Sự kiện & Bình luận

Phía sau cổng làng

Hà Phạm Phú
Tiếng nói nhà văn 08:14 | 08/06/2026
Baovannghe.vn - Báo động hành quân lúc nửa đêm, để lại doanh trại phía sau, chúng tôi âm thầm đi qua thị trấn chỉ có một dãy phố Lai Xá, đi qua các làng mạc đẫm sương tiến về phía quầng sáng xa xăm mà chúng tôi biết đó là Hà Nội.
aa
Phía sau cổng làng
Nhà văn Hà Phạm Phú

Khoảng ba giờ sáng thì có lệnh dừng lại đào công sự cá nhân. Hố cá nhân của tôi sâu đến ngực. Tôi trải tấm áo ngụy trang được đan bằng lá chuối khô, ngồi tựa vào vách công sự ngủ. Tỉnh dậy thì trời đã sáng. Tràn ngập tiếng chim. Công sự của tôi ở ngay trước cổng làng. Một cổng làng nom cổ kính, chắc xây từ lâu, khá thấp nhưng đủ rộng để lão nông vác cày đánh trâu đi qua, trên ghi Thôn Vân Trì. Bước qua chiếc cổng làng vào trong đó có những gì nhỉ? Nhưng chúng tôi phải hành quân ngay, đi về Thái Bình diễn tập “Trung đoàn phòng ngự trong điều kiện có nguyên tử nổ”. Chuyện đó xảy ra vào nửa cuối năm 1962. Và do công việc, cũng chẳng có duyên nên tôi không có dịp nào trở lại thăm Vân Trì. Thương hải tang điền, không biết cái cổng làng Vân Trì ấy có còn không?

Trong đời, tôi đã đi qua rất nhiều làng mạc, đi qua bao nhiêu cổng làng, như làng Vân Trì (Hà Đông) thời bình lúc mới là cậu lính binh nhất, làng Pinh (Hà Giang) những năm 1980, phải oằn lưng chịu pháo chùm nã từ trên cao xuống. Không hiểu sao trong tôi, cứ trở đi trở lại câu hỏi, làng có từ bao giờ? Diễn tiến đời sống làng như thế nào? Nếu đất Thái Bình, thời cụ Nguyễn Công Trứ đem dân khai hoang lấn biển lập nên làng xã, chắc chắn được thành lập có tổ chức thì xa xưa hơn nữa, làng xã theo tôi ức đoán được thành lập là tự phát, do nhu cầu sống, chẳng hạn nhu cầu chống thú dữ, chống trộm cướp, chống xâm lấn.

Tôi sinh ra ở làng, làng trung du nghèo Đan Hà, lui vào phía rừng. Làng Đan Thượng ở ngoài soi, giáp sông. Hai làng có chung một ngôi đình, một ngôi đền và một ngôi chùa. Đình làng làm trên một gò đất thấp, gần Đầm Hà, nhìn ra sông Thao. Sân đình rộng, làng có việc hội họp hay có đám đều diễn ra ở đó. Đền thờ Cao Sơn Đại Vương dựng trên gò cao. Còn chùa thì lại xây ở gần chợ. Ngày trước hai làng Đan Hà, Đan Thượng cùng trong tổng Đan Thượng. Đâu như khoảng giữa những năm 1950 làng biến thành xã, đặt tên mới làng Đan Thượng thành Minh Đức, Đan Hà thành Minh Sơn. Tôi chả hiểu dựa trên cơ sở nào lại mệnh danh như thế. Rồi sau người ta phá cả đình lẫn chùa. Cái đền thì sống sót.

Những năm sau loạn lạc, đời sống kinh tế khá lên, văn hóa làng xã khỏe lại, Đan Hà, Đan Thượng đòi lại được tên cũ, đòi lại nền đất cũ, xây chùa. Còn đình thì không. Chắc là do có nhiều nhà văn hóa thay thế.

Trong không khí ấy, ông anh trưởng họ Phạm (họ mẹ tôi) giao nhiệm vụ đi tìm lại họ hàng trong Nghệ An. Đi tìm họ, tôi hiểu thêm về sự hình thành làng. Họ Phạm đến lập nghiệp ở Quỳnh Đôi tiếp sau các dòng họ khai cơ đầu tiên: họ Hồ, Nguyễn, Hoàng. Gia phả họ Phạm ghi nhận các dòng họ đến lập nghiệp vào khoảng đầu thời Lê trở đi. Các tài liệu công khai nói họ Phạm đến Quỳnh Đôi từ các vùng lân cận hoặc nơi khác đến theo xu hướng chiêu dân, lập ấp, khai phá vùng đất mới. Theo ông trưởng họ Phạm mà tôi gặp, thì cụ tổ ông họ Phan, từ Bắc Ninh vào, làm con nuôi họ Phạm. Dòng họ ấy sinh ra cụ Phạm Đình Toái, người đã nhuận chính bộ Đại Nam quốc sử diễn ca, rút gọn xuống 1.027 câu. Cụ Phạm Đình Toái đậu cử nhân năm 1843. Khi đỗ đạt cụ đã xin với vua Tự Đức đổi về họ Phan. Nhưng vua phê 6 chữ: Sống họ Phạm, chết họ Phan.

Bạn tôi, một người theo đuổi Hán - Nôm luôn thích thú đọc các bia ký, câu đối chữ Hán ở đình chùa còn lưu lại. Ông thường được các làng đề nghị giúp soạn thảo hương ước. Ông hay đùa tôi, ông làm thơ được tiếng, tôi viết thuê hương ước có miếng, chẳng biết ai hơn ai. Tôi bảo, hương ước là lệ làng, ông sao chép lại, ăn nhiều là nghẹn nha. Ông nghiêm mặt, đây là văn hóa, là luật pháp, lơ mơ là ăn đòn. Ngẫm ra, ông bạn tôi có lý. Theo Wikipedia, lệ làng có lẽ có từ thời thượng cổ nhưng văn tịch để lại thì chỉ có từ thời nhà Trần. Đến thế kỷ XV triều Hồng Đức nhà Hậu Lê thì hương ước mới rõ nét. Ngoài quy ước có tính cách luật pháp, hương ước còn đề ra những tập tục địa phương như tế tự, tang hôn, khao vọng.

Ông bạn tôi nói, nhà văn các ông khi viết mà không vững văn hóa làng xã, nhiều khi sai toét. Trước khi viết về làng xã, ông hãy liếc qua hương ước. Đây này, hương ước mỗi làng mỗi khác, chẳng hạn đề ra cách thức dân chúng tham gia việc làng. Có làng theo lệ trọng tuổi tác, tức là tuổi cao thì vào chiếu trên. Có làng thì theo lệ đề cao chức tước, ai từng làm quan thì tự nhiên có chân, phân ngôi thứ theo phẩm trật. Có làng thì lại trọng thi cử, đỗ đạt…

Hương ước vốn là văn hóa làng xã cố kết các dòng họ, dân chúng cộng đồng. Người Pháp khi đô hộ nước ta đã biết và khai thác nó, bổ sung vào việc tranh ngôi thứ trong làng, đưa vào thủ tục ma chay, cưới hỏi, đặc biệt là “khao vọng” tức ai lên chức, ai đạt được cái gì đó thì “khao”.

Làng luôn mang đặc trưng vùng miền, là không gian văn hóa, là một thứ bảo tàng hơn mọi bảo tàng - bảo tàng sống. Làng với các di tích, các công trình kiến trúc cổ xưa như đình, chùa, cổng làng, cây đa, bến nước. Tuy vậy, do biến đổi của thời cuộc, đặc biệt quá trình đô thị hóa xô bồ, văn hóa làng đang dường như nhạt nhòa dần. Theo các tài liệu nghiên cứu, cuối thời kỳ phong kiến, con số sát thực tế nhất là khoảng 18.000 làng xã. Ngày nay, những làng cổ còn lại có tiếng chỉ đếm trên đầu ngón tay: Đường Lâm, Đông Ngạc, Cự Đà (Hà Nội), Phước Tích (Thừa Thiên Huế), Nôm (Hưng Yên), Thổ Hà (Bắc Giang), Túy Loan (Đà Nẵng), Thiết Họa Tam Thanh, Lộc Yên (Quảng Nam), Phong Nam (Đà Nẵng), Long Tuyền (Cần Thơ), Cù Lần (Lâm Đồng), Pơ Mu (Sơn La), làng chài Cửa Vạn (Quảng Ninh).

Ở Đường Lâm, tôi quen một bạn văn, cây tùy bút xuất sắc Hà Nguyên Huyến. Đến thăm ông, phải đi qua cổng làng Đường Lâm, một cổng làng vào hàng cổ nhất Việt Nam, được xây dựng theo kiểu “thượng gia hạ môn” (trên nhà, dưới cổng). Mái lợp ngói vảy cá đỏ sẫm xòe rộng, uốn cong mềm mại; phía dưới là vòm cổng xây bằng đá ong đặc trưng Sơn Tây vững chãi. Những mảng tường rêu phong, màu vàng nâu của đá tạo nên cảm giác trầm mặc, cổ kính. Cạnh cổng là cây đa cổ thụ tỏa bóng mát và bến nước trong xanh, vẽ nên bức tranh làng quê Việt Nam thanh bình. Thăm ông Huyến, được ông dẫn coi, giảng giải và giới thiệu lịch sử những ngôi nhà, ngôi chùa làng; còn được ông đãi một bữa cơm kiểu Đường Lâm thật đã đời. Ông Huyến bảo, Đường Lâm là đất hai vua, triều đại nào cũng phải vị nể. Riêng cổng làng được xây dựng năm 1833 thời vua Minh Mạng. Đây là chiếc cổng cổ hiếm hoi còn sót lại nguyên vẹn tại vùng đồng bằng Bắc bộ.

Tôi bỗng nhớ bài thơ Cổng làng của Bàng Bá Lân viết năm 1934, có những đoạn: “Sáng sớm, trên đường đi tới chợ/ Những cô thiếu nữ gánh đôi bồ/ Bà già chậm chạp chống cây gậy/ Đi lễ chùa xa, áo vải thâm…/ Bao nhiêu thế kỷ lần trôi qua/ Cổng làng còn giữ nét thâm u/ Người đi, người đến, bao nhiêu bận/ Cổng làng im lặng ngắm ngàn thu…”

Viết gần xong bài này, tôi quyết định thuê một cậu xe ôm phóng từ Hà Đông qua Cầu Diễn, qua Nhổn rồi Lai Xá. Tôi hơi choáng, như đi vào một thế giới khác. Giữa những tòa nhà cao vút, những khu nhà liền kề, biệt thự sang trọng, tôi không thể tìm ra Lai Xá trong ký ức. Cũng không biết tìm đâu cổng làng Vân Trì.

Xa lắc quá, không thể đi tới được. Tôi biết con người không có phép thuật quay ngược thời gian, giữ một ngôi làng cứ mãi nép sau lũy tre khi thế giới đổi thay vũ bão. Tôi bỗng nghĩ đến những con số có khả năng thức tỉnh, những con số thống kê khách du lịch thăm Xứ Đoài: Trung bình hằng năm khách thăm làng cổ Đường Lâm khoảng từ 500.000 đến 650.000; khách thăm thành cổ Sơn Tây và Đền Và cũng khoảng ấy nữa. Cái gì thu hút khách thế, không phải những tòa nhà cao chọc trời, những khu đô thị sang trọng. Ngẫm thì thấy.

Dạy bố học chữ - Thơ Nguyễn Ngọc Hưng

Dạy bố học chữ - Thơ Nguyễn Ngọc Hưng

Baovannghe.vn- Tỉnh dậy sau đột quỵ/ Bố quên đọc, viết rồi/ Muốn nhanh nhanh hồi phục
Thế giới thơ của Đàm Chu Văn

Thế giới thơ của Đàm Chu Văn

Baovannghe.vn - Tôi thích quan điểm này của Chế Lan Viên: Thơ cần có hình cho người ta thấy, có ý cho người ta nghĩ và cần có tình để rung động trái tim.
Cây đa góc phố -Thơ Nguyễn Đức Quang

Cây đa góc phố -Thơ Nguyễn Đức Quang

Baovannghe.vn- Ngỡ từ quê tìm đến/ Toả mát cả góc đường
Ông hàng xóm... Truyện ngắn của Nguyễn Tuấn Dũng

Ông hàng xóm... Truyện ngắn của Nguyễn Tuấn Dũng

Baovannghe.vn - Ông ấy cứ cặm cụi làm có một mình. Khi cuốc đất, lúc ngồi xa lê nhổ cỏ, lúc hùng hục đánh gốc cây. Việc này mệt chuyển đổi sang việc khác. Có lúc ông ngâm thơ nho nhỏ rồi cười.
Thành phố Hồ Chí Minh ươm mầm thế hệ làm phim mới

Thành phố Hồ Chí Minh ươm mầm thế hệ làm phim mới

Baovannghe.vn - Tối 6/6, Liên hoan phim ngắn TP.HCM lần thứ hai chính thức khai mạc với chủ đề “Khơi nguồn sáng tạo trẻ - Kiến tạo thành phố điện ảnh”, khẳng định vai trò là sân chơi nghề nghiệp dành cho các nhà làm phim trẻ trên cả nước.