Tại sao phải đặt vấn đề như thế? Vì công năng phi phàm của thơ, từ xa xưa con người đã ủy thác buộc nó phải gánh vác nhiều nghĩa vụ giúp mình vượt qua nhiều giai đoạn cam go. Vì có vần điệu dễ nhớ dễ thuộc, con người đã bắt nó làm ca dao tục ngữ, làm vè ghi nhớ quy luật thời tiết, định luật toán học vật lý, bắt nó tải đạo, làm tuyên truyền: “Lục cục lào cào/ Em xúc anh đào/ Nào anh bên nam, Nào em bên nữ/ Ta thi nhau thử/ Ai tài hơn ai”. Có những cô thanh niên xung phong quen làm nghĩa vụ, tuổi xế chiều không thể làm người bình thường, người bình thường thì phải lấy chồng cưới vợ, sinh con đẻ cái; các cô cựu TNXP bèn đi tu. Thơ cũng thế, nếu chỉ quen làm nghĩa vụ, thơ không còn là chính mình. Để minh định thể loại, giúp thơ chỉ là thơ, người xưa định ra các thể văn tuyên truyền: vè, đồng dao, phong dao, tấu hò, diễn ca, từ, văn tế, cáo, kệ... Đại cáo bình Ngô đậm đặc chất thơ, nhưng vẫn là một bài cáo – mẫu mực cáo!
![]() |
| Nhà văn Văn Chinh |
Sau cam go thời chiến tranh, bao cấp đến thời mở cửa phát triển thơ lại phải mang vác nghĩa vụ làm vè quảng cáo, làm kho chứa vật cho những lý thuyết sinh thái, bình đẳng giới, cho tân hình thức, hậu hiện đại nhập siêu rồi bán hạ giá khiến người ta dùng vô tội vạ như bong bóng xà phòng; còn hiện giờ, thơ bị đem ra cho AI vầy vò thử nghiệm. Tôi hình dung, nếu biết nói, thể nào thơ cũng than rằng: “Trời ơi! Em được trời sinh ra, ngọt ngào duyên dáng, đài các sang trọng; là nhân của quả phúc, của tình yêu lứa đôi; là nhân của quả khôn lớn, nhân cách; là nhân của quả nhịp cầu lương thiện giữa các biên giới giống nòi. Vậy mà, khốn nạn thân em, sao bây giờ em lại phải mang nhiều tội nợ đến thế?”
Đến đây thì phải xin phép dừng lại để mở một cái ngoặc. Trong chiến tranh nhân dân, mọi người đều có bổn phận làm cây chông, viên đạn. Chính Chế Lan Viên từng viết: Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ/ Hơn nghìn trang giấy luận văn chương và tôi, năm 1968 thấy phải. Nhưng hòa bình đã đẩy lui chiến tranh hàng nửa thế kỷ, lại còn cứ luôn luôn sử dụng thơ để ca ngợi cây chông nhân danh nhớ ơn quá khứ thì chúng ta đã không công bằng với hiện tại và tương lai. Chúng ta có phương tiện khác như sách giáo khoa, báo chí, có các sinh hoạt đoàn thể làm đại sự tôn vinh quá khứ tốt hơn thơ. Kể cả các thể loại con bá con dì với thơ như vè, đồng dao, phong dao, tấu hò, diễn ca cũng làm tốt hơn nó. Đằng khác, để thơ duỗi hết mình trong công cuộc phụng sự con người, khiến con người hồn nhiên lãng mạn như thơ, sâu sắc nội tâm như thơ, khát vọng sống cao thượng, sống đẹp như thơ thì theo tôi, cái giá đắt của máu xương thời chiến đã được bù đắp đầy đủ và tốt đẹp nhất.
Nhưng tôi là người lạc quan.
Mọi người đều ngắc ngứ nuốt hàng nghìn bài thơ in trên báo giấy mỗi tuần, còn trên mạng thì con số ấy là của mỗi ngày. Lại thường đọc những bài bình luận rằng đây là thời lạm phát thơ, là thời thơ mạt pháp. Tôi có ông bạn làm văn chương nghiệp dư, chơi với nhau đã nửa thế kỷ, ông Nguyễn Tiến Thành ở Phú Thọ. Trước đây gặp nhau hằng tuần, lâu nay vài năm một lần; lần nào gặp nhau ông cũng bảo: “Thơ các ông làm ra quái gì, xách dép cho thơ Đường không xứng”, tôi đều ừ hử cho qua. Mãi gần đây, tôi để ra cả tuần thăm thầy gặp bạn, đến nhà gặp ông. Trà nước được vài tuần, ông lại bảo: “Thơ các ông làm ra quái gì, xách dép cho thơ Đường không xứng”, tôi bèn nói: “Ông hãy ngồi yên đấy, để vợ ông, hai thằng con của ông ngồi đây làm trọng tài. Ông đọc một bài, một câu thơ Đường, tôi đọc một bài hay một câu thơ Việt đương đại. Thằng nào không thể đọc tiếp thì thằng ấy thua, thơ của thời thằng ấy thua. Chịu không?” “Được thôi, ông thua là cái chắc!” - ông Thành đáp. Cuộc thi đọc thơ hào hứng kéo dài gần hết buổi sáng thì ông Thành không đọc tiếp được nữa, ông đã hết thơ hay. Tôi mới thong thả đọc tiếp ba khổ thơ nữa:
Tôi thờ bác ngư dân thứ nhất
Cắm chân
Buộc biển
Dựng nhà [Hữu Thỉnh]
Nơi đây núi không cao
Đáy biển không sâu
Một Phú Quốc cởi trần trên sóng
Dãy Trường Sơn dằng dặc đến đây nằm [Ngô Thế Trường]
Tôi đọc đến đấy thì ông Thành chắp tay. Nhưng tôi còn đọc:
Thời gian rạn và không gian vỡ
Cả hai cùng nhịn thở
Thoắt thực thoắt hư thoắt có thoắt không
Em xoay xở làm sao mà hoa trắng nhị vàng [Trước sen, Đặng Huy Giang]
Đọc xong khổ thơ của Đặng Huy Giang thì ông Thành vừa chắp tay vừa cúi đầu chịu thua, dứt khoát thua!
Vâng, bạn tôi đã nhầm khi làm phép so sánh sự vật mà không kiểm soát tất cả sự vật; lại quên mất việc quy chúng về cùng đại lượng, càng quên thời gian đương đại và thời gian lùi xa với những lắng lọc kỳ diệu của chúng. Nhưng nếu đặt sự nhầm lẫn này cạnh cái ngộ nhận của bạn đọc thơ hôm nay thì càng khập khiễng nữa. Thôi bỏ đi, chúng ta đi tới lạc quan thơ bằng câu chuyện khác. Con người từng “sinh” ra cừu Dolly, nhưng nó đã chết yểu [tuổi của Dolly là tổng của tuổi tế bào gốc dùng để nhân bản + tuổi Dolly] nên không ai làm Dolly đại trà. Vài năm gần đây, người ta đã dùng AI để làm ra cái gọi là thơ, nhưng tương lai của giống thơ này mờ mịt không khác mấy với số phận cừu Dolly. Vì sao? Vì trí tuệ AI là tích hợp trí tuệ còn thơ được sinh ra từ một trí tuệ, hơn nữa, trí tuệ duy nhất ấy lại được bao bọc nguyên vẹn trong tâm hồn ấy. Để dễ so sánh, chúng ta lấy một ví dụ mọi người đều đã biết là phạm trù nhân quả. Nhiều người nói: “Đời cha ăn mặn đời con khát nước”. Cũng nhiều người nói: “Gieo nhân nào gặt quả nấy”. Chỉ duy nhất T.S. Eliot viết:
Cái xác anh trồng năm ngoái trong vườn
Đã bắt đầu nảy mầm chưa?
Các câu “Đời cha ăn mặn đời con khát nước”, “Gieo nhân nào gặt quả nấy” một cách gượng ép, có thể coi là thơ của AI, của tích tụ, nó dùng vỏ thơ làm vật chứa tư duy; còn câu của Eliot là thơ, dùng tư duy để chứa đựng linh hồn, chất dưỡng sinh cho linh hồn. AI, cũng giống như hò vè, quảng cáo khả dĩ chiếm diện tích trang báo, không - thời gian của con người chứ không thể khiến thơ lâm nguy. Khoảng 1200 năm trước Elot, Đỗ Phủ viết: Bạc vân nham tế túc/ Cô nguyệt lãng trung phiên [Mây mỏng ngủ nhờ trên đá núi/ Trăng lẻ vươn mình trên sóng khơi] nhưng cả hai như là bạn đồng thời, họ làm sửng sốt huyên náo nhân sinh mỗi khi có đủ cơ duyên hiển lộ.
Ở trên, tôi đã cố ý dẫn hai câu thơ ít được trích dẫn của Đỗ Phủ và Eliot, để các bạn nếm trải khía cạnh mới lạ của thơ. Vâng, thơ kỵ nhất là giông giống, quen quen. Xin không dẫn nhiều làm mất thì giờ, nhưng mong các bạn lúc nào thư thả, hãy đọc nhẩm các câu thơ hay trong trí nhớ, nó không những khác xa nhau về biên độ cảnh ý mà ngay trong gia tài của một nhà thơ, cũng không câu nào giống hay gần giống câu nào. Câu “Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” như nẩy bật văng xa khỏi di sản thơ Hàn Mặc Tử, ngay cả với bài Mùa xuân chín cũng thế. Cùng đề tài gió bụi biên thùy, Đỗ Phủ viết: “Bụi chiến binh mờ mắt chiến binh”, Chế Lan Viên viết: “[lau] Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi/ Suốt một đời cùng với gió giao tranh”.
![]() |
| Đại biểu tham dự hội thảo |
Chẳng những kỵ giống ý cảnh, ngôn ngữ; thơ còn kỵ nhịp điệu, kiểu gieo vần; kỵ khuynh hướng đề tài giống nhau. “Một thời đại trong thi ca” Thơ Mới diễn ra chưa tới 10 năm mà đã có nhiều giọng điệu thăng trầm thay thế: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư giữ nhịp mấy năm đầu, khi họ lắng xuống thì Xuân Diệu nổi lên; còn mấy năm cuối có nhóm Đồ Bàn tứ hữu với Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử rồi cuối cùng là Bích Khê át giọng. Nhóm Áo bào gốc liễu của Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân chưa bao giờ lĩnh xướng nhưng họ đi bè trầm để rồi, sau gần một thế kỷ, thơ Nguyễn Bính được đọc nhiều nhất trong các nhà thơ Mới. Điểm qua như thế, để nhận ra rằng, mới chín, mười năm mà thay soái chủ thi đàn tới ba lần, đủ thấy, thơ không chịu được cũ. Hồi trai trẻ đọc Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, tôi chẳng thấy chỗ nào họ điên loạn. Về già, tôi hiểu đó là thời điểm họ không chịu nổi nữa sự giống nhau kiểu cách cấu tứ gieo vần của trào lưu thơ Mới, cái mà Huy Cận buột miệng than thở: Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu. Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người. Họ đập cũ, xây mới và thiên hạ bảo hành xử ấy là điên loạn, thì họ nhân tiện mà nhận vậy.
Vâng, thơ cần tự mới mỗi ngày, đó là tâm thế của mỗi nhà thơ, kể cả người dứt khoát nói không với thơ Mới như Quách Tấn. Cũng chính hiện tượng Quách Tấn sẽ cắt nghĩa vì sao, lối rẽ Mới Cũ rõ ràng, về sau Hàn Mặc Tử đã mất còn Yến Lan, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc mà nhóm Đồ Bàn tứ hữu vẫn keo sơn tồn tại. Kinh nghiệm của nhóm này, mở rộng ra cả thời thơ Mới, chúng ta được hệ quả: câu chuyện Cũ - Mới không đáng bàn bằng chuyện làm thế nào để Mới Hơn?
Chính Tản Đà, đại diện cuối cùng của thơ Việt trước khi nó làm dâu cưới rể thơ Pháp, chính ông đã viết:
Đàn là đàn, thơ là thơ
Thơ thời có chữ, đàn có tơ
Nếu không phá cách vứt mẹo luật
Khó cho thiên hạ đến bao giờ?
Kinh nghiệm nhóm Đồ Bàn tứ hữu cho thấy: Cùng học theo trường phái lãng mạn Pháp với quan niệm của Baudelaire: chủ nghĩa lãng mạn là sự biểu đạt mới nhất, hiện thời nhất của cái đẹp. Nói chủ nghĩa lãng mạn là nói nghệ thuật hiện đại; nhưng Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên nghiêng về V. Hugo khi ông ấy cho rằng để phản ánh hiện thực, các nhà lãng mạn không nhắm cái đẹp mà nhắm cái đặc tính dẫu cho có phải gợi lên cái kỳ dị và cái xấu xí. Tuy nhiên, giữa Hàn và Chế cũng lựa chọn khác nhau, Chế chọn lịch sử Hời mất nước để gửi gắm thân phận mất nước Việt hiện thời; Hàn ngâm nỗi đau thân xác vào thân phận ngàn năm Thiên Chúa, những vì sao rơi, chết trong quằn quại ánh sao băng nức nở. Còn Yến Lan mịt mù cố quốc tượng hình trong bức thủy mặc đã phai mờ. Chính những khác biệt ấy làm nên điệu hồn, vang lên nhịp điệu cho mỗi người, khiến người nọ mới hơn người kia và cuối cùng tất cả làm mới nhau; ngoảnh đi ngoảnh lại đến Đường luật của Quách Tấn cũng mới:
Chim mang về tổ bóng hoàng hôn
Vàng lửng lơ non biếc đọng cồn
Cành gió hương xa hoa tỷ muội
Đồi sương sóng lượn cỏ vương tôn
Thơ Mới thật hay đến nay không còn nhiều như ta hằng tưởng, nhưng cái tư thế các nhà thơ học thơ Pháp thì vẫn còn là bài học lớn cho chúng ta trong quá trình làm mới mình; thậm chí, đó là di sản quý giá nhất mà chúng ta cần thừa kế. Phần lớn các nhà thơ Mới đều học qua tiểu học Pháp Việt chương trình 6 năm rất tiến bộ của Albert Sarraut. Nhưng trước hết, họ là con em của các nhà Hán học, trên nền tảng văn hóa Nho Việt. Vì văn hóa Nho Việt là của nhà giồng được, nên chính nó làm vốn liếng để tiêu hóa Tây học như ta vẫn nói vốn đối ứng khi liên doanh với nước ngoài. Phần lớn người Việt đầu thế kỷ XX, khi tốt nghiệp tiểu học đều có chữ Hán, chữ Pháp trong người, những người khá đều đủ chữ để học hỏi tri thức hiện đại mà thành nhà khoa học hàng đầu của không chỉ trong nước: GS Trần Đức Thảo, GS Hoàng Xuân Hãn, GS Tạ Quang Bửu, GS Bùi Huy Đáp… Bởi theo quy luật tạo hóa, mọi tinh túy đều nhẹ, luôn ở trên cao như khí trong lành vậy. Cho nên, chỉ khi ở trên nền tảng cao của văn hóa này, anh mới mong giao lưu hấp thụ được với tầng cao của văn hóa khác. Chúng ta có cụ Ấm Hiếu, cụ đầu xứ Tố, là các bậc túc nho nên dù chỉ võ vẽ Tây học, cụ Tố đã viết Tắt đèn văn như văn Tây, cụ Tản Đà đã đủ sức khuấy đảo làng báo là nghề có quê hương bên Pháp!
Như thế có thể nói các nhà thơ Mới là những kẻ biết, biết người và tự biết mình. Họ chỉ học cái mình chưa bằng người, hoặc chỉ lấy cái hơn để bổ túc cái thua. Ví như họ học V. Hugo: “Hiện đại có nghĩa là làm cho ngôn ngữ văn chương được phong phú với những từ tầm thường, những ẩn dụ cụ thể và những câu văn suồng sã” trên cái nền của Nguyễn Trãi:
Nguyệt xuyên há dễ thấu lòng trúc
Nước chảy âu khôn khuyết bóng non?
...Hoa thường hay héo cỏ thường tươi.
Tóm lại, trước V. Hugo hơn 1000 năm, Nguyễn Trãi đã dùng ẩn dụ cụ thể, nói nôm na lời thường, lấy nắm bùn mà vẽ nên nàng công chúa lộng lẫy. Đây nữa, xin hãy đọc:
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng [Tràng giang, Huy Cận]
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi. Thu mênh mông [Tỳ bà, Bích Khê]
Ta nhận thấy, không chỉ ngôn ngữ ẩn dụ cụ thể thông thường, cái cách làm tượng trưng của Huy Cận và Bích Khê đã không còn ở tầm sinh viên khóa luận mà đã đầy đủ khí chất chuyên nghiệp, nó khiến hiệu ứng thơ không chỉ gợi tứ thơ như nó muốn, mà còn gợi ra cả ngàn năm văn hóa nằm bên ngoài hồn cốt của thơ như một giá đỡ kiêu hãnh. Chính Bích Khê - người từng gọi Baudelaire là “Vua thi”, gọi Rimbaud là tổ sư tượng trưng đã từng viết:
Ta mới mẻ trên viễn cổ Đông phương.
Trên kia, tôi có nói qua về nhóm thơ Áo bào gốc liễu, giờ xin nói kỹ hơn về cách mà họ dĩ ngoại đãi nội. Ở Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh hoan hỉ nói Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ Mới rồi dè dặt khen hồn quê [chứ không hề nhắc đến thi pháp] của Nguyễn Bính. Quả thật, Nguyễn Bính có vẻ cũ nhất; chỗ nào mới, ông lại mới từ chính cái cũ:
Anh đi đấy, anh về đâu
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm.
Nghe nói, câu ấy ông viết năm 13 tuổi, lúc còn học chữ Hán với cha ở nhà. Ông nắm rất vững truyện thơ Nôm khuyết danh, viết Cô hàng xóm, Hoa với rượu đều đặc sắc, khả dĩ sánh ngang với Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa. Ông chuyên sử dụng thể thơ lục bát, còn ở thể thất ngôn thì học Pháp mà kéo dài bằng nối khổ, cũng học Pháp mà đẩy hơi thở thời cuộc vào thơ khiến nó có thêm ẩn dụ cụ thể và lời văn suồng sã:
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi [Chân quê]
Còn Trần Huyền Trân thì coi thể thơ thất ngôn như cái lồng có sẵn, đã cũ để nhốt con chim thơ Mới:
Vó nghèo được nước đã lê thê
Đàn cá giang hồ nhảy nhót đi
Cả cụm bèo xanh nằm cạn mãi
Cũng như cất cánh gọi không về [Mưa đêm lều vó]
Có thể nói, thơ hay đã khiến người đọc quên thể thơ, và nữa, với Trần Huyền Trân, nhà thơ có thể làm mới ngay cả một thể thơ đã muôn năm cũ, nếu anh có tài.
Nhưng bàn về thơ Việt hôm nay mà không nói đến thơ hậu hiện đại [postmoderm theory] sẽ là một cái lỗi rất khó tha thứ. Thú thực là trước khi viết những dòng này, tôi không mấy quan tâm đến cái món ấy, lý do thật đơn giản: Cá nhân tôi, như phần lớn các bác ngồi đây vẫn đang tìm chỗ trong toa bao cấp - đổi mới của con tàu lịch sử đang tiến vào công nghiệp - tức là vào hiện đại - moderm. Và cũng thưa luôn, những năm 1970’, nhiều người vẫn còn dịch moderm là tân kỳ, nghĩa là cái đích huy hoàng rực rỡ chúng ta vươn tới. Vậy là chúng ta đi sau xã hội công nghiệp của phương Tây vài trăm năm, cho đến khi họ đã post - hậu rồi, mình vẫn chưa đến moderm. Nhưng lịch sử luôn luôn có chuyện so le như vậy. Cũng như, chủ nghĩa lãng mạn là nhắm tới giải phóng con người thoát khỏi nô lệ [nhân công, thân phận, nhận thức...] để thành người tự do. Nhưng, nói như Vladimir Soloviev, với một số đông người, tự do có nghĩa là tự do chết đói. Nhân vật Đỗ Tích của Hà Ân, do có công đưa quân nhà Trần ra vào đầm Dạ Trạch an toàn, được vua hỏi muốn thưởng gì? Đỗ Tích không muốn tẩy chữ quan nô xăm trên trán nó, mà xin thưởng đồng tiền vàng, xâu sợi gai đeo toòng teng như huy chương chơi! Cứ thế, với người nghèo đói, tự do không quý bằng cái bánh tẻ.
Một trong các khái niệm của hậu hiện đại là giải thiêng, giải đại tự sự, giải trung tâm hóa. Khổ quá, khi chưa qua moderm, con người cần bấu vào niềm tin, vào đại tự sự, phải ở trọ trong các trung tâm để làm việc kiếm sống. Người ta biết thế, nên mới có Pháp Luân công, mới có sư Thái Trúc Minh vãi Yến trong thời “Thượng đế đã chết” này. Vận vào thơ, khi các bài thơ hậu hiện đại từ chối một trung tâm nào thì họ hắt nước bẩn vào trung tâm ấy rồi tạo ra mỗi câu thơ mạch thơ một trung tâm của nó; giữa các câu thơ có thể hoặc không có mối liên hệ nào và không có khả năng kết hợp lại với nhau; tất cả tạo thành các mảnh vỡ được khớp nối theo sở thích của tác giả. Người đọc sẽ rơi vào trạng thái bất định, trạng thái bất định cũng là hiện thực của cuộc sống đương diễn ra theo các nhà hậu hiện đại. Một khái niệm nữa, cũng tiện cho các nhà thơ bất tài, là hậu hiện đại chống lại quan niệm nghệ thuật là sự mô phỏng–bắt chước của Aristote; hơn nữa, hậu hiện đại quan niệm rằng, hiện thực không phải chỉ là những cái nghe được nhìn được mà hiện thực còn là những cái cảm nhận được, là những cái không nghe không thấy những vẫn tồn tại đích thực, còn là hiện thực của giấc mơ, của tiềm thức, vô thức...
Nhưng xin đừng quên rằng, phản mô phỏng ở phương Đông đã có chừng nghìn tuổi và nói chung, khi mà tiền nhân còn chưa biết Aristote là ai. Lý Hạ, vào thời chín châu - cửu đỉnh còn được coi là biểu trưng của hồn vía dân tộc Trung Hoa, đã giải đại tự sự bằng cách coi nó như không có:
Chín châu nhìn như chín chấm khói
Biển không rót đầy một chai
Chúng ta có lỗi với cụ Nguyễn Du khi hiểu sơ sài hời hợt về bài thơ Phản chiêu hồn. Tại sao có tên như thế? Vì Tống Ngọc, bạn của Khuất Khuyên viết bài Chiêu hồn nổi tiếng hai nghìn năm. Đại ý: Hồn ơi, hãy về. Nhưng hồn đừng về phương Bắc nơi núi băng sông tuyết; hồn cũng đừng về phương Đông, nơi có mười mặt trời chúng thiêu rụi hồn mất; hồn cũng đừng về phương Tây, nơi con ong to như con voi, con kiến to như cái bầu; cũng đừng về phương Nam, nơi ăn thịt người, cúng giỗ bằng thịt người băm. Hồn chỉ về Yên Dĩnh [nước Sở] thôi nhé. Xin nhớ, Trung Quốc là trung nguyên còn lại là tứ di vốn là ý thức hệ, là siêu đại tự sự của người Hán, nhưng Nguyễn Du đã ở Yên Kinh mà dõng dạc Phản chiêu hồn:
Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan/ Đại địa xứ xứ giai Mịch La
[Đời sau người người đều là Thượng Quan, mặt đất đâu cũng Mịch La]
Năm tôi 5, 6 tuổi, ông nội đã dùng bài thơ Thiên công hốt sinh ngã làm ngữ liệu dạy tôi chữ Hán. Ông nội dịch như sau:
Xưa kia cái thời tớ chưa sinh
Tớ chả biết quái gì
Ông Trời hốt nhiên sinh ra tớ
Sinh ra tớ làm quái gì
Không có cơm tớ đói
Không có áo tớ rét
Tớ giả ông cái ông sinh
Ông giả tớ thời tớ chưa sinh
Vậy đấy, người xưa đã “nhìn thấy” cái hiện thực không có thật để mô phỏng và giải mô phỏng nhu nhuyễn như tự nhiên, hơn nữa, đã cãi nhau tay đôi với đại tự sự, lại hơn nữa, giải trung tâm mà không thèm thiết lập thêm một trung tâm nào. Hãy giả tớ cái môi sinh bùng nhùng không có hình thù gì, cứ mặc kệ tớ hỗn mang trong đó! Đến đây, lại sực nhớ hai câu nữa trong Phản chiêu hồn của cụ Nguyễn Du: Tam Hoàng chi hậu phi kì thì/ Tảo liễm tinh thần phản thái cực [Sau Tam Hoàng không đâu hợp thời nữa, hãy sớm thu góp tinh thần mà trở lại Thái Cực - nơi hỗn mang không có hình thù gi]. Đằng khác, “hậu hiện đại” của người xưa vẫn rất dễ hiểu với mọi người không chia cấp/ sở học. Xin nhớ cho, muốn có nhiều người đọc, yêu, thuộc là nhu cầu tự nhiên của thơ, nhu cầu chia sẻ như hoa nở gọi bướm; là nhu cầu của hết thảy nhà thơ không chia trường phải. Một hậu hiện đại có tên tuổi là nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh, khoảng mươi năm trước nói với tôi: Thơ mình không ai thuộc thì thôi, chớ khong ai nhớ thì mình thua anh ơi! Một nhà thơ hậu hiện đại nữa, cũng ở Nam bộ nhưng trẻ hơn, nhà thơ Khét [Trần Đức Tín]. Tôi có may mắn là người bỏ phiếu sơ khảo Giải Trẻ Hội Nhà văn Việt Nam 2023 cho tập thơ Chín nhánh da vàng của Khét. Khét giải trung tâm, rồi tạo cho mình một trung tâm không xác định, ấy là cố hương mơ hồ của dân di cư F mấy giữa mang mang sông nước:
Cố quận mặc áo gì
sinh ra tôi ở câu hò nửa đen nửa trắng
mạ không còn non để mọc chân làng
chín nhánh đêm đêm vỗ lên mái tóc
đứa con rơi của đồng bằng
ở đậu nhịp song lang...” [Đừng mang tôi về cố quận]
Đó là cách Khét, cùng các nhà thơ có căn cơ khác tiếp cận hậu hiện đại. Họ tựa chắc vào tiền nhân. Tôi không lừa các bạn đâu. Các nhà thơ Mới học lãng mạn và tượng trưng Pháp sẽ làm chứng cho tôi.
----------------
Tham luận tại hội thảo "Phẩm giá của Thơ ca"