Sáng tác

Như nhớ điếu cày. Truyện ngắn của Lê Thuần Thảo

Lê Thuần Thảo
Truyện 12:00 | 05/06/2026
Baovannghe.vn - Thời Mỹ cho máy bay ném bom miền Bắc Việt Nam, cơ quan văn phòng Ty Giáo dục (tương đương Sở Giáo dục bây giờ) phải sơ tán về nông thôn.
aa

Về với dân, cán bộ Ty được dân bố trí chỗ ở, chỗ làm việc chu đáo. Nhà nào cũng nhường cái giường tốt nhất, căn phòng rộng thoáng nhất của nhà mình cho cán bộ Ty ở và làm việc. Vườn dân rộng, cây nhãn, cây mít tán lá sum suê nhưng nếu cần làm hào, đào hầm phải đốn hạ thì dân cũng không tiếc. Làm một căn hầm kèo chống bom, có khi phải đốn hạ bốn năm cây tre mới ken, lát đủ, dân cũng không phàn nàn kêu ca gì.

Với khấu hiệu “tất cả cho tiền tuyến”, với quyết tâm “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, trai làng đến tuổi đều nhập ngũ; Thóc, ngô, lợn, gà của đồng làm ra, của nhà làm nên tất cả đều làm nghĩa vụ cho Nhà nước để nuôi quân đánh giặc... Có lẽ vì thế mà dân vùng ấy nuôi chó để có thêm thực phẩm cải thiện. Nhà nào cũng một đàn hàng chục con chó dé các thế hệ, đủ màu lông: Đen, vàng, khoang, vện. Chó dé dễ nuôi, ăn sắn, ăn khoai, ăn rau, ăn cám như heo mà vẫn sinh sản, phát triển tốt.

Thời ấy, hàng tháng cán bộ có tiêu chuẩn nước uống và thuốc hút. Ai cũng được trang bị phích đựng nước nóng và một bộ ấm chén pha trà. Ấm, chén sản xuất ở các lò gốm thủ công nhưng cũng đủ độ nóng hãm trà. Chè, là những lá chè già, được rang nóng rồi ép lại thành “bánh”. Mỗi “bánh” chè hình tròn, đường kính cỡ mười lăm phân, chiều dày chừng một cen-ti-met. Mỗi lần pha trà bẻ một miếng thả vào ấm, chế nước sôi, hâm chừng mươi phút là dùng được. Chè ấy chát, giàu chất ta-nanh, mùi như chè khô. Thường ngày anh em trong cơ quan gặp nhau bàn việc, có ấm chè ấy cũng làm cho cuộc gặp đỡ suông tình. Chè không có nhãn mác, nhưng hầu hết đều truyền miệng nhau, gọi đó là chè Thái Đức.

Thuốc lá cũng được phân phối như chè Thái Đức. Mỗi tháng được ba gói thuốc nhãn hiệu Tam Đảo hoặc Tam Thanh. Ai chịu hút loại thuốc gói nhãn Trường Sơn - một loại thuốc nặng, không thơm, rẻ tiền hơn thì được phân năm gói. Một thời người ta hút thuốc lá nhả khói hình vòng tròn. Có người còn uốn môi, búng má cho khói thuốc ra hình quả cơ (tượng trưng cho trái tim). Kiểu chơi bời ấy ẻo lả, “tiểu tư sản” vào “thời chiến” này hầu như không ai bắt chước. Dùng hết thuốc lá “tiêu chuẩn” thì các đồng chí mình hút thuốc lào. Thuốc lào trồng lấy như trồng rau cải. Thu hoạch thuốc cũng ủ, cũng phơi, rồi cuộn, dùng dao thật sắc thái nhỏ, rồi phơi, rồi sấy, rồi phun rượu, rồi tẩm đường. Ai trồng và tự sản xuất được loại thuốc lào này coi như một thành công rất đáng nể. Ai không trồng được thì mua thuốc lào ở chợ. Thuốc lào Tiên Lãng (Hải Phòng), thuốc lào Ninh Giang (Hải Dương) là những loại được xem là thuốc ngon và đã có “thương hiệu” thời ấy.

Điếu cày để hút thuốc lào thì sẵn lắm, chỉ cần lựa một đoạn vài ba lóng ngọn tre và cái tay tre bánh tẻ làm nõ điếu là đã có cái điếu cày. Nhà dân nào cũng có sẵn điếu cày (có nhà còn có cả điếu bát nữa) nhưng cán bộ sơ tán ai cũng có riêng một cái điếu cày.

Cái điếu cày làm cho cuộc sống của cán bộ rời thành thị về nông thôn sơ tán đỡ buồn, quanh cái điếu cày mà người dân gần người sơ tán đến. Quanh điếu thuốc lào mà lãnh đạo cơ quan gần cán bộ của mình. Có khi gặp nhau, vui vẻ mấy ông cán bộ sơ tán thi cùng mấy ông thợ cày xem ai dài hơi hơn trong khi rít điếu cày. Cái điếu cày chuyền tay nhau hút thuốc phả khói mù mịt, xịt xái vào bồ rác, rồi nâng điếu lên rít một hơi dài, tiếng rít như tiếng còi, nghe lanh lảnh, sang trọng. Sau tiếng rít ấy người hút nuốt khói, và trong cơn say mắt lờ đờ, ngả người về phía trước. Chống điếu cày xuống đất, đưa tay với chén nước chè. Sau hớp nước là nụ cười khoan khoái và lời bình luận: “Thuốc lào này ngon quá. Thứ này tầm ở đâu mà ngọt khói thế”. Cũng có khi sau hớp nước là một cơn ho sặc sụa. Dứt cơn họ lập tức có lời bình: “Thuốc này xốc quá, hãm khói vào tức cả ngực”.

Về nông thôn, quanh cái điếu cày, bên ấm nước chè tươi hay là chè Thái Đức bao giờ cũng rôm rả chuyện:

- Tối hôm qua đài mình (Đài Tiếng nói Việt Nam) loan tin là ta bắn rơi sáu máy bay thế mà thằng đài địch nhận là rơi có năm cái. Mẹ cha cái thằng nói láo ăn gian!

- Không! Rơi sáu cái. Sáng nay nó phát lại rồi. Nhận là bị rơi sáu cái. Cái thứ sáu bay ra hướng biển rồi bị rơi. Phi công nhảy dù ra, chúng nó vớt được.

Lại một câu chuyện khác:

- Pờ-Lây-Cần là chỗ nào các lão biết không? Quân ta vừa thắng to ở đó.

- Nghe cái tên kiểu này có vẻ như vùng Tây Nguyên. Kiểu như Pờ-lây-ku ấy mà.

- Đừng đoán mò. Trưa chịu khó mở đài nghe bản tin cho đầy đủ.

Lại sang chuyện khác:

- Tuần sau bên phòng các lão có hội nghị chuyên đề đấy à?

- Ừ! Chuyên đề giảng dạy Văn học theo loại thể.

- Có liên hệ được ở đâu cho anh em ăn tươi tươi không?

- Hợp tác xã cho rau, lại bán cho con lợn cọc, nhưng tớ xem rồi lợn bé và gầy lắm.

- Méo mó, có hơn không. Hội nghị mà có lợn mổ là sang đấy. Phòng đằng ấy làm ăn thuận thế, năm nay thế nào chẳng đạt tiêu chuẩn tổ Lao động xã hội chủ nghĩa.

- Chưa chắc! Vì chúng nó đang xì xào có đứa để vợ sinh con thứ ba. Vi phạm chính sách!

- Đằng ấy cho tớ xin mấy số liệu để tổng hợp đưa vào báo cáo quý.

Cái điếu cày vui vậy nhưng không phải không có tác hại. Ngoài tác hại về sức khỏe, nó còn gây hôi, gây rác và có khi gây phiền hà.

Như nhớ điếu cày. Truyện ngắn của Lê Thuần Thảo
Điếu cày cổ gắn liền với văn hóa Việt

Vũ Duy là cán bộ Ty cử đi B (đi công tác mặt trận phía Nam). Sau quá trình học tập và rèn luyện thể lực, Vũ Duy được cấp trên bố trí cho nghỉ phép ba ngày trước khi vào Nam chiến đấu. Nhà anh ở một huyện miền núi cao, anh về Ty để chào tạm biệt anh em và lấy cho cậu con trai cái giấy chứng nhận tốt nghiệp cấp II để bổ sung vào hồ sơ thị tốt nghiệp cấp III (THPT). Sau khi lấy được giấy chứng nhận cho con, gặp bạn bè hút thuốc lào, vui chuyện, hết đóm, anh rút trong túi ra tờ giấy xé làm đóm. Hút xong điếu thuốc anh mới biết đó là giấy chứng nhận tốt nghiệp cấp hai của con, anh vỗ trán kêu lên:

- Bỏ mẹ tao rồi!

Thế là anh tá hỏa “chạy thủ tục” lại từ đầu. Phôi giấy chứng nhận đã có sẵn người phụ trách quy chế sẵn sàng viết lại hộ anh vì là chuyện "người thực việc thực”, lại là chỗ bạn bè với nhau. Nhưng đến cô văn thư thi ách tắc:

- Em vừa lên xin chữ ký lãnh đạo, vừa vào sổ, lấy số, đóng dấu chưa ráo mực, bây giờ em lại cầm lên xin nữa, em biết báo cáo, trình bày thế nào?

Sau một lúc nài nỉ ngọt nhạt mà cô văn thư vẫn cứng rắn nguyên tắc, Vũ Duy đành cầm tờ giấy chứng nhận đã viết sẵn, đứng tần ngần ở cửa phòng cô văn thư. Vừa lúc đó thì có người đi đến, như chết đuối vớ được cọc, Vũ Duy chào to:

- Thưa thầy ạ!

Người đó hơi cúi đầu lom lom nhìn qua kính lão. Ông nói:

- Duy à? Tôi nghe nói đoàn các câu ngày kia tập trung rồi, sao hôm nay còn ở đây?

Vũ Duy gãi đầu, gãi tai lý nhí trình bày, giọng run run như đứa học trò mắc lỗi tạ tội với thầy.

Nghe thủng câu chuyện, ông đeo kính mím môi, như cố nén nụ cười rồi nói:

- Đâu? Giấy của cháu đâu đưa tôi ký cho.

Nói rồi ông cầm tờ Giấy chứng nhận tốt nghiệp của con Vũ Duy, đặt lên mặt bàn cô văn thư để ký. Ký xong ông trao tờ giấy cho cô văn thư, rồi ông quay sang bắt tay Duy và căn dặn.

- Duy đi công tác mạnh giỏi. Vào trong đó có lúc nào rảnh thì viết thư về cho anh em nhé. Cho tôi gửi lời hỏi thăm sức khỏe bà cụ, chị ấy và các cháu.

Khi đưa lại tờ Giấy chứng nhận cho Duy, cô văn thư hỏi như đề làm lành:

- Thủ trưởng là thầy giáo của anh à?

- Vâng! Ngày anh em tôi đi học phổ thông, trường thiếu giáo viên, thầy phải đảm trách cùng một lúc cả ba môn Toán, Lý, Hóa. Thầy dạy giỏi, dáng nghiêm trang nhưng thương học trò tận gan tận ruột. Lũ chúng tôi ai cũng nhớ ơn thầy.

Một tai họa nữa cũng do thủ phạm là điếu cày đến với đồng chí Hát. Năm ấy Hát ngoài ba mươi tuổi, một cán bộ vóc dáng thư sinh, da trắng môi hồng, nói năng nhỏ nhẹ. Nhiều con gái làng cứ ngỡ là Hát còn xuân son, có cô khi gặp bên đường đã e ấp trao cho Hát nụ cười duyên và cái liếc xéo sắc như dao cau nhưng không kém phần mộc mạc. Hát nguyên là người thị xã, nên khi về nông thôn anh chàng này rất sợ chó. Chẳng cứ gì Hát, trên cõi đời này nhiều người sợ chó bởi vì bạo như kẻ trộm còn sợ chó nữa là... Người ta bảo “hàm chó, vó ngựa", nhưng mà bị ngựa đá, chỉ đau thôi, có khi bị trầy da chảy máu, nhưng chưa mấy khi ngựa đá chết người. Còn chó cắn truyền bệnh dại, dẫn đến chết người, thì xưa nay hầu như làng xã nào cũng có. Bị chó cắn là phải tiêm bảy mũi, rồi tiếp tục các mũi nhắc lại một tháng, ba tháng, sáu tháng... Đi lại vất vả, diệu vợi lo lắng cả năm trời. Có người còn bảo phải kiêng ăn chất tanh, kiêng gái đẻ, kiêng đám ma, kiêng mả mới... Bị chó "đốt" không đau bằng ong đốt nhưng cái sự nguy nan phiền phức do cái vết “đốt” của chó gây ra phức tạp hơn nhiều. Nhà bà bủ Hát trọ cũng như bao nhà khác, có một đàn chó đủ các màu lông và các thế hệ khác nhau, trong đó có con chó đầu đàn, lông vàng óng rất đẹp mã, có tên riêng là Jôn do con trai bà chủ đặt. Có người giải thích rằng theo tiếng nước ngoài nào đó thì Jôn nghĩa là vàng. Con chó màu lông vàng nên gọi nó là Jôn, cũng có người bảo Jôn là tên một lão nào đó hung ác bị nhiều người ghét nên anh con bà chủ đặt tên con chó trùng với tên kẻ gian ác ấy, để réo chửi cho bõ tức. Jôn được ông chủ ưu tiên cho được làm một nhiệm vụ đặc biệt. Đó là mỗi lần cu Cỏn con trai anh bài tiết hàng ngày. Jôn được ưu tiên dọn bãi. Không những thế Jôn còn thè cái lưỡi đỏ hồng khéo léo liếm dọn, cho đến độ “sạch như chùi”! Đến đó, anh nâng thằng cu Cỏn lên, cọ râu vào mông nó mà cù, nó thích chí cười sằng sặc, cùng lúc đó chú Jôn cũng thích chí, đuôi ngoáy tít nhảy cẫng lên mừng vui. Anh chồng đi bộ đội, chị vợ ở nhà vẫn ưu ái cho Jôn được tiếp tục làm nhiệm vụ vệ sinh đặc biệt như trước. Mỗi lần Jôn dọn xong chị cũng bế bồng thằng cu Cỏn lên, thơm vào rốn nó, nó cũng lại cười ròn tan và Jôn lại phấn khởi vẫy đuôi, nhảy xỡn. Nhìn cảnh ấy bà bủ chủ nhà lại ý tứ nhìn lên bàn thờ gia tiên, lén lau giọt nước mắt hiếm hoi của tuổi già rồi móm mém nở một nét cười u hoài nơi khóe miệng. Cu Cỏn chừng ba bốn tuổi và Jôn cũng chừng ngần ấy tuổi, cứ ở lớp mẫu giáo về là Cỏn và Jôn luôn ở bên nhau, lúc ra cổng, lúc xuống vườn rau, lúc trên sân gạch. Nhiều lần Jôn còn đứng yên cho cu Cỏn cưỡi lên lưng, cũng nhiều lần Jôn âu yếm liếm tóc, liếm mặt thằng cu Cỏn. Đêm đêm, Jôn nằm dưới đất, ngay trước giường ngủ của mẹ con nhà Cỏn, đầu gối lên chiếc dép nhựa màu hồng của Cỏn. Hễ Cỏn cựa mình, giường kêu cọt kẹt là Jôn đã vùng dậy đứng chầu chực, đuôi ngoáy tít, mắt hau háu nhìn lên. Jôn như tên cận vệ trung thành ngày và đêm không mấy khi rời xa cu Cỏn.

Cái giống chó đàn, chó dé, đêm nó phân nhau canh phòng cảnh giới bảo vệ đâu ra đấy. Hễ có động, một con lên tiếng là cả làng chó sủa theo, ồn ã cả một vùng. Vì vậy không ai bảo ai, mà cán bộ sơ tán cũng như dân thôn tầm chín giờ đêm là lên giường tắt đèn. Cán bộ có người vặn nhỏ chiết áp nghe tin đài nước ngoài, còn đồng bào phần lớn nằm nghe buổi phát thành quân đội, qua loa nén, oang oang truyền đi tin chiến sự. Những trận chiến ta thắng địch thua giòn giã, rồi chìm dần vào giấc ngủ canh thâu. Trời vào thu, đêm se se lạnh, nước chè Thái Đức tích cóp cả ngày, cùng với bữa cơm thường kỳ thịt rang, mắm mặn và bát canh suông theo thực đơn thời chiến, tầm một hai giờ sáng, cán bộ sơ tán ai ai cũng bức xúc việc giải quyết nỗi buồn. Đồng chí Hát cũng vậy, nhẹ nhàng lách cửa liếp ra vườn. Ở quê cái sự giải quyết nỗi buồn vào canh khuya không có gì khó khăn. Học tập bài học của các chiến sĩ Vệ quốc đoàn năm xưa khi anh dũng xông lên “dí tiểu liên vào xe tăng địch” trong chiến dịch đường Số Sáu, thu về thắng lợi vang lừng và chiến công hiến hách, đồng chí Hát “dí tiểu liên” của lính sát vào thân cau ngay bên hồi nhà rồi nín hơi kìm cho dòng chảy tuôn ra nhè nhẹ. Thân cau vô tội âm thầm chịu nhẹ nhàng đưa nước về gốc rễ.

Vài ngày sau thì bà chủ nhà phát hiện ra. Nếu cứ để cho Hát tiếp tục giải quyết như thế thì chẳng bao lâu cây cau liên phòng giống quý, ra quả tứ thời, của gia bảo truyền đời, và niềm vui của bà cùng bao nhiêu bạn già trong thôn sẽ bị chết! Bà bèn ra chợ mua một cái nồi đình mới, đẵn lá cọ quây lại phía ngoài bao lấy nồi đình một hình vòng cung như vành móng ngựa. Bà lại xới cỏ, nhặt gạch vỡ lát một đường đi từ cửa liếp phòng Hát ngủ ra tận chỗ đặt nồi đình. Chưa hết, buổi chiều khi cháu Cỏn ở lớp vỡ lòng về, bà còn dắt cháu ra, nói to, hướng dẫn tỉ mỉ... Một lúc sau, cu Cỏn sung sướng, ôm lấy bà nội reo lên đầy mãn nguyện: Tài không? Cỏn làm được rồi!

Ngồi trong phòng làm việc thầy Hát biết hết. Thầy biết rằng đây là bài học từ bài giảng không lời của bà bủ nhà quê đối với thầy. Bài giảng đi đúng con đường nhận thức của tư duy giáo dục: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng về thực tiễn...". Thầy tự khái quát: “Cây đời đang rực rỡ xanh tươi trong bài giảng không lời này đây”.

Xuống đường từ cửa bếp đến nồi đình, xa gấp ba bốn lần quãng đường đến gốc cau. Đêm quê yên tĩnh. Tàu chuối, khóm tre, rặng chè, cây ổi của mảnh vườn quê ngàn đời xưa, chưa quy hoạch, dưới ánh sao trời lờ mờ ẩn chứa trong Hát một điều gì đó không an lòng. Anh từng thấy những xác rắn dài cỡ đòn gánh lột ra, vừa khô nằm vắt vẻo ở bờ rào. Xác rắn nằm đó, nhưng thân rắn giờ ở nơi đâu? Lại những con rắn mối, dáng như con thạch sùng nhưng to gấp nhiều lần kéo nhau đi cả đàn ba bốn con, vừa uốn éo tấm lưng bóng nhẫy vừa thập thò cái lưỡi xanh lè, trông thật dễ sợ. Những con rết to như chiếc đũa, bụng vàng khươm thỉnh thoảng xuất hiện trên mái tranh... Và đàn chó, nó đã quen với anh chưa? Anh chưa dám khẳng định vì trong những biểu hiện hàng ngày thì giữa anh và chúng còn một khoảng cách nào đó mà chưa thể lấy gì khỏa lấp được.

Khi người ta sợ, người ta hay tìm đến một vật thể gì đó làm vũ khí tự vệ. Đêm ấy Hát mang theo điếu cày. Cái điếu cày mà Hát đã chủ định làm dài hơn khi đục thông hơn ba bốn mắt tre vừa tầm có thể chống được xuống đất. Đêm ấy Hát đi ra đúng “vành móng ngựa”. Giữa khi đang vô tư rót nước vào nồi đình thì con Jôn chạy ra đứng phía sau hít hít. Đó là động thái nó muốn cầu cạnh thân thiện, hít hơi để khẳng định Hát cũng là “mục tiêu” cần bảo vệ như cu Cỏn! Hay là ngược lại? Không ai khẳng định được. Chỉ biết ngay lúc ấy, thần hồn nát thần tính, Hát đã giơ cao tay, bổ thẳng cả cây điếu cày về phía sau, trúng vào đầu con Jôn. Con chó tội nghiệp chỉ kịp kêu lên một tiếng “ẳng” thảm thương, đơn điệu. Nghe tiếng kêu, cả đàn chó vùng lên sủa, cả xóm, cả làng chó sủa. Hát cả sợ chạy vội vào phòng khép cửa. Bà chủ nhà vặn to ngọn đèn hạt đậu chạy ra; Chị con dâu cuốn thằng cụ Cỏn vào cái khăn dù pháo sáng thắp đèn bão chạy ra. Con Jôn nằm thẳng cẳng, óc phọt ra ngoài trắng hếu, mắt mở trừng trừng. Cả đàn chó từ con đen, con vằn, con vện đều chầm chậm đi vào hít hít vào con Jôn rồi cụp đuôi, tản ra, nằm mỗi con một xó, im thin thít.

Chuyện Hát đánh chết con Jôn, chó đầu đàn của nhà bà chủ chẳng mấy chốc lan ra khắp xóm, tất nhiên đến tai lãnh đạo cơ quan. Hình như đâu có cuộc họp kín để có chủ trương xử lý tình huống này. Tai hại nhất là thằng cu Cỏn nhớ con Jôn, nó biếng ăn, biếng chơi, đêm hay quấy khóc, người gầy nhẳng như cái giải khoai, làm cho bà chủ rất phiền lòng. Lại có ai đó thả lời ỡm ờ:

- Tại sao lão Hát đánh chết con chó nhỉ? Hay là chị Cả con dâu cụ chủ đang độ phây phây, anh định tòm tem nhưng vướng con cẩu, nên anh “giết chó diệt khẩu”?

- Ấy! Đừng nói thế. Đoàn sơ tán về thôn ta đều là cán bộ hàng tỉnh cả đấy.

- Tôi xin vái ông cả nón nhé? Là cán bộ hàng tỉnh hay hàng gì, kể cả hàng cao hơn tỉnh thì cũng là thằng người. Mà đã làm thằng người thì bụng thằng nào cũng chứa cả máu dê máu chó. Người ba đấng, của ba loài, khi là ma, khi là bụt, biết thế đếch nào được.

Nghe nói sau vụ ấy, lãnh đạo cơ quan phải điều đình với Hợp tác xã, trích quỹ đền bù thiệt hại cho nhà bà chủ năm mươi cân thóc tốt, tính ra công điểm ngang với suất ăn lương thực của thằng cu Cỏn trong cả vụ sáu tháng ròng chứ ít ỏi gì đâu.

Không biết ai nảy ra sáng kiến, mấy ngày sau, lấy cớ gia cố hầm hào tránh máy bay địch, anh em chọn đẵn những cây diễn, cây tre ngộ cực to. Họ lấy đoạn gốc và đoạn ngọn để bổ sung gia cố hầm hào cho chắc chắn. Riêng đoạn giữa cây tre, có những ống to như bắp chân đều được cưa ra, chia phần cho mỗi anh vài dõng, vừa chia phần vừa thì thào tếu táo nói đùa. Có mấy chị hỏi:

- Các ông lấy mấy đoạn tre ấy làm gì đấy?

Các nam đồng chí tủm tỉm cười. Người thì bảo lấy về làm cái ống đựng bàn chải đánh răng; người bảo để chẻ ra đan cái rổ, cái rá... Các chị “trí thức cách mạng” xuất phát là dân học trò, nghe nói vậy thì biết vậy. Đến lượt bà Kim cấp dưỡng của cơ quan, nguyên là nữ du kích Sông Lô năm xưa ra nhờ vót cho một đôi đũa cả để đảo ghênh cơm tập thể. Bà Kim nói:

- Vót cho tôi xin đôi đũa mới. Đôi đũa cũ ngắn, củi lại ướt, mỗi khi đảo cơm khói cay mờ cả mắt.

Nhìn thấy các chũa ống tre nằm lăn lóc, như hiểu ra vấn đề, bà Kim nhặt lên một ống và nói.

- Cho tôi xin cái ống này nhá. Nhiều đêm thức giấc bí đáo để.

Ông trưởng phòng đầu hói, cũng trạc tuổi như bà cấp dưỡng, nói bỗ bã:

- Bà thích thì bà cứ lấy. Nhưng mà chúng tôi nam giới mới sử dụng được chứ bà sử dụng làm sao được mà lấy. Lấy về không dùng nó phí đi.

Chị cấp dưỡng đáp trả:

- Ời, cái ông này? Sao hôm nay tối dạ thế. Tôi sử dụng nó như cách các ông hút thuốc điếu cày ấy.

Ngượng quá! Ông trưởng phòng ngó lơ đi nơi khác, đánh trống lảng.

- Đấy! Cho bà cái to nhất dài nhất này. Cầm mà về ngay đi cho anh em chúng tôi còn làm việc.

Sợ ông ngượng, mấy tay cán bộ trẻ giả vờ quay mặt đi như không nghe, để cố nhịn cười...

*

Có điện thoại gọi, tôi xin phép bủ Thúng để về. Cụ ngạc nhiên:

- Ây, ông đi đâu mà vội thế. Chuyện đã hết đâu. Còn cái đận cơ quan kỷ luật ông Hát về khuyết điểm trong công tác dân vận. Lại còn chuyện “Chiếc điếu cày ủy ban” chưa kể câu nào.

- Chả giấu gì cụ, đợt này, các anh chị lãnh đạo cấp tiền cho đi thực tế. Tiền có ít cụ cho nghe chuyện thế này là nhiều rồi. Để dành lần sau, nếu cấp trên cho đi tôi lại về xin cụ kể cho nghe tiếp ạ.

Bủ Thúng, thôn Thùng Mật, ân cần dắt tay tôi ra sau nhà dẫn lên dốc đê.

Văn nghệ, số 49/2013
Đẩy mạnh hợp tác phát triển ngành công nghiệp bán dẫn và công nghệ số

Đẩy mạnh hợp tác phát triển ngành công nghiệp bán dẫn và công nghệ số

Baovannghe.vn - Sáng 4/6, tại Hà Nội, Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn trực thuộc Cục Công nghiệp công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có buổi làm việc với đoàn chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ Hàn Quốc nhằm trao đổi cơ hội hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, công nghệ cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bức tường dửng dưng - Thơ Bùi Sỹ Hoa

Bức tường dửng dưng - Thơ Bùi Sỹ Hoa

Baovannghe.vn- Người còn đây hay chốn khác/ Lâu không gửi nhắn gì thêm
Ngã ba đường làng. Truyện ngắn của Ngô Thị Ý Nhi

Ngã ba đường làng. Truyện ngắn của Ngô Thị Ý Nhi

Baovannghe.vn - Một cảm giác nặng nề chụp xuống người tôi. Giấc ngủ lơ mơ nửa mê nửa tỉnh. Bóng chiều bảng lảng trong khu vườn rộng, bóng tàng mít xanh um nơi tôi mắc võng hay chính cái oi ả của một chiều đứng gió lẫn khuất bủa vây tôi?
Thành phố Hồ Chí Minh quyết liệt thúc đẩy giải ngân đầu tư công, tạo động lực tăng trưởng kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh quyết liệt thúc đẩy giải ngân đầu tư công, tạo động lực tăng trưởng kinh tế

Baovannghe.vn - Chiều 4/6, UBND TP.HCM tổ chức Phiên họp đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026, triển khai nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 6; đồng thời giao ban đầu tư công với 168 xã, phường, đặc khu trên địa bàn. Phiên họp do Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được chủ trì.
Viện trưởng Lê Thị Hà: Điện ảnh là cầu nối lan tỏa giá trị nhân văn cho thế hệ trẻ

Viện trưởng Lê Thị Hà: Điện ảnh là cầu nối lan tỏa giá trị nhân văn cho thế hệ trẻ

Baovannghe.vn - Theo Viện trưởng Lê Thị Hà, sứ mệnh của Viện Phim Việt Nam không chỉ là lưu giữ những cuốn phim trong kho tàng di sản, mà còn phải làm cho di sản ấy tiếp tục sống trong đời sống hôm nay, biến điện ảnh trở thành cầu nối để bảo vệ, yêu thương và lan tỏa những giá trị tốt đẹp nhất tới thế hệ tương lai.