Dòng chảy này khai sinh đồng thời với những cuộc chuyển cư diễn ra trong dân sinh và thế sự đất nước, đặc biệt rõ là năm 1954 khi hàng loạt giáo dân bỏ quê hương xứ sở ở miền Bắc lên đường “theo Chúa vào Nam”, trong kháng chiến chống Mĩ và sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975. Từ những sáng tác của lớp nhà văn này, văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long được phản ánh qua cái nhìn của những người viết thuộc vùng văn hóa đồng bằng sông Hồng đem lại khá nhiều điều mới mẻ mà những nhà văn Nam bộ do quá quen thuộc, bỏ qua. Trong số đó có nhà văn Trần Đắc Hiển Khánh.
|
Ông tên thật là Trần Đắc Xuân, quê ở xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (địa danh cũ), thuộc vùng châu thổ sông Hồng, cái nôi của nền văn hóa Việt. Khác với nhiều nhà văn Nam bộ gốc Bắc vào Nam khi đầu xanh tuổi trẻ, năm 1987 tính tuổi thực Trần Đắc Xuân tròn 45, tóc lốm đốm bạc, nghỉ hưu non và cùng gia đình gồm một vợ, bốn con quyết định “hành phương Nam”.
Hỏi, vì sao vào Nam muộn vậy? Ông cười:
“Chế Lan Viên viết: Đời ngoài tuổi năm mươi/ Mong gì hương sắc lạ… Tôi 45 tuổi đã không còn mong gì hương sắc lạ nữa rồi. Nhưng năm 1987, ba đứa con lớn của vợ chồng tôi đều đã tốt nghiệp phổ thông trung học, đứa út tròn 10 tuổi. Cho chúng học tiếp hay xin việc làm là cả một vấn đề. Sau nhiều suy nghĩ, tôi bàn với vợ quyết định ra đi. Thời thế thế thời thời phải thế mà.”
Đang thời bao cấp, hành trang lên đường của gia đình sáu người phải kể đầu tiên là một mớ tem phiếu, sau đó đến 30kg sách, di ảnh với nắm chân nhang bàn thờ mẹ… Thế là sau 45 năm xa cách, bố mẹ Trần Đắc Xuân gặp nhau trên bàn thờ nhỏ nơi đất khách quê người. Bố ông, cụ Trần Đắc Thóa sinh năm 1918, trong một gia đình đông anh em, thọ giáo chữ Hán người anh con bác là cụ kép Triệu, Tú tài đồng khoa với cụ Trần Tế Xương (nhà thơ Tú Xương). Cụ kép Triệu lĩnh “Hàn lâm viện đãi chiếu”, đứng đầu “Hội tư văn tổng Hiển Khánh”. Trần Đắc Xuân không biết mặt cha. Mẹ có thai được ba tháng thì cha lên đường vào Nam. Ở miền Tây Nam bộ. Để thuận bề hoạt động cách mạng, cha ông đổi tên thành Trương Văn Đạt.
Về sau ông Trần Đắc Thóa bị thương, về ban Kinh tài miền Tây. Được một bà má ở ban Kinh tài chăm sóc giúp đỡ. Bà má có người con gái, hai người bén duyên rồi nên vợ chồng. Ngày đất nước thống nhất, hai dòng con của cụ Thóa gặp nhau, không bên nào phải quay đầu, cúi mặt. Và đó cũng là lí do vì sao năm 1987, dứt áo rời quê hương ra đi, Trần Đắc Xuân đã chọn Sóc Trăng làm nơi thay thế. Những gì diễn ra sau đó (ba con lớn đậu Đại học Cần Thơ. Gia đình được chính quyền nơi quê hương mới cấp đất ở. Một khu đất thật đã, diện tích 1.700m2 cập sát con lộ 60…), khiến nhà văn cảm thấy cuộc đời mình lúc khó khăn nhất bỗng “Đắc Xuân”, như có bàn tay của bố chìa ra dìu dắt vượt thoát.
Năm 1987, Sóc Trăng còn là một tỉnh khá heo hút của Nam bộ, nên một đảng viên 45 tuổi đã nghỉ hưu như Trần Đắc Xuân vẫn là một hạt giống quí. Ông được mời tham gia công tác ở Văn phòng Đảng ủy phường 4 thị xã; Ban Tuyên giáo thị xã. Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng… Như một cán bộ đương nhiệm, Đắc Xuân thường xuyên đi công tác xuống các xã, ấp, phum, sóc cơ sở. Và thế là dù không mong, bao hương sắc lạ của vùng quê mới cứ thế ập vào ông, là “ruộng đồng thẳng cánh cò bay/ biển sông lai láng cá bầy đua bơi”, là những con người Nam bộ tự do, phóng khoáng, không chịu sự gò bó, trói buộc bởi những điều vụn vặt. Việc ông tiếp tục cầm bút diễn ra như một lẽ tự nhiên.
Từng có những năm tháng sống gần Nguyễn Bính, một nhà thơ lừng lẫy cùng quê hương Vụ Bản. Chuyện văn chương, chuyện viết lách hội hè Trần Đắc Xuân không lạ. Nhưng viết như thế nào? Nếu trước đây ở quê, sự viết của ông hoàn toàn tự phát, thích thì viết, không thích thì gác bút. Vào Nam, nó bỗng được nâng lên ở một cấp độ cao hơn: tự giác! Những câu chuyện, những cảnh đời ông được nghe, được gặp ở Nam bộ tự thân chúng đã mang đầy tính nhân văn và ông chỉ là người chấp bút, nhà văn cảm thấy vậy. Trong tâm thế ấy, Trần Đắc Xuân đã chọn cho mình bút danh Trần Đắc Hiển Khánh (là cách ông vọng cố hương) viết tác phẩm đầu tiên, truyện ngắn Bạn của Hà Bá. Dù là tác phẩm mở đầu một giai đoạn mới, nhưng Bạn của Hà Bá lại tiêu biểu cho những truyện ngắn Hiển Khánh viết sau này. Hàng loạt chi tiết được nhà văn huy động, điều này đòi hỏi một vốn sống phong phú, một sự am hiểu càng sâu càng tốt phong tục tập quán đối tượng được mô tả, ở đây là vùng sông nước Nam bộ. Cuộc sống tích cực nơi quê mới giúp Hiển Khánh điều này, văn ông nhuần nhuyễn trong mô tả đối tượng, sự việc, các tình huống đan cài hợp lí. Truyện ngắn của Hiển Khánh là truyện ngắn có cốt truyện. Tình tiết câu chuyện và những sự kiện xây dựng dựa trên sự bộc lộ tính cách của nhân vật, từ đó thúc đẩy mạch truyện để đi đến chủ đề tư tưởng mà câu chuyện chuyển tải.
Mạnh về cốt truyện, nhưng Hiển Khánh cũng có những truyện ngắn không có cốt truyện, chẳng hạn truyện Phận sen. Ca dao viết: “Trong đầm gì đẹp bằng sen…” Ví nhân vật với sen, rõ là truyện viết về một người đàn bà đẹp, thêm chữ “phận” đứng trước, thành người đàn bà đẹp mà đa đoan, trắc trở. Truyện không có cốt, các sự kiện nối nhau diễn ra trong một thời gian không xác định, như một cuốn phim quay chậm kể về một cuộc đời buồn. Cái đẹp thường mong manh. Phận sen là một truyện hay nhất trong những truyện ngắn Trần Đắc Hiển Khánh viết. Đọc xong, thấy thương cho thân phận của những người phụ nữ Nam bộ nói riêng, cho những người mẹ người chị nước Việt nói chung.
Tình yêu cuộc sống, những tư tưởng cởi mở được tác giả tô điểm sâu đậm hơn trong tiểu thuyết Tha la Bến Đá, Giải Nhì (không có giải Nhất) cuộc thi tiểu thuyết Đồng bằng sông Cửu Long năm 2012. Tiểu thuyết có nhiều nhân vật, nhiều cảnh đời. Cảnh đời nào cũng éo le, số phận nào cũng bầm giập. Tiểu thuyết thể hiện tình yêu sâu sắc của con người với đất đai sông nước quê hương, nói như tác giả, lòng nhân ái hay lòng phước thiện chính là bóng mát của Tha la Bến Đá. Còn tôi, sau khi đọc đến trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết, thấy Tha la Bến Đá chính là cách nhà văn vùng châu thổ sông Hồng trả nghĩa đối với vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, nơi những người “Nông dân Nam bộ gối đất nằm sương/ Mồ hôi vã bãi lau thành đồng lúa…” (*) và ông đã thành công.
Bước sang xuân Bính Ngọ 2026, nhà văn Trần Đắc Hiển Khánh 84 tuổi, nhưng vẫn đọc miệt mài, viết lai rai. Hiện ông còn một số bản thảo: Một tập truyện ngắn. Một cuốn tiểu thuyết. Hai cuốn truyện thiếu nhi (một đã có giấy phép xuất bản). Một bản thảo kịch nói. Và bút kí Trầm tích một bến sông vừa được đưa vào tài liệu giáo khoa THPT giới thiệu tác giả tác phẩm địa phương (Sóc Trăng).
Hỏi ông: “Trong số sách đã xuất bản của mình, ông thích cuốn nào nhất?”
Câu trả lời của ông khiến tôi bất ngờ, bởi đó không phải Bạn của Hà Bá, Tiếng mõ cầu trong gió hay Tha la Bến Đá, những truyện ngắn, tiểu thuyết, bút kí đã đem lại cho ông nhiều giải thưởng, khiến khi nhắc đến những cây bút văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long người ta không thể không nhắc đến ông, mà đó là Miền ký ức văn chương một cuốn sách mỏng gồm những mẩu chuyện những giai thoại văn học viết chủ yếu về nhà thơ Nguyễn Bính, một thi tài lỗi lạc của nền văn chương Việt. Theo Trần Đắc Hiển Khánh, người ta viết được văn là nhờ kí ức. Kí ức càng sâu đậm, văn viết ra càng hay. Muốn cảm thấu chân xác đời sống, sinh hoạt của làng quê Bắc bộ xưa, không gì bằng đọc thơ Nguyễn Bính. Thơ Nguyễn Bính lưu giữ kí ức tâm hồn của làng quê Việt cổ truyền, chỉ điều ấy thôi cụ đã vĩ đại lắm rồi.
Vậy mà cứ nghĩ về Nguyễn Bính ông lại thấy buồn. Cuối đời cụ khổ quá. Theo chân điếu đóm nhà thơ lớn mấy năm, ông thấy Nguyễn Bính sống rất nhân tình, yêu mến trân trọng bạn bè chớ không như một số người nói. Sau vụ Nhân văn - Giai phẩm, nhà thơ về quê, nhiều người, trong đó có những người mới in được một, hai bài thơ trên báo tỉnh đã tỏ ra coi thường cụ. Gần chùa gọi bụt bằng anh. Trần Đắc Xuân ngày ấy trẻ người non dạ, chưa thấy được hết tầm lớn của thi hào nên không có ý thức ghi chép lại, thành ra bây giờ chỉ nhớ gì ghi nấy. Tuy vậy, nếu không có Miền ký ức văn chương, thì làm sao Trần Đắc Xuân có thể trở thành Trần Đắc Hiển Khánh, tác giả của Tha la Bến Đá hôm nay?
Vâng, đúng vậy!
--------------
* Cửu Long giang ta ơi! (Thơ Nguyên Hồng).