Kể chuyện, là hình thức của ngôn ngữ nói hoặc viết. Nhưng có một hình thức kể khác, thầm lặng mà sống động hơn: thông qua hình ảnh kỷ vật.
Mà kỷ vật, ngoài những món đồ có thể nhìn được bằng mắt, sờ được bằng tay, thì cũng có những kỷ vật vô hình nằm yên trong ngăn ký ức của người xưa hay lớp hậu bối, như tôi. Chỉ chờ dịp là dậy động cả một khoảng trời...
Ông ngoại tôi là nông dân chính gốc Củ Chi. Trong nhà tôi, vật dụng toàn là những nông cụ liên quan đến việc đồng áng. Hầu như nhà không có món đồ nào quý hiếm trưng để ngắm. “Vật dụng là phải hữu ích mới tích trữ”, ông ngoại tôi thường áp suy nghĩ gia trưởng mà thực tế ấy cho cả nhà.
Thế nhưng, ông bà ngoại có một món đồ mà mấy chị em tôi mê tít thò lò. Bởi nó vừa là thứ có thể sờ và ngắm được, lại còn “sản xuất” ra vô vàn thức bánh thơm ngon. Đúng vậy, nó là cái cối đá! Cái cối đá nặng trịch đặt ngay cạnh giếng bên hông nhà là thứ mà bà ngoại tôi thường dùng xay bột làm bánh. Và cũng từ cái cối đá đó, đã cho chúng tôi những thứ bột bánh ngon nhất trần đời.
Cái cối đá ở nhà quả đúng là món đồ mà tôi có thể “vênh mặt” với đám bạn trong xóm. Nhưng nghĩ kỹ, vẫn không thể sánh bằng món đồ nhà ông bà ngoại của Tí Nị. Diễn giải về mối quan hệ giữa tôi và thằng Tí Nị cụ thể là thế này, chúng tôi là anh em họ. Bà ngoại nó (tôi còn gọi bà ngoại Hai) và ông ngoại tôi là chị em ruột.
Hồi nhỏ, vào những dịp đám giỗ nhà bà ngoại Hai, ba mẹ thường dẫn tôi theo. Nhà ngoại Hai to và rộng lắm. Đồ đạc bày biện toàn thứ đắt tiền. Nhưng thứ có khả năng “thôi miên” được đứa trẻ, là tôi khi ấy, chính là món đồ kỳ quặc: một cái quạt xấu xí, cũ xì được trưng rất trang trọng. Quạt đặt nằm chễm chệ một góc ngay trung tâm tủ kính.
“Đó là quạt con cóc, vật kỷ niệm của ông bà”, dì Út, mẹ thằng Tí Nị giải thích khi thấy tôi cứ ngẩn ngơ nhìn không chớp mắt vào cái vật kỳ lạ ấy.
Dì Út tay vừa soạn mớ bánh trái, vừa chậm rãi kể cho tôi nghe về thời thiếu ăn, đói mặc. Ăn thì toàn cơm trộn bo bo, củ mì. Quần áo mặc lại của anh chị lớn hoặc những bộ đồ bỏ đi từ những gia đình khá giả hơn. Họ đem cho khi biết hoàn cảnh khó khăn của nhà dì. Và trong mớ ký ức nhòe mờ, chiếc quạt con cóc như một nhân chứng nhắc nhớ thế hệ cháu con không bao giờ được quên một phần kỷ niệm của người đi trước, tức cha mẹ dì. Dì kể, những năm tháng chiến tranh ác liệt, cha dì tập kết ra Bắc. Mẹ ở nhà quán xuyến gia đình và chờ chồng với niềm mong ước sục sôi: ngày đất nước yên tiếng súng.
Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, không những cha dì bình an trở về mà bạn bè ông cũng theo về cùng. Quà gặp mặt sau những năm tháng cách xa, đơn giản như chính cốt cách của những người lính. Nhưng trong số những món quà đó, có một thứ “không đụng hàng”, nghe đâu mua với giá gần 40 đồng. Dì nói, trong lúc ông ngoại Hai còn ngập ngừng thì một người bạn chí cốt của ông đã đỡ lời và còn nói thêm: “Chiếc quạt con cóc này, trông có vẻ xấu xí nhưng công năng vô cùng tiện lợi à nhen!” Quả thật, hình dáng cái quạt bé xíu hệt một con cóc, trông thô và hơi... kỳ dị. Sở dĩ, bạn bè ông ngoại Hai nhọc công “hiến kế”, bày vẽ cho ông chọn một vật lạ lùng để làm quà cho vợ, cốt yếu, họ muốn ông mang về miền Nam thứ hơi thở từ mảnh đất đầu tiên đã chế tạo ra loại quạt này, để lúc buồn ông còn có cái mà nhớ về những ngày tháng trên mảnh đất Bắc cùng anh em.
Bẵng đi thời gian, các con của ông bà ngoại Hai gặp thời, gặp vận làm ăn khấm khá, thành đạt nên đã cùng nhau xây một căn nhà khang trang cho ông bà vui hưởng tuổi già. Căn nhà xây lối kiến trúc Nam bộ xưa, ba gian hai chái, lợp bằng ngói âm dương, cột chạm khắc công phu. Bên trong, ngoài bàn thờ gia tiên thì có đặt cái tủ thật to, dành trưng bày những món đồ quý hiếm. Quạt con cóc tuy được đặt cạnh những món đồ giá trị và sang trọng về vật chất, nhưng tính về giá trị tinh thần thì nó vẫn chiếm ưu thế và thuộc hàng “độc lạ” nhất.
Vào những ngày cuối đời, ông bà ngoại Hai không một người nào và không một ngày nào ông bà quên nhắc đi nhắc lại đám con cháu nhớ gìn giữ cẩn thận món quà năm xưa của ông bà cho thật kỹ. Vậy nên, cái quạt con cóc nghiễm nhiên được các cậu dì, đặc biệt là dì Út hết mực nâng niu.
Không có nhiều điều kiện như nhà bà ngoại Hai, ông ngoại Tư hay nhà ông bà ngoại tôi. Nhà bà ngoại Năm chật vật hơn nhiều. “Người nghèo cũng có kỷ niệm của người nghèo mà con!” Bà ngoại Năm thường từ tốn nói vậy, mỗi khi tôi hoặc ai đó nhắc hoặc lo ngại gia cảnh túng thiếu của bà.
Nhà ngoại Năm con đông nên phải chạy ăn từng bữa, nhưng tâm hồn bà là cả bầu trời tri thức, dù không ai rõ ngày xưa ngoại Năm học hành tới đâu. Tôi và đám trẻ rất thích chơi với ngoại Năm, bởi bà không bao giờ lớn tiếng với con nít. Hễ tụi nhỏ bu quanh là bà lại cất giọng đọc cho chúng tôi nghe rất nhiều truyện thơ Nôm dưới dạng lục bát. Nhờ bà, mà sau này tôi cũng có một mớ bài gọi là khè bạn bè cùng đám cháu. Với tôi, bài học làm người đôi khi gói cả trong mấy lời văn thơ ý nhị từ bà.
Những bài học làm người ấy, thoạt nhìn không sờ hay chạm được mà có sức sống bền bỉ vô cùng.
Nhà tôi, không có quạt con cóc. Bà và mẹ tôi cũng không biết nhiều bài thơ, đoạn văn phong phú. Từ thuở nhỏ, thứ giúp tôi đi qua những ngày hè nóng bức chính là chiếc quạt làm bằng mo cau và những bài thơ của ngoại Năm. Chúng đã bầu bạn, vỗ về tôi suốt thời ngây ngô cho đến tuổi trưởng thành.
Tôi biết, mỗi người sẽ hiểu về thời bao cấp theo vệt ký ức với từng câu chuyện khác nhau. Riêng tôi, chưa khi nào tôi nguội đi lòng biết ơn tổ tiên, ông bà, ba mẹ và những thế hệ đi trước. Họ đã nhường hết thảy những gì no ấm, đủ đầy cho thế hệ chúng tôi.
Còn đối với các bạn trẻ bây giờ, chắc sẽ không có những cảm nhận như tôi, như thế hệ anh chị tôi. Và chắc hẳn, các bạn cũng ít được diễm phúc gần gũi với những kỷ vật, mà ở đó, gói cả bầu trời ký ức khó diễn tả trọn vẹn.
Và với tôi, giá trị của một kỷ vật là việc thông qua ký ức và ký ức thì chỉ sống được khi có ai đó lan tỏa và trao đi.
Thỉnh thoảng, tôi hay nghe mọi người vè về sự thiếu đói thuở xưa như vầy:
“Nhất gạo nhì rau
Tam dầu tứ muối
Thịt thì đuôi đuối
Cá biển mất mùa
Đậu phụ chua chua
Nước chấm nhạt thếch
Mì chính có đếch
Vải sợi chưa về
Săm lốp thiếu ghê
Cái gì cũng thiếu...”
Tự dưng, tôi bâng quơ tự hỏi. Giờ, các bạn trẻ, các em nhỏ đói nhất món gì nhỉ? Phải chăng là ký ức xưa của người xưa...
![]() |
| Nguồn: Pinterest |