Trong nửa thế kỉ ấy, văn học chiến tranh vẫn còn là dòng chảy mạnh mẽ với sự điềm tĩnh, sâu sắc, chân thực hơn. Văn chương sau năm 1975 không chỉ phản ánh hiện thực chiến tranh một cách trung thực nhất mà nó đã góp phần lí giải nguyên nhân của những thành bại, đã đặt phần thắng thua phía sau ý nghĩa nhân bản được coi là mẫu số chung của con người. Nhân bản, đấy mới là cái đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc. Theo tôi, tiểu thuyết Khúc ca người lính của nhà văn Nguyễn Trọng Tân đã làm được điều đó một cách khá thuyết phục và hấp dẫn. Cái hay và mặc nhiên tạo ra sự cuốn hút của cuốn tiểu thuyết dày hơn 400 trang này chính là ở hiện thực bề bộn trần trụi được phản ánh cộng với cách sử dụng tư liệu rất chọn lọc, có giá trị về thông tấn và văn chương. Hai nguồn chất liệu ấy được Nguyễn Trọng Tân khai thác khá hiệu quả nên người đọc không thấy nặng nề và nhọc nhằn như khi đọc một vài tiểu thuyết sử thi khác.
|
Tiểu thuyết Khúc ca người lính đề cập tới nhiều chuyện, nhiều mảng, nhiều nhân vật trong cuộc chiến tranh đó ở cả hai phía ta - địch như chuyện chiến trường và hậu phương; chuyện tuyến đường Hồ Chí Minh trên bộ và đường Hồ Chí Minh trên biển; chuyện đánh trận và yêu đương; chuyện chết chóc bi thương và sự lạc quan tếu táo của lính; chuyện ở tầm chiến lược và những người lính giáp mặt trực tiếp với đối phương... nhưng bối cảnh trọng tâm vẫn là cuộc đối đầu khốc liệt giữa quân đội ta với quân đội Mĩ trên chiến trường Tây Nguyên. Đối tượng tác chiến của chúng ta chủ yếu là Sư đoàn Kị binh bay số 1 trong chiến dịch Plei Me thuộc huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai vào cuối năm 1965; Sư đoàn Bộ binh số 4 và Lữ đoàn dù 173 của Mĩ trong các chiến dịch trên địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum các năm 1967, 1969 và 1972. Phía ta là Trung đoàn 66 và các lực lượng phối hợp thuộc Mặt trận B3. Và, trận huyết chiến xảy ra ở thung lũng Ia Drăng là trọng tâm của trọng tâm được Nguyễn Trọng Tân tốn công dựng lại bằng hồi ức khét lẹt mùi đạn bom, mùi máu của một cựu binh từng tham gia chiến đấu tại đây và bằng quyền năng sáng tạo của một nhà văn sở hữu gần 10 cuốn tiểu thuyết có dư luận ở Việt Nam. Khi nói tới thung lũng Ia Drăng là nói tới “hội chứng” nhức nhối, kinh hoàng bao trùm xã hội Mĩ một thời. Joseph L. Galloway, phóng viên chiến trường của Hãng thông tấn UPI, người có mặt trực tiếp tại Ia Drăng trong trận đối chiến ấy đã viết: “Trận giao chiến ở thung lũng Ia Drăng đã lôi nước Mĩ sa lầy vào một thập kỉ đẫm máu, đưa hơn 58 ngàn lính Mĩ vào những chiếc quan tài bằng nhôm sáng bóng... Làm hỏng một đời Tổng thống Mĩ và vấy bẩn lên nhiều đời Tổng thống khác, đẩy cả một dân tộc đến chỗ đối lập với chính mình.”
Thế đấy, văn học đã góp phần giải đáp những câu hỏi của lịch sử. Với Khúc ca người lính, trước hết tác giả đã trả lời đúng và hay cho câu hỏi: “Vì sao dân tộc ta, quân đội ta thắng được giặc Mĩ xâm lược?” Thời ấy và đến bây giờ chẳng mấy ai dám nghi ngờ về sự giàu có và sức mạnh của quân đội ở xứ sở cờ hoa. Khi “Chiến tranh cục bộ” được thực thi ở Việt Nam thì phải nói rằng guồng quay và sự ác liệt của cuộc chiến đã được đẩy lên tầm cao nhất. Gót giày viễn chinh của đội quân nhà nghề đến từ bên kia Thái Bình Dương đặt lên mảnh đất cong cong hình chữ S nhìn ra Biển Đông bao la kéo theo câu hỏi cho đối thủ của họ: “Chúng ta có thể đánh được Mĩ không?” Muốn trả lời đúng câu hỏi này không có cách nào khác là quân đội ta phải có những cuộc “so găng” sòng phẳng, những trận đấu trực diện sống mái với lính Mĩ. Có ai ngờ cách thức đánh Mĩ mang tầm chiến lược sau này lại xuất phát từ một tiểu đội trưởng ở đồng bằng Quảng Nam, khi truy kích lính Mĩ ở gần thị xã Tam Kỳ đã hô lớn “Nắm lấy thắt lưng địch mà đánh”. Và đây, trong tiểu thuyết là suy nghĩ của Tư lệnh Mặt trận B3 Chu Huy Mân: “Ác liệt. Sẽ vô cùng ác liệt. Hi sinh rất lớn. Chắc chắn sẽ mất mát rất lớn. Nhưng không còn cách nào khác. Quân thù đã nhảy vào nhà ta. Chỉ có cách xả thân bảo vệ.”
Giản dị như vậy thôi. Khi quân thù đã nhảy vào nhà ta... Không thể khác, câu trả lời là phải đánh. Đấy là câu trả lời của Đảng, của Bộ Chính trị, của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đấy là câu trả lời của nhân dân ta. Đấy là câu trả lời của những người lính Cụ Hồ mà đại diện là những người cầm quân như Chu Huy Mân, Nguyễn Hữu An, Đặng Vũ Hiệp, hay sĩ quan chỉ huy như Lưu Đức Phổ, Tạ Đăng Huy và chỉ là các binh sĩ như Nguyễn Trọng Hiệp, Sử Đăng Quyền, Lữ Quang Thà... Những trang viết về các trận đánh là phần hay nhất, hay đến nghẹn thắt và sinh động nhất, sinh động đến trần trụi của tiểu thuyết Khúc ca người lính. Một trận đánh được dựng lại từ góc nhìn phía bên kia: “Những người lính đối phương bé nhỏ, nhanh nhẹn, sử dụng dao găm linh hoạt sọc vào bụng, vào mạng sườn. Lính Mĩ cao to vũ khí, vật dụng đầy mình trở nên lúng túng, chậm chạp khó xoay trở. Lưỡi lê hoa lên. Sắt thép va ghê rợn. Không còn quy tắc tác chiến nào cả. Nhiều cái bóng đổ xuống, đè lên nhau...”
Chất bi ca thể hiện rất đậm nét ở Khúc ca người lính. Có trận chiến ta chấp nhận 1 đổi 1 để giành chiến thắng. Trên chiến trận la liệt xác người, cả ta và địch lẫn vào nhau, chồng lên nhau. Chết chóc, tang thương, hoang tàn là hiện thực của mọi cuộc chiến. Bên chính nghĩa và bên phi nghĩa đều không tránh được. Không khỏi rùng mình khi đọc những trang văn miêu tả trận đánh và những cái chết không nguyên thây ám khét mùi bom đạn. Phần lớn là cái chết “bất đắc dĩ”, cái chết nham nhở của các chiến binh đang độ tuổi thanh xuân. Khi họ chết thì trên đời này cuộc sống vẫn trôi đi; mẹ cha, vợ con, người yêu, bạn bè họ còn tồn tại với bao thương tiếc khôn nguôi. Những người ngã xuống chắc chắn sẽ hạnh phúc hơn khi họ biết mình hi sinh cho chính nghĩa và mang theo về cõi khác niềm tin chiến thắng. Chiến thắng để trả lời đúng câu hỏi thời đại và quan trọng hơn là củng cố niềm tin: Chúng ta đánh được và sẽ thắng giặc Mĩ xâm lược.
Viết về chiến tranh cũng là viết về khát vọng hòa bình. Tôi thực sự trân trọng những trang văn hướng tới ước mơ cao đẹp và lòng thiện của con người. Chủ nghĩa nhân văn là của chung nhân loại. Chiến tranh dù tàn khốc đến mấy vẫn không hủy diệt được tình yêu. Đó là sự thật. Vì thế, tôi và các bạn khi đọc tiểu thuyết này chắc chắn không thể không nói lời cảm ơn với Nguyễn Trọng Tân. Anh có những trang viết về tình yêu thật nồng nàn đắm đuối. Những khoảng sáng yêu thương ấy tỏa ra từ mối tình của chàng thiếu úy trẻ Tạ Đăng Huy và cô sinh viên ngoại ngữ năm thứ ba Hoàng Doãn My. Đây là tình yêu sét đánh, họ bị mắc vào nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Sau đó ít lâu cả Huy và My đều nhận ra cái gắn kết họ chính là “sự chân thật, giản dị”. Rồi Tạ Đăng Huy đi B. Những năm tháng xa nhau dằng dặc. Cô gái xinh đẹp vẫn một lòng chờ đợi. May mắn thay, Tạ Đăng Huy đi hết cuộc chiến mà vẫn còn được trở về với người mình yêu dấu. Trường hợp như họ không nhiều lắm đâu, nhiều người lính không bao giờ được trở về nơi mình sinh ra và các anh chỉ còn để lại cho cuộc đời những câu chuyện đẹp như tình yêu của tiểu đoàn trưởng Lưu Đức Phổ và cô bác sĩ Hà Trinh.
Và đây nữa, một câu chuyện thật nhân ái liên quan đến trung úy Terry Allen, trung đội trưởng trung đội 1 đại đội Victory. Tạ Đăng Huy là người đã tha chết cho viên trung úy Mĩ đang hấp hối khi ấy. Nhờ thế mới có cuộc gặp gỡ những “kẻ thù xứng đáng” của nhau như sự sắp đặt của trời đất khi vào năm 1993, đại tá Tạ Đăng Huy trở lại thung lũng Ia Drăng để tiếp đón đoàn cựu binh Mĩ. Anh gặp được kẻ mình cứu sống năm xưa và trao lại chiếc thẻ lính cho đại tá Terry Allen.
Ôi giá như, người Mĩ hiểu văn hóa Việt Nam sớm hơn để không có cuộc chiến kéo dài 21 năm như ta đã biết trong thế kỉ XX. Thì chắc chắn từ lâu hai nước Việt - Mĩ đã là bạn bè tin cậy của nhau... Đấy chỉ là một giấc mơ muộn màng. Lịch sử chẳng bao giờ có hai chữ giá như. Lịch sử là lịch sử. Ta khép lại quá khứ nhưng chẳng bao giờ lãng quên quá khứ. Khúc ca người lính chính là một cách nhớ quá khứ và những bài học từ lịch sử chẳng bao giờ cũ kĩ.