| PGS.TS Phạm Quang Long sinh năm 1952, quê Thái Bình. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1975), nhận bằng Tiến sĩ Văn học tại Đại học Tổng hợp Leningrad (1984). Ông có nhiều năm giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, từng giữ các vị trí Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Phó Hiệu trưởng, Hiệu trưởng; sau đó là Phó Giám đốc ĐHQGHN và Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội.
Bên cạnh nghiên cứu lí luận văn học và văn hóa, ông là tác giả nhiều tiểu thuyết được bạn đọc đón nhận như Lạc giữa cõi người, Bạn bè một thuở, Cuộc cờ, Chuyện làng, Mùa rươi, Chuyện phố, Trưởng tộ |
Nếu phải chọn một khoảnh khắc khiến ông tin rằng “mình sẽ viết văn”, khoảnh khắc ấy đến khi nào: lúc đứng lớp, lúc làm quản lí, hay chỉ thật sự xuất hiện sau khi ông rời quan trường?
Thực ra ảo tưởng thành một người viết văn của tôi xuất hiện khá sớm. Khi đang học phổ thông tôi đã tập viết. Tốt nghiệp đại học tôi vẫn mơ viết nhưng tôi vào đời bằng nghề dạy học và yên tâm làm một anh giáo. Chả biết vì điều gì, nhưng mấy chục năm ý nghĩ viết văn biến mất tự khi nào không rõ. Không chút tăm tích. Năm 2008 hay 2009 gì đó, khi tôi “nhúng bút” vào kịch bản Oan khuất một thời bằng lời thoại, NSND Doãn Hoàng Giang đạo diễn vở ấy thấy vậy mới bảo tôi: “mày viết kịch đi, anh dựng cho. Mày viết được. Anh chỉ cần tư tưởng còn trò này trò kia, để anh.” Từ động viên của anh mà tôi viết liền một mạch tám vở, có ba, bốn vở đã chuyển thể và được dàn dựng. Còn tiểu thuyết thì sau khi nghỉ hưu tôi mới bắt đầu viết.
Vậy những năm làm việc trong bộ máy hành chính - giáo dục đã cho ông điều gì quan trọng nhất để viết: vốn nhân vật, vốn tình huống, hay một vốn hiểu biết về ngôn ngữ của quyền lực?
Những năm đi làm, cấp cho tôi rất nhiều thứ cần cho khi viết. Tôi hiểu cuộc đời sâu hơn, đa chiều hơn. Môi trường nhà trường cho tôi vốn tri thức, vốn học vấn (tôi chuyên dạy các vấn đề lí thuyết văn nghệ nên đọc và nghiền ngẫm nhiều) còn khi tham gia bộ máy hành chính thì thực tế cho tôi vốn sống rất có ích cho sự viết. Ở trường tôi hiểu logic công việc, logic chân lí là quan trọng nhất. Ra đời, tôi hiểu logic quan hệ và logic lợi ích quyết định nhiều thứ. Nó khủng khiếp nhưng lại vẫn tồn tại vì cái lí của nó. Không tránh được mà phải đối đầu với nó để tồn tại nên nhiều khi tôi khốn khổ là vì thế.
|
Khi ngồi xuống viết tiểu thuyết, “ông thầy lí luận” trong ông còn can thiệp không, hay ông phải đẩy ông ấy ra ngoài cửa?
Một câu hỏi rất thú vị. Cả đời tôi dạy lí thuyết văn học. Các bài viết về chuyên môn của tôi cũng đầy chất “lí sự”. Tôi nghĩ chất “lí sự” nghề nghiệp có thấm vào tôi nhưng khi tôi viết thì hình như “ông ta” buông tôi hay tôi bỏ rơi ông ta cũng không biết nữa. Lí thuyết văn xuôi dạy tôi là phải có bố cục, cốt truyện, sơ đồ nhân vật chính phụ, vấn đề trung tâm, vấn đề phụ, v.v... Tôi nằm lòng những thứ đó nhưng quả thực, khi viết tôi quên hết chuyện này. Bằng chứng là không bao giờ tôi xây dựng đề cương tác phẩm, vẽ sơ đồ nhân vật. Tôi viết kịch như viết truyện. Khi viết tiểu thuyết tôi chỉ nghĩ nhiều về tư tưởng, vấn đề trong đầu và khi mọi thứ đã hòm hòm là tôi viết. Khó nhất chương đầu, nhân vật đầu. Khi đã xong phần này thì các câu chuyện, nhân vật khác cứ gọi nhau xuất hiện trong những giăng mắc này khác và khi hết chuyện thì tôi dừng. Nhân vật và câu chuyện bắt tôi dừng chứ không phải tôi tự ý chấm dứt mọi chuyện. Thế nên truyện của tôi lỏng lẻo về kết cấu và kịch của tôi khó dựng nhưng tôi viết như lí trí mách bảo thế chứ không nghĩ đến những lí thuyết đã học. Có lẽ nó “chuyển hóa” lúc nào mà tôi không thấy chăng?
Trong mạch tác phẩm của ông, “làng” cứ trở đi trở lại. Khi ông viết về làng, ông đang viết về một địa điểm, một tâm thế, hay một thứ “cấu trúc xã hội” vượt lên tổ chức địa dư?
Một nhà phê bình cho rằng tôi rời “làng” đã gần một hoa giáp nhưng đọc tôi, dù viết về làng hay phố, thì vẫn thấy một anh nhà quê nguyên chất. Tôi nghĩ anh ấy nói đúng về con người tôi còn điều đó tốt hay xấu thì tôi không biết. Làng là một điểm, một tâm thế hay một cấu trúc xã hội vượt lên tổ chức địa dư là một cách “trừu tượng hóa” đối tượng ra theo các ranh giới, tính chất để nghiên cứu thôi. Với tôi, làng là một thực thể sống, nó có cả mấy yếu tố trên và nhiều thứ khác nữa. Trong bốn cuốn đã in chuyên về “làng” và cả mấy cuốn không chuyên về làng đều có một cái làng luôn tồn tại. Tôi vui khi thấy nhiều người nói cái làng của tôi giống làng của họ, thấy hồn cốt làng. Tôi không viết về một làng cụ thể nhưng khi viết tôi hình dung ra một cái làng có địa dư, cấu trúc, cảnh quan và con người, cả quá khứ và hiện tại. Tôi đặt nhân vật vào môi trường của nó, cho nó hoạt động. Tôi nghĩ và làm thế còn gọi là gì thì tôi cũng không để ý.
Ông sinh hoạt và làm việc chủ yếu trong môi trường trí thức - đô thị. Ông làm thế nào để tránh cái nhìn “từ trên xuống” khi viết về nông thôn?
Tôi cũng không biết tôi có cái nhìn đó hay không. Bây giờ tôi vẫn thấy mình là thành viên của làng. Ngày còn nhỏ, nhà tôi rất nghèo, neo người. Cả làng nghèo nhưng tôi đi học được nhờ một phần giúp đỡ của họ hàng, bà con trong làng. Khi đói, họ cho vay thóc, khoai, ngô. Đi làm hợp tác, họ làm thêm phần cho tôi. Khi tôi làm điều gì sai trái, họ khuyên bảo. Tôi là sản phẩm của một thời và của làng. Đến giờ, mọi sinh hoạt của làng như công việc chung, ma chay, cưới xin tôi vẫn tham gia như một thành viên. Chưa bao giờ tôi thấy mình bật ra khỏi làng và dù xa làng rất lâu, may mắn thay, làng vẫn chấp nhận tôi. Tự tôi thấy mình không khác họ và chưa bao giờ trong tôi có ý nghĩ nhìn xuống, cần bênh vực họ. Trái lại, nhiều thứ bây giờ tôi vẫn học họ, nhất là học để sống.
Khi viết về “triết lí”, “đạo lí”, “tình người”, ông dựa vào trải nghiệm cá nhân, hay ông có một hệ quy chiếu tư tưởng (sách, triết học, nhân học, sử học) đứng phía sau?
Tôi cũng không biết nữa. Có lẽ sách vở cũng góp phần định hình nên tôi. Nhưng cái chính, như tôi nói ở trên, tôi là sản phẩm của một hoàn cảnh: Cái thời đói khổ nhưng trong trẻo và vị tha cùng môi trường gia đình đã dạy tôi biết tránh điều gì và nên làm điều gì. Gia đình bên ngoại tôi bị nhiều oan uổng thời cải cách ruộng đất nhưng sau này khi tôi hỏi về chuyện này, mẹ tôi bảo: “Quên những chuyện ấy đi. Tại anh tại ả cả. Cái gì đáng quên thì không nên nhớ, cái gì đáng nhớ thì không được quên. Tử tế với nhau mới khó chứ ăn miếng trả miếng nhau làm gì.” Tôi khắc cốt ghi tâm điều đó và vẫn nói với con cái tôi như vậy.
Có người nhận xét ông kể chuyện “lan man, tạt ngang tạt dọc”. Đó là một chủ ý lựa chọn thi pháp, hay đơn giản là cách ông giữ nhịp sống đời thường của câu chuyện? Rất nhiều chi tiết ẩm thực, phong tục, giỗ họ, từ đường… xuất hiện dày đặc trong tiểu thuyết của ông, với ông, đó là hồn cốt văn chương, là kí ức cần phải lưu giữ hay chỉ là chất liệu dân tộc học?
Tôi nghĩ họ nói đúng nhưng không biết gọi nó là gì vì chưa bao giờ nghĩ xem nó là gì, mình cần nó làm gì. Tôi cho rằng đời sống không chỉ có một mạch. Nó nhiều mạch lắm. Mạch ngầm, mạch nổi, ngang dọc, đan xen... Những “lan man, tạt ngang, tạt dọc” ấy tôi thấy nó hiện hình trong những câu chuyện tôi nghe, những gì tôi biết nên tôi viết lại như một trải nghiệm, một nhận thức, một hình dung về cuộc sống. Tôi không biết gọi nó là gì vì khi viết có gì đó mách bảo tôi đó là đời sống và tôi viết theo sự nhắc nhở ấy.
Theo ông, một nhà văn viết về văn hóa mà thiếu tri thức xã hội học, lịch sử, nhân học… có dễ rơi vào thứ văn chương hoài niệm và định kiến không? Một cuốn tiểu thuyết về làng hôm nay, cần tình cảm hoài niệm hơn? Nhưng nếu thiếu tri thức xã hội học, lịch sử, nhân học, nó có dễ rơi vào thứ “văn chương phong vị” không?
Về lí thuyết mà tôi được học và cũng từng nói với sinh viên thì đúng là như thế. Các tác phẩm lớn có bao nhiêu thứ trong đó, không riêng một loại nào. Ông K. Marx chuyên làm chính trị mà nói tác phẩm của H. Balzac phong phú hơn rất nhiều tri thức của các nhà xã hội học, kinh tế học, chính trị học... “thời ấy cộng chung lại”. Tác phẩm của ông L. Tolstoy thì được xem là xuất sắc vì trước ông chưa có ai viết về người nông dân Nga như thế... Tôi là một người viết nghiệp dư, không biết thế nào là đúng nhưng với tư cách là một người đọc tôi hiểu rằng để dựng lại được một thời với tất cả các quan hệ ràng buộc, giăng mắc, thấy được chiều sâu của đời sống ở một giai đoạn... thì những tri thức xã hội học, lịch sử, nhân học... đều cần nhưng chưa đủ. Tri thức vẫn chỉ là tri thức. Nó không thể thay thế cho hoạt động của sáng tạo mà sáng tạo của nhà văn là lột tả được tâm hồn con người, cộng đồng người trong một giai đoạn đầy biến động như hôm nay là điều vô cùng khó.
Một người viết chỉ dựa vào trải nghiệm cá nhân mà thiếu nền tảng đọc và tư duy phân tích, theo ông, có thể đi xa đến đâu? Khi nào thì câu chuyện biến thành nhật kí?
Đây là một vấn đề của lí thuyết văn nghệ. Ở các nhà văn lớn mà tôi biết kinh nghiệm cá nhân vô cùng quý nhưng nó chỉ là một phần làm nên tác phẩm. Cái cốt lõi của một nhà văn lớn là sáng tạo và tư tưởng. Cái đó một phần thuộc về tài năng nhưng tài năng chỉ thăng hoa khi họ có tri thức và tư tưởng hơn người. Cái đó có từ việc đọc và học suốt đời. Tư duy nghiên cứu và phân tích ở những nhà văn lớn thực sự là tư tưởng và thao tác của một nhà khoa học lớn. Nó khác với nhà khoa học chỉ ở cách thể hiện. Những điều này tôi học trong sách và nhắc lại vậy. Còn viết theo kiểu gì và khi nào nó trở thành nhật kí thì tôi không biết nhưng thiển nghĩ khi nó hết sáng tạo, hết cái mới, hết là một tác phẩm đích thực.
Người ta hay nói “phải sống trong làng mới viết được về làng”. Ông có tin tuyệt đối vào “vốn sống”, hay điều quyết định là năng lực quan sát và cấu trúc hóa đời sống?
Câu hỏi này lớn, phải để những nhà văn có những tác phẩm lớn trả lời. Với tôi, thì thế này: Trong Trưởng tộc của tôi có một nhân vật nói về một người về hưu sống ở làng, nói nhiều chuyện về làng nhưng không hiểu làng thế nào: “ông sống ở làng nhưng ông có hiểu gì làng đâu. Ông xem chúng tôi sống chứ ông không sống cùng chúng tôi, càng không như chúng tôi. Ông không lo những việc của chúng tôi, không cần chúng tôi. Ông sống nhờ ở làng.” Tôi nghĩ với nhà văn cái chính là hiểu biết đối tượng để viết. Hiểu sâu đến chân tơ kẽ tóc. Ở đây có cả biết và hiểu, suy nghĩ. Như Nam Cao, Ngô Tất Tố hay Tô Hoài trước đây ấy. Từ hiểu sẽ thấy vấn đề. Từ thấy vấn đề, có tư tưởng sẽ tìm ra cấu trúc và nhân vật để viết. Lí thuyết nói thế.
Đấy là lí thuyết, nhưng nếu nói thẳng thì theo ông viết tiểu thuyết có phải là một nghề đòi hỏi trình độ tư duy và kiến thức ngang với một nhà nghiên cứu xã hội, chứ không chỉ là cảm xúc và năng khiếu? Ông nhìn mặt bằng tiểu thuyết Việt Nam hôm nay thế nào: Chúng ta thiếu tài năng, thiếu lao động nghề nghiệp, hay thiếu nền tảng văn hóa - tri thức?
Điều này các nhà văn lớn và các nhà nghiên cứu đã nói rất kĩ rồi. Chỉ viết bằng năng khiếu và cảm xúc sẽ có cái độc đáo nhưng khó đi xa. Hiểu biết, tài năng và sáng tạo là những khâu quan trọng nhất để cho nhà văn đi xa. Tôi đọc không ít nhưng chắc còn rất nhiều cuốn chưa đọc vì đọc không xuể. Tài năng không thiếu, kĩ thuật nghề nghiệp cao, nền tảng văn hóa cũng dày nhưng chưa thấy có những tác phẩm lớn. Có lẽ lĩnh vực này không suy luận theo logic thông thường được. Tôi chỉ biết thế và chờ đợi.
Ông có nghĩ rằng viết về làng hôm nay khó hơn xưa, vì người viết không chỉ phải hiểu làng, mà còn phải hiểu kinh tế thị trường, quyền lực, truyền thông, luật đất đai, di dân… - tức là cả một cấu trúc hiện đại phức tạp?
Tôi không biết, nhưng suy nghĩ: Thời nào cũng có cái khó cả. Viết văn là sáng tạo, là luôn tìm kiếm và thể hiện những cái mới. Tư tưởng cũ, cách viết cũ, góc nhìn cũ... thì không ai đọc. Ngay với một nhà văn cũng thế. Viết cái sau phải có cái gì khác cái trước. Tôi nhớ hồi còn đi học, thầy dạy tôi nói ông L. Tolstoy viết về vấn đề này rất hay, đại ý là: Nào, xem cuốn sách này của anh có gì mới không, có gì đáng đọc không? Những điều này thuộc về tri thức nền và tri thức chuyên sâu. Nó là điều kiện cần chứ chưa đủ đối với một người viết, ở lĩnh vực nào cũng vậy.
Ông có bao giờ tự nghi ngờ: Liệu mình đang lí tưởng hóa quá khứ khi viết về làng?
Hay ông tin rằng văn chương phải giữ một chút “ảo tưởng đạo đức” để con người còn hi vọng?
Tôi viết không bị thúc ép bởi việc in ấn. Trừ hai cuốn Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ do tôi muốn in một cách ngẫu hứng, tự bỏ kinh phí thì tất cả những gì tôi đã in đều là những bản thảo tôi viết ra để đó, nhà xuất bản biết thì họ liên hệ và chúng được in ra. Tôi không nhằm lí tưởng hóa điều gì. Tôi có quan niệm: cuộc sống thế nào cứ để tự nó hiện hình. Có cái tử tế, có cái xấu xa, có cái đẹp đẽ, có cái dung tục, ghê tởm... Nhưng cuốn nào của tôi cũng có sự hi vọng. Không còn hi vọng thì khó sống lắm. Tôi tin cuộc đời bao giờ cũng cần sự tử tế, người tử tế. Không thế, không sống được. Và tôi không coi những thứ đó là ảo tưởng. Nó là điểm tựa cho mỗi người.
Ông từng quản lí văn hóa ở cấp sở, nơi văn hóa thường được đo bằng kế hoạch, chỉ tiêu, lễ hội, thành tích. Nhưng văn chương thì lại cần tự do và tư tưởng cá nhân. Ông có bao giờ cảm thấy giữa “quản lí văn hóa” và “sáng tạo văn hóa” tồn tại một mâu thuẫn căn bản? Theo ông, điều gì đang thiếu nhất trong đời sống văn hóa hôm nay: ngân sách, cơ chế, hay là những con người thực sự có trình độ và trách nhiệm tinh thần?
Một câu hỏi rất hay và đang là một thực tiễn. Những quy định, nguyên tắc... cần có để con người sống trong một trật tự theo tư tưởng Khế ước xã hội. Không thế, xã hội sẽ loạn. Bất cứ xã hội nào cũng cần sự thỏa hiệp, dung hòa. Khi đi học, nhà trường dạy chúng tôi căm ghét tư tưởng thỏa hiệp vì điều đó trái lập trường cách mạng. Ra đời, tôi hiểu “thỏa hiệp là xương sống của mọi thể chế. Nó điều tiết hành vi của con người theo địa vị và lợi ích của họ”. Văn hóa là hoạt động sáng tạo từ bản chất còn quản lí là việc cần của con người. Hai mặt đó vừa nâng đỡ, nương tựa và mâu thuẫn. Nên khi làm việc tôi cố gắng hạn chế sự ngăn cản, ràng buộc mọi tư duy sáng tạo, luôn xác định định hướng lớn hơn những quy định cụ thể, đừng để định hướng làm hỏng tư tưởng và hành vi sáng tạo. Cái thiếu nhất trong đời sống văn hóa hôm nay theo tôi là: “Chúng ta vẫn còn đang nhìn nhận văn hóa như một hoạt động chức năng, công cụ hơn là hoạt động sáng tạo.” Phải thay đổi nhận thức này mới tạo ra những tiền đề cho đột phá sáng tạo.
Những năm gần đây, khái niệm “công nghiệp văn hóa” và “phát triển văn hóa như một ngành kinh tế” được nhắc đến rất nhiều, với các chỉ tiêu, doanh thu, lễ hội, du lịch, sản phẩm sáng tạo… Nhưng văn chương và đời sống tinh thần thì không dễ đo đếm bằng con số. Với tư cách một người từng quản lí văn hóa và đồng thời là một nhà văn, ông nhìn mối quan hệ giữa “công nghiệp văn hóa” và “giá trị văn hóa đích thực” như thế nào? Liệu chúng ta đang thực sự nuôi dưỡng sáng tạo, hay vô tình biến văn hóa thành hàng hóa?
Đây là vấn đề rất lớn. Bao nhiêu tổ chức chưa trả lời được thì tôi - một kẻ ngoài lề, làm sao tìm được lời đáp? Nhưng tôi nghĩ rằng công nghiệp văn hóa của một quốc gia muốn thành công phải dựa trên những giá trị mà quốc gia ấy đem lại cho nhân loại. Trong cuộc chơi lớn này, chỉ có những giá trị có thể đem lại lợi ích cho cộng đồng, quốc tế mới có cơ sở tồn tại. Vậy các sản phẩm của công nghiệp văn hóa phải được xây dựng trên những giá trị đích thực, có khả năng cạnh tranh, có thể thỏa mãn nhu cầu sử dụng thì mới hi vọng thành công. Như vậy, ngoài yếu tố giá trị đích thực còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố tổ chức thực hiện (có cả sản xuất và quảng bá) nữa. Nếu biến giá trị văn hóa tầm tầm thành những sản phẩm văn hóa thì sản phẩm ấy chắc ít hoặc không có giá trị lưu thông, không thành hàng hóa. Ngay cả các giá trị đích thực nhưng ít có giá trị hàng hóa trong thương mại quốc tế (như ca trù, xẩm...) cũng khó đưa vào diện “sản xuất hàng loạt nhằm mục đích thương mại”. Bởi vậy, trong định hướng của Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị cũng chỉ giới hạn trong những lĩnh vực cụ thể, khả năng thích hợp nhiều hơn với xu hướng thị trường. Trong quá trình thực hiện chủ trương này cần những Tổng công trình sư am hiểu công việc, có năng lực tổ chức thực hiện, có quyền hạn đủ để đưa những tư tưởng này vào đời sống. Ở ta, tiếc thay hiện nay thiếu cả tư tưởng lẫn người tổ chức thực hiện đủ tầm. Biến văn hóa thành hàng hóa không phải là xấu. Vấn đề là chọn được cái gì và biến những giá trị ấy thành sản phẩm mang ý nghĩa thương hiệu của quốc gia mới là chuyện khó và rất cần làm.
Xin trân trọng cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc trò chuyện cùng báo Văn nghệ.
Phan Anh thực hiện