![]() |
| Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh điều hành phiên họp toàn thể lần thứ Nhất của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, Quốc hội khóa XVI. |
Trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, Văn hóa được xác định không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là động lực nội sinh quan trọng cho tăng trưởng bền vững. Trọng tâm là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển đồng bộ trên cơ sở hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Điều này cho thấy đã và đang có sự thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm “quan tâm đến văn hóa” sang tư duy “đầu tư và tổ chức lại nguồn lực cho văn hóa”.
Ngay tại phiên họp thứ Nhất của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khóa XVI diễn ra chiều 7/4, vấn đề cơ chế, chính sách nhằm tạo đột phá cho phát triển công nghiệp văn hóa đã được đặt lên bàn thảo luận. Quan điểm tại phiên họp thống nhất, cần nhìn nhận Văn hóa như một trụ cột phát triển, một không gian kiến tạo con người, và một nguồn nội lực cần được khai mở bằng tư duy, thể chế.
Công bằng mà nói, không phải đến hiện tại, một định hướng lớn cho phát triển công nghiệp văn hóa mới được đặt ra. Gần đây nhất, tháng 1/2026 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết 80-NQ/TW, sau đó Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã kí Quyết định số 07-QĐ/TW về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong phát triển văn hóa.
Rất nhanh, những nghị quyết, quyết định nói trên đã được các địa phương triển khai với 8 nhóm nhiệm vụ, trong đó trọng tâm là tăng ngân sách từ 2% đến 4% cho phát triển văn hóa (tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng, di sản và con người) mục tiêu để công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030… Mục tiêu này cũng đồng nhất để văn hóa trở thành lĩnh vực tạo ra giá trị kinh tế rõ nét, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng.
| Dự thảo Nghị quyết 90 của Chính phủ gồm 10 điều: Điều 1 về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; Điều 2 về nguyên tắc áp dụng cơ chế, chính sách đột phá; Điều 3 về Ngày Văn hóa Việt Nam; Điều 4 về thu hút nguồn lực đầu tư cho văn hóa; Điều 5 về ưu đãi đầu tư, tài trợ, hoạt động trong lĩnh vực văn hóa; Điều 6 về khai thác vận hành, phát huy hiệu quả thiết chế văn hóa, thể thao; Điều 7 về bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; Điều 8 về chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng văn hóa, thể thao; Điều 9 về tổ chức thực hiện; Điều 10 về điều khoản thi hành. |
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy lĩnh vực văn hóa vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Đơn vị thực hiện - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa theo kịp yêu cầu phát triển; nhận thức về vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững chưa đầy đủ, dẫn đến việc thể chế hóa còn chậm và thiếu đột phá. Đầu tư cho văn hóa còn phân tán, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; các cơ chế khuyến khích xã hội hóa, thu hút nguồn lực ngoài nhà nước còn hạn chế.
Đáng chú ý, khung pháp lí cho phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí và bảo tồn, phát huy di sản còn thiếu tính tổng thể, chưa tạo được động lực đủ mạnh. Nguồn nhân lực văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu; việc gắn kết giữa bảo tồn và khai thác giá trị di sản với phát triển kinh tế vẫn còn lỏng lẻo.
Chính vì vậy, việc xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam được xem là bước đi cần thiết. Ngoài mục tiêu là tháo gỡ các rào cản thể chế, hoàn thiện hành lang pháp lí, còn tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội, đồng thời thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.
Việc đặt văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển không chỉ nhằm bảo tồn bản sắc mà còn hướng tới khai thác hiệu quả giá trị văn hóa như một nguồn lực kinh tế. Khi những điểm nghẽn được tháo gỡ, công nghiệp văn hóa được kì vọng sẽ trở thành một trong những trụ cột quan trọng, tạo xung lực mới cho tăng trưởng và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia
Để bắt tay vào thực hiện mục tiêu 5 năm nhiệm kì thứ Nhất của Bộ máy Chính phủ mới (2026-2030), với Nghị quyết số 90/NQ-CP, Chính phủ đã thống nhất trình Quốc hội dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam. Đây không chỉ là một bước đi mang tính thủ tục mà còn là một thông điệp chính trị rõ ràng: đã đến lúc phải tháo gỡ tận gốc những “điểm nghẽn” thể chế đang kìm hãm sự phát triển của văn hóa - lĩnh vực vốn được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội và là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước.
Nghị quyết 90 đã chỉ ra rằng, sự chậm trễ trong thể chế hóa các quan điểm, chủ trương lớn của Đảng thành chính sách cụ thể đã khiến lĩnh vực này thiếu đi động lực bứt phá. Không ít quy định pháp luật lạc hậu, chồng chéo, thiếu tính liên thông đã trở thành “rào cản vô hình” đối với cả hoạt động sáng tạo lẫn đầu tư phát triển.
Có thể thấy rõ những điểm nghẽn chính sách ngay trong từng lĩnh vực cụ thể. Chế độ đãi ngộ dành cho NSND, NSƯT đã tương đối rõ ràng, nhưng với nghệ nhân dân gian - những chủ thể lưu giữ di sản sống - vẫn còn thiếu sức thuyết phục, chưa tương xứng với giá trị họ đóng góp. Trong khi đó, ở lĩnh vực đào tạo đặc thù, từ khâu tuyển sinh đến cơ chế sử dụng, như việc giảm tuổi nghỉ hưu cho diễn viên múa, xiếc, vẫn còn nhiều bất cập, chưa phản ánh đúng đặc thù nghề nghiệp.
Cùng lúc, công tác quản lí nghệ thuật biểu diễn và sự phối hợp giữa du lịch với không gian văn hóa di sản còn rời rạc, thiếu một cách tiếp cận tổng thể. Hệ quả là một nghịch lí kéo dài: khai thác ngày càng mạnh, nhưng bảo tồn lại không theo kịp, khiến giá trị văn hóa bị bào mòn ngay trong quá trình phát huy.
Vì vậy, dù sở hữu kho tàng di sản văn hóa phong phú, nguồn lực con người dồi dào nhưng các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí vẫn phát triển dưới tiềm năng, chưa hình thành được những hệ sinh thái đủ mạnh để cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Sự thiếu vắng một khung pháp lí tổng thể, đồng bộ khiến cho các hoạt động từ bảo tồn, phát huy di sản đến phát triển thị trường văn hóa vẫn chưa tạo thành một tổng thể thống nhất làm nên sức mạnh mềm của Việt Nam.
Đã có thời gian, tư duy “đặt hàng” được kì vọng tạo ra những tác phẩm đỉnh cao và nâng tầm nhu cầu thưởng thức. Nhưng thực tế, cơ chế đầu tư văn hóa vẫn nặng dựa vào ngân sách, thiếu động lực xã hội hóa, khiến sản phẩm sau đầu tư chủ yếu hoàn thành mục tiêu chính trị hơn là chinh phục công chúng. Khi yếu tố nghệ thuật không đạt tới chiều sâu cảm thụ, tác phẩm không thể neo lại trong lòng người xem, càng khó tồn tại trên thị trường. Dẫn đến sự lãng phí đáng kể nguồn lực văn hóa không chỉ ở tiền bạc, mà ở cả cơ hội sáng tạo bị bỏ lỡ.
Như vậy, mấu chốt ở đây vẫn là thể chế. Việc Chính phủ thống nhất dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam ngay từ đầu nhiệm kì không chỉ là một động tác bổ sung chính sách, mà là sự chuyển dịch căn bản trong tư duy quản trị - từ hỗ trợ sang kiến tạo, từ cấp phát sang khơi thông.
Chúng ta đang từng bước gỡ bỏ những rào cản từ thể chế để khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hóa, và những động thái mới đây của Quốc hội, Chính phủ đã mang lại niềm tin sẽ có những “đột phá” trong môi trường sáng tạo nghệ thuật. Và như vậy, văn hóa không chỉ là “cái nền” mà còn là “cái lực”, vừa nuôi dưỡng bản sắc dân tộc, vừa tạo ra giá trị kinh tế, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, để văn hóa từ “tiềm năng” trở thành một trụ cột thực sự trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước trong kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc.