Trong tư cách của người đọc, tôi thường có thói quen cố gắng đi tìm thế giới hình ảnh, những tầng ý ẩn khuất trong thi ảnh và cái tình ấm áp của người nghệ sĩ chất chứa trong ấy, những rung động chân thật giữa trái tim khát khao giao cảm với cuộc đời làm nên những hình ảnh thơ thăm thẳm ý của thi nhân. Tôi hiểu rằng: Ba yếu tố “hình” - “ý” - “tình” trong thơ luôn vận động trong một quan hệ hữu cơ. Trong thơ, hình tượng mở ra thế giới cảm nhận, tư tưởng gợi chiều sâu suy tưởng, còn cảm xúc tạo nên sức rung động thẩm mĩ. Nên khi đọc thơ, tôi luôn bị hút vào “hình” - “ý” - “tình” trong thơ, nó như một thứ ma lực, tôi không thể nào thoát ra được.
|
Và hôm nay, khi ngồi đọc tập Luân hồi lá của nhà thơ Đàm Chu Văn, tôi đã gặp được những câu thơ giàu hình ảnh, gợi nhiều suy tưởng, cảm xúc trong mối quan hệ giữa thơ ca với cuộc đời. Ở bài thơ Thăm Đền Hùng ngày xuân, chúng ta bắt gặp hai câu thơ: “Ao đền súng tím trổ bông/ Sắc hoa Đền Giếng bóng lồng trời mây.” Chỉ bằng hai dòng thơ ngắn gọn, nhà thơ đã dựng lên trước mắt người đọc một không gian vừa cụ thể vừa linh thiêng. Hình ảnh “súng tím trổ bông” trên mặt ao gợi nên sắc xuân dịu nhẹ, trong khi cụm từ “bóng lồng trời mây” mở ra chiều sâu không gian, cảnh vật và tâm hồn như hòa nhập vào vũ trụ bao la. Thiên nhiên không chỉ được miêu tả mà còn được nâng lên thành hình tượng trong mối quan hệ suy tưởng của thi nhân. Thiên nhiên trở thành biểu tượng văn hóa, khơi gợi nhiều suy ngẫm về lịch sử, về thời đại. Đền Hùng - nơi cội nguồn dân tộc - hiện ra trong sự hòa quyện giữa đất, nước và trời. Hình tượng thơ vì thế không chỉ cho người đọc “thấy” một cảnh sắc mà còn gợi cảm nhận về chiều sâu lịch sử và tâm linh của không gian đất Tổ và ý thức sống của chúng ta, những con người trong xã hội chuyển đổi số hôm nay. Những hình ảnh trong bài Phố đá và em cũng rất gợi: “Bàn tay em chạm vào tuổi đá/ non mềm tươi lại đôi mươi/ bàn chân em bước lên vai đá/ công kênh đá nở môi cười.” Ở đây, hình ảnh “đá”, vốn là biểu tượng cho sự cứng rắn, vô tri, đã được “ý”, “tình” của thi nhân nuôi dưỡng, làm nên sức sống như một con người bằng xương bằng thịt, tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân. Khi “em” xuất hiện, “tuổi đá” bỗng “non mềm”, “tươi lại đôi mươi”, thậm chí “đá nở môi cười”. Đọc những câu thơ như thế, chúng ta dễ dàng nhận ra đó không phải là kết quả của thị giác sinh động mà còn là sự cảm nhận của con tim biết yêu đắm say cuộc sống. Vì thế, đá không còn là vật thể vô cảm mà trở thành một thực thể có linh hồn. Từ góc độ thi pháp học, có thể nói nhà thơ đã thực hiện một sự chuyển hóa cảm giác, biến cái vô tri thành cái hữu tình, qua đó tạo ra một không gian nghệ thuật nơi con người và thiên nhiên tương giao, nơi câu thơ giao nhau giữa “hình” - “ý” - “tình”.
Đọc Luân hồi lá của Đàm Chu Văn có những bài thơ tôi phải dừng lại để nghĩ. Trong thực tế của đời sống văn học, quá trình tiếp nhận văn học, đặc biệt là ở thể loại thơ ca, đôi khi hình tượng thơ chỉ chạm đến bề mặt của thế giới cảm giác. Nó đòi hỏi người ta phải nghĩ nhiều. Nói như Chế Lan Viên, “có ý cho người ta nghĩ”. “Ý” trong thơ không phải là những mệnh đề triết học khô khan mà là tầng nghĩa tiềm ẩn, khơi gợi sự liên tưởng, suy ngẫm từ người đọc bằng chính những trải nghiệm của mình từ cuộc sống, trong mối quan hệ mở, qua hệ thống hình tượng và cấu trúc ngôn ngữ. Nó buộc người đọc phải tham gia vào quá trình kiến tạo ý nghĩa, biến việc thưởng thức thơ thành một hoạt động tư duy thẩm mĩ. Có lẽ vì thế, tôi đã đứng trước một số câu thơ trong bài Lá trung quân và suy ngẫm:
“…
trung quân
sắc lá bền gan
ai đặt tên cho lá giữa ngợp xanh đại ngàn
…
mùa đi
những mắt lá thức đợi
mặc nhiên xanh.”
(Lá trung quân)
Hình ảnh Lá trung quân mang tính biểu tượng “trung quân/ sắc lá bền gan/ ai đặt tên cho lá giữa ngợp xanh đại ngàn.” Trong bối cảnh “ngợp xanh đại ngàn”, việc đặt tên cho một chiếc lá dường như là hành động vô nghĩa. Nhưng chính câu hỏi “ai đặt tên cho lá” lại mở ra một tầng suy tư khác: phải chăng trong thiên nhiên rộng lớn, con người luôn tìm cách tự học cách sống chậm lại, biết cách lắng nghe… Vì thế, khi đọc những câu thơ trên, từ hình tượng chiếc lá trung quân, tôi luôn suy nghĩ về mối quan hệ giữa thiên nhiên và nhân cách con người. Trong chiều sâu suy tưởng ấy, tôi dừng lại ở những câu thơ cuối bài rất lâu: “mùa đi/ những mắt lá thức đợi/ mặc nhiên xanh.” Ở bài thơ này, nhà thơ sáng tạo hình ảnh “mắt lá”, một ẩn dụ về cuộc sống đầy thi vị! Lá không chỉ là một bộ phận của cây mà trở thành một chủ thể, như một con người, biết “thức đợi”. Sự “mặc nhiên xanh” của lá không phải là trạng thái thụ động mà là biểu hiện của sự bền bỉ âm thầm của sự sống. Do đó, những câu thơ đã gợi lên trong tôi những tầng ý nghĩ về tính liên tục của sự tồn tại: mùa có thể đi qua, nhưng sự sống vẫn kiên nhẫn chờ đợi để tái sinh…
Thơ ca là thế giới của cảm xúc, là tiếng lòng của thi nhân trước cuộc sống. Hay nói cách khác, đó là cái “tình” của nhà thơ trước con người và cuộc sống. Hình tượng tạo nên thế giới nhìn thấy, ý trong thơ mở ra chiều sâu suy tưởng thì cảm xúc là yếu tố làm cho thơ trở thành nghệ thuật của tâm hồn, là tiếng lòng đồng điệu lắm dư ba… Không có tình cảm chân thật của thi nhân trước con người và cuộc đời, thơ sẽ chỉ còn là những cấu trúc ngôn từ lạnh lẽo, là thế giới hình ảnh cơ học sơ cứng. Trong những câu thơ của Đàm Chu Văn, dòng cảm xúc thường không bộc lộ trực tiếp mà lan tỏa một cách lặng lẽ, tạo nên dư âm... Trong bài thơ Bâng quơ buông bỏ, tôi bắt gặp một thứ “tình” như thế: “Bỏ tình, hái cái thông thênh/ Vẫn xa thăm thẳm, vẫn duềnh khát khao…” Hai câu thơ gợi lên một nghịch lí tâm trạng. Con người tưởng rằng buông bỏ tình cảm sẽ đạt được sự “thông thênh”, nhưng thực chất nỗi khát khao vẫn còn đó, “xa thăm thẳm”, “duềnh” như sóng nước bao la… Ở đây, cảm xúc không bùng nổ mà lan tỏa trong một trạng thái trầm lắng, khiến người đọc cảm nhận được nỗi cô đơn và khát vọng sâu kín của con người trước cuộc đời.
Như đã nói trên, tôi đọc tập thơ này không có tham vọng khai thác những điều gì đó lớn lao, to tát từ giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Tôi chỉ đọc ở tư cách một người đọc cảm nhận những câu thơ mà theo cá nhân tôi là hay, là ám ảnh trong mối quan hệ của ba yếu tố “hình” - “ý” - “tình” trong thơ. Vì thế, tôi đã gặp gỡ tác giả trong mối quan hệ đồng cảm ấy, từ cảnh sắc thiên nhiên hoa súng tím bên ao đền, đến chiếc lá giữa đại ngàn, hay những phiến đá từ bàn tay con người tạo tác… tất cả đều được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ luôn tìm kiếm sự hòa điệu giữa con người và thế giới, rồi chuyển tải những ý tình ấm áp đó đến với người đọc qua thế giới ngôn từ nghệ thuật giàu hình ảnh của thơ.
Chính trong sự hòa quyện ấy, thơ trở thành nơi con người không chỉ nhìn thấy thế giới mà còn suy nghĩ về nó và rung động trước nó. Và có lẽ, đó cũng là lí do khiến những câu thơ giản dị trong tập Luân hồi lá lại có dư ba trong tâm hồn người đọc…