơi đây biết thầy từng là sư. Ngay tối đó thầy xuống gần suối, ở đó luôn. Anh mượn thêm mấy người đến dựng cho thầy cái chòi. Nghe anh cứ gọi thầy, họ chỉ nghĩ là thầy dạy gì đó. Thầy dặn, coi nhau như anh em bè bạn được rồi, từ nay đừng gọi thầy.
Tôi hình dung thầy đi gom đá cuội, thành một đống lớn rồi bắt đầu xây thất. Thầy vẽ tranh, có tiền, gom dần rồi mua một thửa đất rộng mênh mông. Hồi đó đất như cho, đá cuội thì không ai nghĩ đến việc lấy. Lấy đá về chẳng để làm gì, cũng không ai làm vật liệu xây nhà, tốn hồ hao công. Thầy xây một rồi hai thất, cứ thế… Tôi nghĩ, hẳn đá cuội ở khắp nơi đã trôi về vùng đồi này như vậy mới đủ để thầy dựng vô số tịnh thất, chưa tính đến những âm bản là hầm phía dưới thất.
Việc lấy đá cuội sau này bị cấm, nên những gì thầy giữ lại được rất quý. Qua rồi cái thời thầy gom đá cuội thuê chở về, tất cả việc xây dựng đều tạo điều kiện cho người dân trong vùng. Thầy vẽ thiết kế, thợ làm quen dần. Những ngôi nhà đẹp và quý đến mức ai cũng chỉ ước đến đó ngồi chơi, ngắm, lưu lại một số kỉ niệm, chứ không dám mơ ước sở hữu. Một quần thể công trình mà có tiền cũng không mua nổi, giá trị của tịnh thất đá cuội đong ra quá sức tưởng tượng. Thầy dĩ nhiên không bán, ai muốn xây cũng đâu còn vật liệu nữa.
Tôi với Quỳnh Viên vào cái thất thầy ngồi thiền trong mùng. Em dẫn tôi xuống hầm từ lối cầu thang gần đó, cũng có ánh sáng, tường toàn đá cuội thô, màu điện vàng mơ.
Em xuống đây nhiều rồi, có lần còn ngồi vẽ. Trời nắng ở đây vẫn mát dịu, còn mùa lạnh ấm lắm.
Tôi cứ nhìn quanh và ước tính, thầy phải gom hơn chục năm mới đủ đá, xây từ từ từng ngôi một. Mỗi tịnh thất có cổng không có cửa, góc nhìn cứ đan xen xuyên thấu nhau. Những khoảng không khó thể chiêm nghiệm bằng trí tưởng, có thể để nó vậy cho đôi mắt nhìn ngắm rồi sẽ thấy không khác nhiều với vẻ đẹp tự nhiên bí ẩn. Tôi nhớ lại pô ảnh Quỳnh Viên chụp nửa bức tranh của thầy với nửa còn lại là hồ sen tàn, vừa khác biệt vừa như một. Pô ảnh ám ảnh tôi kì lạ. Hai sự đối lập quyện lấy nhau đẫm chất huyền ảo mê dụ mà khi xem lại thấy có gì đó vẫn xô mình trở lại với điều bình thường nhất. Phải chăng sự cao siêu cũng khác chi rung cảm trước hoa cỏ ven đường, như bức ảnh Quỳnh Viên chụp cụm cỏ trong vườn thầy với từng vệt đỏ mỏng manh đan xen, hiện hữu đó mà cũng mờ phai hư huyễn.
Cha Quỳnh Viên vẫn thường cười trong lúc kể, ánh mắt sáng lên trông thấy. Thầy chưa bao giờ nhắc đến tấm áo cà sa và tay nải đã gửi lại cho anh chị trong ngày mưa ấy, khoác chiếc áo thế tục là từ đó đến nay mọi thành tựu đều sự thường. Có lẽ thầy nghĩ nó không còn nữa, nhưng với anh chị, đó là kỉ niệm trọn đời. Chị giặt sạch, bọc ngoài một tấm vải rồi gói kĩ trong bao ni lông, đặt trong chiếc tủ gương ở gian nhà trước.
Quỳnh Viên mê chụp ảnh. Điều đặc biệt là em thường chụp khoảnh khắc sự chuyển động của mây gió, nắng, thiên nhiên di biến, nó khiến cho tác phẩm không thể lặp lại, độc đáo như một cơ duyên. Tôi dạo ở tịnh thất suốt buổi luôn nghe tiếng tách tách của máy ảnh mà nhiều khi không thấy Quỳnh Viên đâu, ngồi góc nào.
Em nói mẹ thường dành một buổi trong tuần đến thất của thầy quét dọn. Giọng Quỳnh Viên rất nhẹ, trong, nghe rõ từng chữ. Tôi cảm được cả ân tình nghĩa trọng khi em nhắc đến thầy.
Em học trường nghệ thuật, thầy chỉ dạy điểm yếu, lạ lắm, như thầy nhìn thấy chỗ nào của em cần bổ khuyết. Từ lúc em học cấp ba đã được thầy bày cho cách hòa màu. Thầy nói màu chín đến mức như màu thời gian biến đổi vạn vật là khó nhất, rồi đến hình họa, mảng khối. Đạt những thứ đó thì vẽ cọng rác cũng có giá…
Nhìn khu vườn thầy tạo dựng, tôi càng tin về sức sáng tạo không có giới hạn của con người. Nếu ai đó muốn biết về sự vô biên đến vô thường, có thể đến đây đi qua những ngôi tịnh thất, xem hết những bức tranh thầy vẽ, nghe những bản nhạc thầy soạn và chơi. Thêm cơ duyên thì trực tiếp nghe thầy chơi đàn, nhìn trực tiếp thầy vẽ, chắc sẽ cảm được điều, dường như trong mỗi ta cũng có thể chạm đến khoảng mênh mông đó nếu đi đúng đạo pháp. Thầy soạn nhạc, thu lại phát cho cây cỏ nghe. Một dạng nhạc thiền, mềm, rõ nét đường đi lối về tuy không dễ nhận ra tuyến giai điệu, vì thầy đa phần là tự mày mò khám phá thế giới của mật âm chân ngôn. Hẳn nhiên ngay cây đàn guitar đã là một sáng tạo vô thủy vô chung, một không gian mà càng tìm kiếm càng không có giới hạn như bát nhã toàn chân, như “cái không” lồng lộng trong bất cứ gì.
Không gian dưới căn hầm ngôi tịnh thất như được trình chiếu lại trong tâm trí tôi, làm sáng lên những khoảng mờ. Ánh điện vàng, mát. Những bức ảnh lại chụp lấy bóng tôi, dòng suy cảm của tôi khi nghe bản hòa âm guitar vang lên đâu đó. Một cái loa giấu ở trong hốc đá mà tôi chưa thấy. Âm ba guitar trọng vào nhịp, không rõ điệu gì và phần nhiều được hòa trộn vào nhau, kết hợp với những kĩ thuật đỉnh cao. Dường như là cách chơi từ niêm luật bước ra thế giới khôn cùng.
Tôi xuống núi theo con đường vòng vèo lượn bên sườn đồi nối tiếp. Cuối mùa nóng, cây cối tự nhiên và cây trồng vẫn xanh ngắt. Tôi dự tính những lần trở lại. Trưa nay anh chị dọn một căn phòng để tôi nghỉ, song tôi muốn ra nằm trên tấm nứa ở gian vươn ra phía mặt sông của quán cà phê. Gió mát, hơi nóng thì hập vào. Tôi gác đầu trên chiếc gối mây được đan thủ công. Anh nói lâu lâu thầy có xuống đây ngồi uống trà cùng bè bạn anh, chơi đàn. Anh có hai cây guitar, hồi trưa tôi rảo phím giao lưu, thấy cách anh chơi cũng là lạ, chơi được rất nhiều tone trưởng và thứ mà không cần capo, nó đưa đến sự tự do trong lúc tận dụng được các dây buông để tạo nên thứ âm sắc huyền ảo.
Tôi thiu thiu ngủ một lúc rồi dậy ngồi gác tay lên phên ná nhìn ra suối. Lòng suối rộng như sông, từ rất xa tôi vẫn thấy lấp ló những dải đá cuội hai bên bờ con nước mùa cạn. Nghĩ đến những cái thất bề thế của thầy mới biết nó thật vô chừng. Tôi ước đến mùa thu sẽ quay lại.
Quỳnh Viên vẫn bận với việc học bên trường nghệ thuật, tôi có hẹn cà phê song lỡ. Lần em tự đến, tôi lại sắp có việc, ngồi với nhau được hơn nửa tiếng, em hỏi về “Thiền trong hành động”, tôi nói say sưa nên quên mất chuyện về tịnh thất của thầy. Có tối em nhắn, như là một linh cảm, nói bữa cuối tuần em có về, ghé thầy, hỏi việc anh muốn lên nghe thầy đàn. Thầy cười bảo tùy duyên thôi, không hẹn được.
Một đầu thu, tôi chọn ngày thứ hai của dịp nghỉ lễ, chắc chắn Quỳnh Viên đã về nhà. Đúng như vậy. Tôi đến, anh chị rất vui. Nhưng tôi không gặp được Quỳnh Viên. Em ngồi trong căn phòng vốn trước đây anh trai và chị dâu ở. Mẹ Quỳnh Viên nói em nó bị đậu mùa, không tiếp xúc với ai được. Tôi cứ đứng giữa sân nhìn qua cánh cửa hé ấy. Tôi đã định làm một niềm bất ngờ đối với Quỳnh Viên, đã không nhắn trước, chẳng ngờ đến đây, cái cười của anh có gì đó nghèn nghẹn. Anh uống trà với tôi ở quán cà phê. Nhạc ngoại không lời, là những bài Quỳnh Viên yêu thích. Tôi nhìn lại những bức tranh của em và của thầy vẫn treo chỗ cũ. Thầy chỉ vẽ siêu thực, còn Quỳnh Viên vẽ về con người, phong tục, lối sống, thiên nhiên của đồng bào mình xưa nay. Tôi muốn lên thăm thầy. Anh có vẻ ngập ngừng, rồi bảo em lên một mình đi, anh chị ra chợ làm cơm. Tôi nói ngay là thôi, để lần khác em lại lên, có Quỳnh Viên. Giờ em ghé tịnh thất thăm thầy rồi về luôn. Anh hơi buồn, gật nhẹ.
Tôi đến, dựng xe dưới cây bồ đề, đi thẳng vào tịnh thất thầy ngồi. Không thấy ai. Lá cây phủ trên chiếc bàn đá thấp dành cho người ngồi khoanh chân uống trà, bụi đầy khắp. Tôi cảm giác một trận mưa giông lốc xoáy đã òa vào đây cả lá lay, bùn đất, những cành gãy đen nằm đó không ai dọn. Chợt tôi ngưng ánh nhìn ở phía góc tường mờ sẫm, chiếc đàn treo ở đó. Đến gần, tôi chạm tay vào, như có lực dẫn ngón tay tôi rào qua dây. Giật mình quay lại, tôi thấy một khoảng lồng lộng chênh chao.
Thầy đã không còn ở đây.
Thầy bỏ tịnh thất đi rồi. Dòng tin của Quỳnh Viên trôi đến. Em sợ anh buồn không nói. Mà em cũng buồn đến không muốn nói gì. Cha em là người thân nhất của thầy cũng không biết cho đến ngày mẹ em lên quét dọn.
Thầy bỏ tịnh thất đi rồi. Bỏ ư? Bỏ nơi này như bỏ một chỗ ngồi tạm bợ nghỉ ngơi, như bỏ một chỗ trú nhờ qua đêm ư? Thầy về đâu cũng không ai biết. Tôi chới với, bước lùi vào sâu trong tịnh thất, ngồi xuống lấy thăng bằng. Sực nhớ Quỳnh Viên, tôi nhắn lại, không hẳn là một câu hỏi: Em sẽ đến trông coi nơi này chứ? Quỳnh Viên im lặng.
Tôi chạy xe trở về lúc mặt trời rực sáng trong vùng mây che phủ. Lâu lâu tôi lại móc điện thoại để xem có ai nhắn gọi không. Không.