Phẩm giá cao nhất của thơ chính là khả năng chia sẻ và nâng đỡ con người trong những buồn vui, đau khổ của kiếp sống, đồng thời đánh thức tình yêu Tổ quốc, quê hương trong cộng đồng và từng cá nhân. Khi thơ chạm được đến những miền sâu kín nhất của tâm hồn, nó không chỉ làm đẹp cho đời sống tinh thần mà còn góp phần làm đẹp cho đời sống đạo đức và nhân văn.
Trước hết, thơ là nơi con người gửi gắm và tìm thấy sự đồng cảm. Trong những thời khắc đau buồn, mất mát, cô đơn, một câu thơ đúng lúc có thể trở thành bàn tay vô hình nâng đỡ tinh thần, giúp con người cảm thấy mình không đơn độc. Thơ không xóa bỏ nỗi khổ, nhưng làm cho nỗi khổ trở nên có thể chịu đựng, bởi nó được gọi tên, được thấu hiểu và được chia sẻ. Ngược lại, trong niềm vui, hạnh phúc, thơ lại giúp con người ý thức sâu sắc hơn về vẻ đẹp của sự sống, của tình yêu, của những khoảnh khắc mong manh mà quý giá. Chính sự cộng hưởng cảm xúc ấy làm nên sức sống bền bỉ của thơ ca trong đời sống nhân loại.
Cao hơn nữa, thơ không chỉ dừng ở cảm xúc cá nhân mà còn mở rộng đến chiều kích cộng đồng và dân tộc. Những vần thơ hay về quê hương, đất nước không nhằm tô vẽ một cách sáo rỗng, mà đánh thức trong con người ý thức về cội nguồn, về lịch sử, về trách nhiệm công dân và nghĩa vụ tinh thần đối với nơi mình sinh ra và lớn lên. Thơ khơi dậy tình yêu Tổ quốc bằng con đường mềm mại nhất là con đường của cảm xúc và rung động thẩm mỹ. Khi yêu một dòng sông, một cánh đồng, một làng quê qua thơ, con người sẽ tự nhiên yêu cả đất nước đã sinh ra những vẻ đẹp ấy. Tình yêu ấy không ồn ào, không giáo điều, nhưng bền bỉ và sâu sắc.
Quan trọng hơn, thơ chân chính không ru ngủ con người trong cảm xúc, mà đánh thức họ trước những vấn đề của đời sống. Nó khiến con người biết xót xa trước nỗi đau của đồng loại, biết phẫn nộ trước bất công, và biết hy vọng vào những giá trị tốt đẹp. Chính ở đây, thơ thể hiện phẩm giá đạo đức cao nhất: không quay lưng với con người, không đứng ngoài số phận con người, mà đồng hành, nâng đỡ và dẫn dắt con người đến ánh sáng của nhân ái và trách nhiệm.
Có thể nói, khi thơ biết chia sẻ nỗi buồn, nhân lên niềm vui, làm dịu nỗi đau và đánh thức tình yêu quê hương, đất nước, thì thơ không chỉ là nghệ thuật của cái đẹp mà còn là nghệ thuật của cái thiện. Đó chính là phẩm giá cao nhất và bền vững nhất của thơ ca trong hành trình tinh thần của nhân loại.
Ngày thơ Việt Nam năm nay được Hội Nhà văn VN chọn với chủ đề “Trước biển lớn”. Trong lịch sử văn học Việt Nam, biển vừa là không gian trữ tình vừa là không gian sử thi. Biển gợi mở tự do, khát vọng,nhưng biển cũng gợi những cuộc phòng thủ dài lâu, những trận thủy chiến, những lớp người ra đi mà không chắc ngày về. Bởi vậy, khi Ngày Thơ 2026 hướng về “biển lớn”, cho thấy thơ không thể chỉ dừng ở mô tả phong cảnh hay cảm hứng lãng mạn. Thơ được gọi để làm một hành động văn hoá khẳng định căn cước, dựng lại mối dây liên kết giữa đất liền với đảo xa, giữa quá khứ và hiện tại, giữa đời sống bình thường và trách nhiệm công dân.
Chủ đề “Trước biển lớn” của Ngày Thơ Việt Nam 2026 có thể đọc như một tuyên ngôn tư tưởng mềm của thơ ca trong bối cảnh mới khi thơ đứng trước không gian biển đảo vừa thiêng liêng về mặt chủ quyền và lịch sử, vừa hiện đại giữa hội nhập và phát triển, vừa gắn với đời sống lao động và sinh kế của cộng đồng. Nói cách khác, đứng trước biển lớn là đứng trước tầm vóc của Tổ quốc, và cũng là đứng trước câu hỏi: Chúng ta sẽ phát triển và hội nhập như thế nào khi thơ ca đồng hành cùng dân tộc vươn ra “biển lớn” thời đại mới? Hình ảnh “vươn ra biển lớn” không chỉ là cảm hứng địa lý, mà là biểu tượng của khát vọng phát triển thời hội nhập, đổi mới, tự cường, bảo vệ chủ quyền, mở rộng tri thức và năng lực cạnh tranh văn hoá. Thơ ca đồng hành cùng khát vọng ấy bằng cách tạo nên “nền tinh thần” cho hành trình phát triển.
Trong hành trình đó, thơ giúp giữ vững căn tính trong hội nhập. Một dân tộc muốn đi xa cần biết mình là ai, đến từ đâu, mang theo giá trị gì. Thơ, với khả năng cô đọng lịch sử và cảm xúc dân tộc, góp phần nuôi dưỡng lòng yêu nước không sáo rỗng. Yêu nước trong thơ đương đại không nhất thiết là hô khẩu hiệu; nó có thể là sự xót xa trước một dòng sông bị ô nhiễm, là lòng biết ơn người lính, là nỗi trăn trở trước đạo đức xã hội xuống cấp, là sự tự vấn về trách nhiệm công dân. Khi thơ đặt tình yêu nước vào chiều sâu suy tư, nó làm cho lòng yêu nước bền hơn, tỉnh táo hơn, có trí tuệ hơn.
![]() |
| Đại biểu tham dự tọa đàm |
THƠ CA ĐỨNG TRƯỚC BIỂN VÀ SỰ CỐNG HIẾN CHO TINH THẦN CỘNG ĐỒNG
Từ xưa đến nay thơ ca không chỉ thuộc về tháp ngà cá nhân. Trong lịch sử Việt Nam, thơ luôn gắn với cộng đồng, thơ là tiếng nói của thời đại, của dân tộc, của những con người chung số phận. Ở đương đại, tinh thần cộng đồng của thơ thể hiện trên hai bình diện: nội dung hướng về con người – xã hội, và hình thức mở rộng không gian tiếp nhận, làm phong phú đời sống thơ. Trước hết, thơ góp phần gắn kết cộng đồng bằng cách gọi tên những vấn đề chung: thiên tai, dịch bệnh, môi trường, bất bình đẳng, bạo lực, sự tổn thương tâm lý, sự mất mát của những nhóm yếu thế… Khi thơ đặt những trải nghiệm ấy vào ngôn ngữ có chiều sâu, thơ giúp cộng đồng nhìn thấy nhau rõ hơn, bớt vô cảm, bớt lãng quên. Không ít bài thơ đương đại đã rời khỏi “cái tôi lãng mạn” đơn tuyến để bước vào “cái chúng ta” đa thanh, trong đó có người lao động, người di cư, người già, trẻ em, những phận người ở rìa đô thị. Sự hiện diện của họ trong thơ là một biểu hiện của công bằng văn hoá khi ai cũng xứng đáng có tiếng nói, có sự được thấu hiểu.
Đáng chú ý thơ làm giàu tinh thần cộng đồng bằng đổi mới sáng tạo. Đương đại chứng kiến sự đa dạng hoá của thơ: thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ thị giác, thơ trình diễn, thơ kết hợp nhạc – hình ảnh, thơ trên mạng xã hội… Có người lo lắng điều này làm thơ “loãng”. Nhưng nhìn kỹ, sự đa dạng ấy là một dấu hiệu sinh động của đời sống khi thơ đang tìm cách trở lại với công chúng bằng những kênh mới, ngôn ngữ mới, nhịp điệu mới. Vấn đề không phải là hình thức “mới hay cũ”, mà là chất lượng tư tưởng và độ trung thực nghệ thuật. Tinh thần cộng đồng còn thể hiện ở thái độ đối thoại. Thơ đương đại có thể tranh luận, phản biện, chất vấn nhưng nếu giữ phẩm giá, thơ sẽ tránh cực đoan và hằn học. Thơ có thể lên tiếng trước bất công mà vẫn nhân văn, có thể phản ánh gai góc mà vẫn hướng thiện. Khi thơ làm được điều đó, nó trở thành “văn hoá đối thoại” cho cộng đồng: dạy người ta tranh luận mà không huỷ diệt nhau.
Ở một chiều sâu khác, thơ có thể chạm vào các vấn đề thời sự mà vẫn giữ phẩm chất nghệ thuật. Đây là thách thức lớn bởi thời sự dễ làm thơ trở thành bản tin hoặc bài diễn thuyết. Nhưng nếu nhà thơ có tài, thời sự sẽ được “thăng hoa” thành hình tượng, từ sự kiện cụ thể đi đến ý nghĩa phổ quát, từ hiện tượng đi đến bản chất, từ bức xúc đi đến khát vọng. Khi ấy, thơ không chỉ phản ánh thời đại, mà còn dự phần vào việc định hình hệ giá trị của thời đại: hướng xã hội tới nhân ái, trách nhiệm, và lý tưởng.
Một vấn đề quan trọng, thơ cần khơi gợi khát vọng. Một quốc gia muốn phát triển cần không chỉ công nghệ và vốn, mà cần niềm tin và sức mạnh tinh thần. Thơ có thể nuôi dưỡng niềm tin ấy bằng cách trao cho con người một hình dung đẹp về tương lai không phải bằng ảo tưởng, mà bằng ý chí. Những bài thơ giàu khát vọng có thể làm người trẻ tin rằng họ có thể sống tử tế, có thể học tập, lao động, sáng tạo để góp phần vào điều lớn hơn bản thân. Thơ, trong ý nghĩa đó, là “động cơ mềm” của phát triển, không đo bằng GDP, nhưng đo bằng phẩm chất công dân.
Biển đảo vốn dễ bị cảm nhận như xa ngoài tầm mắt. Chủ đề “Trước biển lớn” là kéo biển về gần, biến biển thành một phần của căn tính quốc gia, nơi đó không chỉ có sóng, mà còn có biên cương. Vì vậy, tinh thần tư tưởng cốt lõi ở đây là khơi dậy ý thức chủ quyền bằng cảm thức văn hoá, không chỉ bằng khẩu hiệu hay thông tin. Thơ làm được việc mà nhiều diễn ngôn khác khó làm khi gọi tên để khắc nhớ, khắc nhớ để biết giữ gìn. Chính hướng này cũng cộng hưởng với việc Ngày Thơ lần thứ 24 mang chủ đề “Trước biển lớn” được mô tả là gợi mở không gian sáng tạo rộng mở, tinh thần dấn thân và khát vọng vươn xa trong bối cảnh mới.
BIỂN LÀ KÝ ỨC NGUỒN CỘI, LÀ BIÊN CƯƠNG LỊCH SỬ
Trong dòng chảy thơ Việt Nam sau Đổi mới, khi cái tôi cá nhân, đời sống riêng tư và các thao thức hiện sinh ngày càng chiếm vị trí trung tâm, thì sự xuất hiện trở lại của những tác phẩm mang cảm hứng sử thi, cộng đồng và Tổ quốc lại là hiện tượng đáng chú ý. Tôi đã viết khá nhiều bài thơ và trường ca về biển đảo và đã được ghi nhận bởi Giải thưởng Hội Nhà Văn năm 2016 cho tập thơ “Tổ quốc nhìn từ biển”. Trong bài viết này, tôi muốn trao đổi với các bạn về những ý tưởng, những trăn trở, tìm tòi khi viết các bài thơ mang tinh thần biển của mình. Trong tập thơ này, theo tôi đáng chú ý có ba bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển”, “Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra”, “Tổ quốc bên bờ biển cả”, đây không chỉ là tiếng nói của tình yêu nước trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, mà còn là những khúc tráng ca hiện đại về biển đảo, nơi chủ quyền, lịch sử và thân phận dân tộc hòa làm một.
Điều làm nên sức sống của ba bài thơ này không chỉ nằm ở nội dung tư tưởng tinh thần bảo vệ lãnh hải, biên cương biển đảo mà còn ở sự đổi mới phong cách nghệ thuật là sự kết hợp giữa sử thi và trữ tình, giữa truyền thống và hiện đại, giữa ngôn ngữ chính luận và biểu tượng thi ca, giữa nhịp điệu cổ điển và cấu trúc thơ tự do đương đại. Trong trường thẩm mỹ mới này, thơ yêu nước không hô khẩu hiệu, không minh họa sự kiện, mà dựng lên một thế giới hình tượng giàu xúc cảm, giàu biểu tượng, giàu chiều sâu lịch sử – văn hóa. Vì thế mạch thơ này vừa mang giọng điệu tráng ca của dân tộc, vừa mang rung động nhân bản của con người, vừa gắn với thời sự nóng bỏng của biển Đông, vừa nối dài mạch nguồn ngàn năm giữ nước.
Với 3 bài thơ này, có thể xác định như một cụm tác phẩm thuộc mạch thơ công dân- chủ quyền mang âm hưởng tráng ca sử thi. Nếu ở nhiều sáng tác về biển, biển thường được cảm nhận như một không gian phong cảnh và tâm trạng, gắn với cái “tôi” trữ tình riêng tư, thì ở các bài thơ này, biển đảo trở thành “điểm nhìn tư tưởng” để nhìn Tổ quốc, đồng thời là biên giới, là thân thể, là mạch máu lịch sử của dân tộc. Cách định vị ấy không chỉ cho thấy ý thức thời sự mạnh mẽ trước vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa, mà còn đánh dấu một bước chuyển quan trọng khi đưa chủ quyền từ phạm vi chính luận sang phạm vi thẩm mỹ cảm xúc, khiến “giữ biển” trở thành một đạo lý sống có chiều sâu văn hóa và nhân bản.
So sánh với mạch thơ trữ tình truyền thống về biển, nơi hình tượng sóng – gió – bờ cát thường nâng đỡ những rung động tình yêu, nỗi nhớ và cô đơn, thơ biển của tôi chủ yếu vận động theo chiều ngược lại,từ vẻ đẹp thiên nhiên đi thẳng vào lịch sử và trách nhiệm. “Tổ quốc nhìn từ biển” mở ra bằng một khẳng định mang tính bản thể: “Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển/ Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa/ Ngàn năm trước con theo cha xuống biển/ Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa”. Từ đó biển không còn là cảnh sắc mà là cơ thể, là đau đớn cụ thể. Tiếp theo đó là các điệp cấu trúc “Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển/ Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng/ Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa/ Trong hồn người có ngọn sóng nào không?”. Các điệp cấu trúc này tạo nhịp như một lời thề và một lời cảnh tỉnh, liên tục mở ra những tầng nhìn: nhìn từ bão giông, từ quần đảo, từ thương tích, từ hiểm họa, từ mất mát… Nhờ vậy, Tổ quốc không hiện lên như khái niệm trừu tượng, mà như một thực thể đang “neo mình đầu sóng cả” và buộc con người phải thao thức. Cũng chính ở đây, bài thơ đẩy biển đảo vào chiều sâu huyền thoại và lịch sử với các hình ảnh: Âu Cơ – Lạc Long Quân, Bạch Đằng, trống đồng… tạo nên một trục liên tưởng cho thấy biển Đông không chỉ là vấn đề hiện tại, mà là nơi hội tụ ký ức và ý chí ngàn năm của dân tộc. So với những bài thơ chỉ dừng ở “biển đẹp” hay “biển nhớ”, cách viết này mang dáng dấp sử thi khi thơ không chỉ để bộc lộ cảm xúc cá nhân mà để khắc ghi một ý thức quốc gia.
Khi so sánh với mạch thơ viết về người lao động biển ở các làng chài, thường nhấn mạnh nhọc nhằn mưu sinh và phong vị văn hóa biển, tôi vẫn tiếp nhận chất đời sống ấy nhưng nâng lên chất hùng ca giữ nước. Những câu thơ về “Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc/ Các con nằm thao thức phía Trường Sơn/ Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả/ Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn”, rồi “Mùa biển động trên cồn cào sóng dữ/ Thương con tàu lạc bão giữa trùng khơi/ Cả làng biển lại trắng đêm ngóng đợi/ Sóng bạc đầu hay tóc trắng mẹ tôi” trong “Tổ quốc bên bờ biển cả” không chỉ nhằm tả khổ, chúng làm nổi bật một chân lý: Tổ quốc đứng vững nhờ sự bám trụ bền bỉ của người dân, nhờ mồ hôi và đức hy sinh thầm lặng. Đời sống lao động vì thế không nằm ngoài chủ quyền, mà trở thành phần cấu thành chủ quyền. Thậm chí trong bài thơ “Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra”, tôi đặt “máu ngư dân” bên cạnh “máu chiến sĩ”, coi đó là hai dòng chảy cùng ngân lên “bài ca giữ nước”. Nhờ vậy, tính sử thi trong thơ không bị giới hạn trong không gian chiến trận mà mở rộng ra toàn xã hội, toàn đời sống.
So sánh với mạch thơ chiến sĩ với sự tưởng niệm vốn dễ rơi vào tôn vinh một chiều hoặc khẩu hiệu, trong “Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra”, tôi nâng biểu tượng hóa thành mạch tư tưởng “tái sinh”. Các hình ảnh “Khi hy sinh ở đảo đá Gạc Ma/ Các anh lấy ngực mình làm lá chắn/ Để một lần Tổ quốc được sinh ra/ Máu các anh thấm vào lòng biển thẳm/ Cờ Tổ quốc phất lên trong mưa đạn/ Phút cuối cùng đảo đá hoá biên cương/ Anh đã lấy thân mình làm cột mốc/ Chặn quân thù trên biển đảo quê hương” đã biến sự hy sinh thành một dấu mốc hữu hình của chủ quyền, chuyển chủ quyền từ bản đồ sang thân phận. Đặc biệt, điệp câu “Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra” không chỉ là lời tưởng niệm mà là một triết lý lịch sử khi Tổ quốc không phải cái gì bất biến có sẵn, mà được làm nên và được “sinh ra” liên tục từ những hy sinh và lựa chọn của con người. Kết thúc bài thơ bằng hình ảnh “tiếng gà gáy bình yên trên ngực đảo”, “tiếng trẻ nhỏ đến trường nơi sóng bão”, đây chính là sự tái định ý nghĩa chiến thắng khi sự sống bình thường được bảo toàn, là tương lai được tiếp tục, là đời sống được trở lại trên nền máu đã đổ. Điều này khiến giọng tráng ca không trở thành phô trương, mà thấm nhuần lẽ nhân sinh.
Từ việc xác định vị trí và so sánh như trên, một số nhà phê bình văn học cho rằng, đó là phong cách tráng ca sử thi mang tinh thần biển đảo bất khuất, kết hợp chặt giữa tư tưởng lớn lao của dân tộc với chi tiết đời sống giàu sức gợi. Biển trong thơ là điểm nhìn tư tưởng, là biên cương, là lịch sử, là ký ức nguồn cội, đồng thời là nơi thử thách phẩm giá con người. Với giọng thơ trang trọng, nhịp điệu mạnh, chuỗi điệp khúc giàu tính nghi lễ tạo âm vang cộng đồng, nhưng vẫn được làm mềm bởi hình tượng “mẹ”, bởi đời sống lao động và tình yêu đôi lứa. Chính sự hòa trộn ấy tạo nên một trường thẩm mỹ cho thơ đương đại về biển đảo khi thơ không chỉ phản ánh thời sự, mà nâng thời sự thành chiều sâu văn hóa, không chỉ kể về chủ quyền, mà làm cho chủ quyền trở thành cảm giác trong tâm hồn, trở thành đạo lý sống của người Việt hôm nay.
------------
Tham luận tại hội thảo "Phẩm giá của Thơ ca"
.