Xin ông cho biết mối liên hệ giữa hiện thực xã hội với thơ ca như thế nào trên con đường tiến tới phẩm giá của thơ?
Sau ngày 30/4/1975 ba ngày, ngày 3/5/1975 Chế Lan Viên viết bài thơ dài Ngày vĩ đại gồm 5 mục với 190 câu thơ. Sáu tháng sau, giáp Tết Bính Thìn 1976, Văn Cao viết Mùa xuân đầu tiên chỉ có 20 câu trong đó hai lần ông gọi sự kiện đó là Mùa bình thường. Phải sau 12 năm, 1988, Mùa bình thường mới được công nhận. Và 20 năm sau, 1995, khi Văn Cao tạ thế, Mùa bình thường mới bước vào đời sống với bao nhiêu thiết tha và tràn đầy cảm động trong giấc mơ hòa bình từ đây người biết quê người, từ đây người biết thương người. Vì sao lại như thế? Nó bắt nguồn từ nhận thức thời cuộc của người thi sĩ. Ngày đó là ngày vĩ đại thì triệu người cùng thấy. Còn ngày đó là mùa bình thường ẩn sâu trong cái bình thường thì chỉ có Văn Cao mới nhận ra nó mà thôi.
|
Một trăm năm qua, gối đầu lên hai thế kỷ, tư duy chính trị của người Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc, đến xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân do dân và vì dân như ngày nay. Đó là một bước tiến rất dài, nếu không muốn nói là một bước ngoặt. Thế kỷ đó, trong văn học từ chỗ chỉ nhấn mạnh tính giai cấp đến chỗ thừa nhận tính toàn nhân loại của văn chương. Giờ đây, văn hóa soi đường cho quốc dân đi, không phải đi một mình hay chỉ đi trong biên giới quốc gia của mình mà ngọn đuốc ấy đưa dân tộc bước vào con đường hòa đồng với nhân loại, đóng góp vào dòng chảy văn minh nhân loại. Cho nên nhận thức sâu sắc về thời cuộc là con đường để các thi sĩ làm nên phẩm giá của thi ca.
Người Nhật Bản đi ra thế giới bằng chữ Hòa. Hòa hồn dương tài. Năm 1868. Người Trung Quốc bằng chữ Trung Dung trong sách Tứ Thư. Người Mỹ bằng câu hỏi: For What? Vì cái gì? Cho cái gì? Người Việt Nam đi cùng nhân loại bằng chữ gì? Tôi chưa nghĩ ra được. Tôi cho rằng bằng câu sau đây, liệu có phải như thế không?
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Theo ông đặc trưng thể loại của thơ có ý nghĩa như thế nào với phẩm giá của thơ?
Thi ca là một thể loại văn học đặc biệt với những đặc trưng riêng có của nó. Đó là sự kết hợp kỳ diệu giữa ý tưởng, cảm xúc, hình tượng và nhịp điệu ở bất kỳ thể thơ nào. Trường ca cũng như đoản thi. Nhưng đặc trưng riêng hay là những bản tính của thi ca ấy lại rất dễ tổn thương do nhiều lý do mà trước hết lại là do chính người làm thơ gây ra.
Không thể không nói rằng sự cần thiết phải đổi mới thơ trên nhiều phương diện. Một phần tư thế kỷ XXI đã đi qua. Nhưng chưa xuất hiện một phong trào thơ với nhiều cá tính sáng tạo khác biệt như Phong trào Thơ mới 1932-1945. Con đường đi tìm phẩm giá của thi ca trên nền tảng đặc trưng của thể loại vẫn là một thách thức với chúng ta. Nhưng chúng ta không thể làm tổn thương đến thơ bằng những thay đổi kỹ thuật chưa được cân nhắc thì chẳng khác gì “bít răng vàng” cho thơ. Thơ sẽ không còn là thơ nữa.
Tùy Viên Thi Thoại nói: Nhà thơ là người không mất tấm lòng trẻ con. Làm thơ có một việc rất khó. Càng làm nhiều, càng làm lâu năm thì càng dễ rơi vào kỹ thuật “điêu luyện” làm mất đi cái bản tính vốn có của thi ca là sự tự nhiên, điều mà Lý Bạch gọi là sự hồn nhiên. Dịch nghĩa của chữ Thiên chân. Điều lạ lùng người nói rất hay về việc này là thi sĩ lớn theo trường phái chính luận - nhà thơ Chế Lan Viên. Tháng 4/1987, ông viết bài thơ Ba chữ như sau:
Chữ nghĩa thơ anh nước ốc nhạt phèo
Mong anh viết cho tôi vài chữ khờ khờ dại dại
Cái gì yên lặng chẳng điêu toa mà tồn tại
Như ba chữ trong bức hoành trên một ải
quan xa.
Điêu toa là nói quá đi, nghĩa của nó là kỹ thuật đẽo gọt. Khờ khờ dại dại là cách nói khác về tính tự nhiên, sự hồn nhiên trong thơ, điều dễ nhất thường xuất hiện bất thần nhất mà cũng là khó nhất của con đường đi tới phẩm giá của thi ca. Người xưa đã so sánh thơ của Bạch Cư Dị câu nào cũng thoải mái, dễ chịu, giản dị, còn thơ Vương An Thạch đời Tống thế kỷ XI thì chẳng bao giờ tự nhiên cả cho nên với thơ, ông ta suốt đời chỉ là người khách đứng ngoài cửa mà thôi.
Nhưng tự nhiên, hồn nhiên, giản dị không phải là dễ dãi mà luôn đi liền với nó, mặt đối lập của nó là tính nghiêm cẩn chọn lọc uẩn súc của thi ca. Có người nói rằng làm một bài thơ ngụ ngôn 8 câu chỉ có 40 chữ phải như bốn chục người hiền trong đó mà vướng phải một chú lái buôn thịt là không được. Do đó con đường đi đến phẩm giá của thi ca phải đi giữa hai mặt đối lập ấy. Có người hỏi tôi, câu thơ: “Sư già chỉ sợ mây bay mất, sai khép cửa chùa tự giữa trưa” là tự nhiên, hồn nhiên hay không thì tôi không biết trả lời thế nào?
Thưa ông, mối liên hệ của đời sống nhà thơ với việc xác lập phẩm giá của thơ là gì?
Thơ là tính tình của con người. Vậy nên phẩm giá của nhà thơ làm nên phẩm giá của thơ. Nhưng cuộc đời của nhà thơ và thơ của họ là một phức hợp ghê gớm. Pêtôphi với Vợ và Gươm, Baudelaire với Suối máu và Những bông hoa của cái ác, Simonốp với Đợi anh về… thì thơ với đời là một… Nhưng Rimbaud và Verlaine, hai tượng đài bậc nhất của thi ca tượng trưng Pháp như những con đò lang thang không đậu ở bến đúng quy chuẩn của trần gian, ít nhất trong hai năm họ yêu nhau bởi mối tình đồng giới ngang trái và buông thả trong khói thuốc phiện và rượu mạnh. Đến lúc Verlaine phải dùng súng bắn bị thương Rimbaud để cắt đứt và vì việc đó ông ấy phải ngồi tù 2 năm. Vậy mà thơ của họ vẫn hay; nói theo cách nói của chúng ta là phẩm giá thi ca của họ vẫn ở đỉnh cao? Mâu thuẫn chăng? Vì sao lại như vậy? Không, không có mâu thuẫn. Bởi vì khi họ đối mặt với trang giấy trắng, đối mặt với nàng thơ, họ đã tự rửa tội họ. Và thi ca như là một nữ tu sĩ trinh bạch cứu rỗi họ. Có phải như thế không?
Cái làm nên phẩm giá của nhà thơ hôm nay là sự nhận thức sâu sắc biến đổi của thời cuộc và trước hết họ phải là người trung thực. Tôi không tin lắm AI sẽ chiếm chỗ của thi nhân. Bởi vì không phải là lý trí mà là trái tim thi sĩ đội vương miện cho thơ hướng tới những vần thơ giản dị, bởi vì như người ta đã nói Sự giản dị là thứ khó khăn nhất có thể nắm bắt được trên thế gian. Nó là giới hạn cuối cùng của kinh nghiệm và là nỗ lực cuối cùng của thiên tài. Bởi thế thơ là câu chuyện cá nhân của một người đồng thời là câu chuyện của muôn đời.
Vũ An (thực hiện)