Không gian yên ả trước mắt khó khiến người ta hình dung rằng nơi đây đã từng oằn mình gánh chịu những trận mưa hóa chất khốc liệt trong chiến tranh.
Hơn 60 năm về trước, trong Chiến dịch Ranch Hand (1961-1971), hơn bốn trăm ngàn lít thuốc diệt cỏ, chứa hơn chục kilôgam dioxin đã trút xuống vùng A Lưới, để lại những vết thương không chỉ in hằn trong lòng đất mà còn kéo dài qua nhiều thế hệ con người.
![]() |
| Cán bộ chiến sĩ ở A So. |
Đặc biệt, khu vực sân bay A So (thuộc xã A Lưới 4) khu vực này được quân đội Mĩ dùng làm sân bay dã chiến, tàng trữ, nạp chất diệt cỏ lên máy bay để đi phun rải và tẩy rửa máy bay sau khi phun. Chính vì vậy, nơi đây trở thành điểm tồn lưu dioxin với mức độ đặc biệt nghiêm trọng. Đã có thời gian dài, vùng đất này bị gọi là “tọa độ chết” - nơi cây cỏ không sinh trưởng, cảnh quan hoang tàn, bao trùm sự xám ngắt đến lạnh lẽo.
Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng những hệ lụy mà nó để lại vẫn còn hiện hữu. Người dân từng phải rời bỏ quê hương, tìm nơi sinh sống khác vì lo ngại ảnh hưởng của chất độc. A So vì thế là kí ức đau thương về chiến tranh và hậu quả lâu dài của chất độc hóa học đối với con người và môi trường.
Cái nắng đã kịp đổ xuống mặt đất từ rất sớm. Ánh nắng xuyên qua những giọt sương còn đọng trên đầu ngọn cỏ, lấp lánh như những hạt pha lê mong manh. Gió nhẹ thoảng qua, làm những thảm cỏ xanh non khẽ lay động, tạo nên một khung cảnh tưởng chừng bình yên, dịu mát.
Xa xa, những dãy đồi trập trùng hiện lên mờ ảo trong làn sương sớm chưa kịp tan, bầu trời xanh nhạt trải rộng, điểm xuyết vài cụm mây trắng lững lờ trôi. Thỉnh thoảng, tiếng chim rừng cất lên trong trẻo, phá vỡ sự tĩnh lặng của không gian, khiến cảnh vật nơi đây thêm phần sống động.
Từ xa nhìn vào khu vực thi công, từng tốp cán bộ, chiến sĩ thuộc Trạm Quan trắc và Cảnh báo môi trường độc - xạ miền Trung, Binh chủng Hóa học, Bộ Quốc phòng đang miệt mài thực hiện các công đoạn xử lí đất. Các anh trong bộ đồ bảo hộ kín mít giống như những phi hành gia đang “bay” trên mặt đất, di chuyển với những bước chân chậm rãi, thận trọng.
Ở phía xa, một nhóm chiến sĩ trong những đôi ủng cao, nặng nề kéo từng tấm vật liệu HDPE dày cộp, chắc nịch, đưa xuống lót đáy các hố chôn lấp - nơi sẽ tiếp nhận những lớp đất nhiễm dioxin vừa được bóc tách. Những hố chôn lấp đất trải dài, loang loáng những vệt nước, vệt bùn, uốn lượn mềm mại, theo từng nếp gấp, từng đường kéo trên nền đất, thẳng hàng nối tiếp nhau. Lại có những dải bùn chạy dài, nâu sẫm, xen vàng óng ánh như dải lụa, cũng nép mình, khẽ co lại trong cái nắng và gió của dải đất này. Đằng sau là những đống đất vàng đen, im lặng nín thở, quan sát từng hành động xúc, thu gom của cán bộ chiến sĩ.
Cả công trường vận hành nhịp nhàng gắn kết nhau. Người kéo bạt, người chỉnh mép hố, người đo đạc, người ghi chép, người thu gom mẫu... giống như những chú kiến nhỏ bé đang cần mẫn giữa “thung lũng đỏ rát” của nắng miền Trung khắc nghiệt. Trên nền đất thẫm vàng, nổi bật lên những chấm trắng di động, là màu áo bảo hộ đã đẫm mồ hôi, loang sau lưng từng người lính như những vệt sáng mờ nhòe giữa hơi nóng hầm hập.
![]() |
| Cán bộ, chiến sĩ thuộc Trạm Quan trắc và Cảnh báo môi trường độc - xạ miền Trung, Binh chủng Hóa học, Bộ Quốc phòng đang thực hiện các công đoạn xử lí đất tại A So, thành phố Huế. |
Sau giờ làm việc, chúng tôi gặp Thiếu tá Nguyễn Đình Anh, trợ lí kĩ thuật, Binh chủng Hóa học. Cởi bỏ bộ bảo hộ kín mít là vóc dáng thư sinh nhưng ở anh vẫn toát lên vẻ rắn rỏi, cứng cáp của người lính đã quen với nắng gió. Anh giới thiệu cho chúng tôi từng công đoạn xử lí đất. Quy trình được triển khai chặt chẽ, theo từng bước kĩ thuật. Trước hết, lực lượng thi công tiến hành đào bóc lớp đất ô nhiễm. Khối đất đào lên được tập kết riêng, phun dung dịch kiềm để trung hòa, hạn chế tối đa nguy cơ phát tán chất độc ra môi trường xung quanh, rồi phủ bạt kín để cách li tạm thời.
Với phần hố vừa đào, lại tiếp tục phủ một lớp bùn bentonite - loại sét khoáng tự nhiên có thành phần chính là montmorillonite. Khi gặp nước, lớp bùn này trương nở mạnh, tạo thành một màng chắn kín, có khả năng ngăn thấm và giữ, hấp thụ các chất ô nhiễm rất hiệu quả.
Trên lớp bentonite, lần lượt được rải các lớp kết cấu như sỏi hoặc đá dăm, tiếp đến là lớp cát đệm. Sau đó, hệ thống ống nước được lắp đặt để dẫn toàn bộ nước thấm từ khu vực xử lí ra ngoài, đưa về các bể lắng, bể lọc trước khi xả ra môi trường tự nhiên.
Bước cuối cùng là trải màng chống thấm HDPE phủ kín toàn bộ bề mặt hố xử lí. Từng tấm màng được hàn ghép cẩn thận, tạo thành một lớp cách li liên hoàn, bảo đảm không cho nước mưa và các dòng thấm tiếp xúc trở lại với lớp đất bên dưới.
Đối với phần đất đã đào lên ban đầu, sau khi được phun dung dịch xử lí và kiểm soát an toàn, sẽ được hoàn nguyên trở lại hố, tiếp tục phun dung dịch trung hòa, rồi hàn kín bề mặt theo đúng quy trình kĩ thuật.
Phương pháp này chưa thể làm sạch tuyệt đối hoàn toàn lớp đất ô nhiễm, nhưng mức độ xử lí đạt trên 90% - một con số rất quan trọng để khống chế, cô lập nguồn độc, ngăn chặn nguy cơ lan truyền và bảo đảm an toàn lâu dài cho môi trường khu vực.
Công việc tưởng chừng rất khô khan ấy, lại chất chứa nỗi trăn trở, trách nhiệm của những người tham gia xử lí đất ở A So. Anh chia sẻ: “Hơn một năm, tôi gắn bó với vùng đất A Lưới 4, một xã vùng cao phía tây tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi sinh sống của đồng bào Cơ Tu, Pa Cô, Tà Ôi, Vân Kiều và Kinh... tôi cảm thấy mình như mang một món nợ ân tình chưa thể trả hết.” Vùng đất này đã từng oằn mình hứng chịu hàng nghìn lít chất độc dioxin - thứ hóa chất chết người đã thấm sâu vào lòng đất, đầu độc nguồn nước, biến nơi đây thành một “vùng đất chết” ám ảnh.
Không chỉ cướp đi sinh mạng con người, dioxin còn để lại những di chứng nặng nề cho nhiều thế hệ. Những đứa trẻ sinh ra mang dị tật, bại não, chậm phát triển trí tuệ; những cánh rừng bạt ngàn ngày nào giờ hóa thành đất trống đồi trọc; nhiều loài động, thực vật quý hiếm dần biến mất. Cuộc sống của người dân nơi đây vì thế cũng trở nên vô cùng chật vật. Anh tâm sự: “Người dân khổ lắm, chưa có nước máy, nước ngầm thì không dám dùng, phải hứng từng xô nước mưa để sinh hoạt.”
Những lời kể của anh khiến chúng tôi càng thấm thía hơn về nỗi đau mà vùng đất này đã và đang gánh chịu, đồng thời hiểu rõ hơn ý nghĩa của công việc mà các anh đang ngày đêm thực hiện.
Biết rằng đây là nhiệm vụ đầy khó khăn và hiểm nguy, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến bản thân phơi nhiễm chất độc, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, thậm chí đến cả thế hệ sau, nhưng các anh vẫn lặng lẽ lựa chọn dấn thân, bởi hơn ai hết, họ hiểu rằng, nếu không có những người đi trước đối mặt với hiểm nguy, thì sẽ không có một tương lai an toàn hơn cho những người ở lại.
Nói về những khó khăn trong quá trình triển khai nhiệm vụ, anh thẳng thắn nhìn nhận đã có thời điểm dự án khắc phục hậu quả chất độc hóa học tại sân bay A So nhiều lần rơi vào tình trạng đình trệ, chậm được triển khai. Phải đến năm 2020, khi có sự chỉ đạo quyết liệt, sâu sát của cố Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, dự án mới từng bước được tháo gỡ, khơi thông các vướng mắc.
Tuy nhiên, theo anh, công tác tuyên truyền, vận động ở địa phương trước khi đưa dự án về vẫn chưa thật sự bài bản, chưa đến nơi đến chốn. Những ngày đầu trực tiếp xuống hiện trường, chính anh và đồng đội đã gặp không ít khó khăn từ sự e ngại của người dân. Họ chưa quan tâm nhiều đến việc thứ chất độc chết người ấy sẽ được xử lí ra sao, có giảm bớt hay biến mất hoàn toàn hay không, mà nỗi lo lớn nhất là hoạt động của bộ đội có thể làm xáo trộn lớp đất nhiễm độc, khiến hóa chất phát tán, lan rộng và ảnh hưởng đến khu vực sinh sống của bà con. Nhất là trong điều kiện khí hậu mưa nhiều, chỉ cần xử lí không bảo đảm, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, gắn liền với sinh hoạt hằng ngày của người dân, là điều ai cũng lo ngại.
Thậm chí, có nhiều gia đình, vẫn tỏ ra hoài nghi, dè dặt và gây không ít khó khăn cho lực lượng thi công. Việc xử lí này liệu có hiệu quả hay không. Có trường hợp gia đình làm đơn kiến nghị, khiến quá trình thực hiện nhiệm vụ không ít lần bị gián đoạn. Anh nhớ rất rõ vào năm 2022, gia đình bà Hồ Thị N ở thôn Đông Sơn, huyện A Lưới cũ, nay thuộc A Lưới 4. Suốt một thời gian dài, gia đình bà kiên quyết phản đối, vì lo ngại việc xử lí đất của bộ đội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt.
Trước những băn khoăn đó, đơn vị anh đã chủ động phối hợp lấy mẫu nước và mẫu đất ngay khu vực xung quanh nhà bà, niêm phong, đóng gói cẩn thận và gửi ra Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga để phân tích, kiểm nghiệm.
Phải gần ba tháng sau, khi có kết quả chính thức, gia đình bà mới thực sự yên tâm và đồng ý để bộ đội tiếp tục triển khai công việc xử lí đất tại khu vực này. Từ câu chuyện đó, chính quyền nơi đây cũng thêm cơ sở khoa học và niềm tin để tăng cường tuyên truyền, vận động bà con xung quanh ủng hộ nhiệm vụ mà bộ đội đang thực hiện.
Không dừng lại ở đó, đơn vị anh còn phối hợp với Bệnh viện Trung ương Huế định kì hằng tháng, hằng quý cử bác sĩ, điều dưỡng lên địa bàn lấy mẫu máu, khám sức khỏe cho người dân và thông báo kết quả trực tiếp tới từng hộ gia đình. Anh nói: “Làm như vậy, để bà con không chỉ tin bằng lời, mà còn yên tâm từng ngày, từng giờ, khi thấy sức khỏe của mình được theo dõi, kiểm tra và bảo đảm một cách rõ ràng, minh bạch.”
Với anh và đồng đội, tuyên truyền để gây dựng được niềm tin của nhân dân nơi đây không chỉ là một nhiệm vụ, mà là điều kiện tiên quyết để công việc có thể bắt đầu và đi đến đích. Vừa kể, anh vừa khẽ mỉm cười, nụ cười hiền, ánh lên niềm vui và cả sự tự hào khi chỉ trong một thời gian ngắn, đơn vị đã để lại ở mảnh đất này nhiều việc làm nghĩa tình. Đơn vị anh đã kêu gọi, đóng góp xây dựng nhiều căn nhà tình nghĩa cho các nạn nhân chất độc da cam; hằng năm, trích một phần kinh phí ủng hộ quỹ người khuyết tật, quỹ khuyến học… Những việc làm lặng lẽ, bền bỉ, nhưng dần dần gắn kết bộ đội với bà con bằng sự tin cậy và sẻ chia.
Ở khu vực này, các trường mầm non, tiểu học đều chưa có cột cờ. Trong khi đây lại là địa bàn biên giới. Nghĩ đến điều đó, anh và đồng đội đã chủ động xin phép nhà trường cùng các cơ quan chức năng để dựng cột cờ Tổ quốc và cờ Đảng ngay trong khuôn viên trường.
Giọng anh chùng xuống, chậm rãi mà chân thành: “Việc này mình muốn làm từ lâu rồi. Làm để các cháu biết hình dáng lá cờ, để mỗi ngày nhìn thấy cờ bay trước sân trường, các cháu sẽ thêm tự hào. Và cũng là một cách, rất giản dị thôi, để gieo vào các cháu ý thức giữ gìn, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ từ những điều gần gũi nhất.”
Màn đêm dần buông xuống, bao phủ không gian núi rừng nơi đây. Không khí miền núi se lạnh, những làn gió mỏng khẽ luồn qua tán lá, mang theo hơi thở ngọt dịu rất đặc trưng của đại ngàn. Bên chén trà chan chát, ấm nóng, chúng tôi có dịp trò chuyện cùng anh Thiếu tá quân nhân chuyên nghiệp Lưu Ngọc Chiến - nhân viên quân y của Trạm Quan trắc và Cảnh báo môi trường độc - xạ miền Trung, Binh chủng Hóa học, Bộ Quốc phòng.
Ở tuổi ngoài 45, anh vẫn giữ được sự nhanh nhẹn. Làn da rám nắng bởi nắng gió thao trường và những tháng ngày bám trụ nơi công trường khiến gương mặt anh thêm phần rắn rỏi, từng trải. Ánh mắt hiền nhưng sâu, giọng nói trầm ấm, chậm rãi; mỗi câu chuyện anh kể như thấm đẫm hơi thở của một công việc thầm lặng mà không ít gian khó.
Hỏi ra mới biết, dự án xử lí chất độc dioxin này là nhiệm vụ lớn đầu tiên anh trực tiếp tham gia. Nhấp một ngụm trà nóng, anh trầm ngâm rồi kể về gia đình mình ở Đà Nẵng. Anh cười hiền, nói rằng thời trẻ cũng từng mải mê, vô tư như bao người, đến khi được ông bà nhắc nhở mới nghĩ đến chuyện lập gia đình, ổn định cuộc sống. Rồi như một sự sắp đặt của duyên số, anh gặp chị - một cô giáo mầm non hiền lành, giản dị ở quê nhà sau một lần anh về phép. Tình cảm đến nhẹ nhàng, chân thành, và họ nên duyên vợ chồng. Không lâu sau, gia đình nhỏ của anh đón chào cậu con trai đầu lòng, niềm vui giản dị mà ấm áp.
Thế nhưng, khi anh nhận nhiệm vụ tham gia dự án tại sân bay A So, vợ chồng anh vẫn đang tính toán, chưa có ý định sinh thêm con. Nghe anh chia sẻ về công việc sắp tới, chị ban đầu không đồng ý. Sự lo lắng ấy cũng dễ hiểu, bởi với nhiều người, dioxin không chỉ là một nỗi ám ảnh - thứ chất độc đã để lại quá nhiều hệ lụy, quá nhiều nỗi đau cho biết bao gia đình. Là một người vợ, lại vừa sinh con chưa lâu, chị càng không khỏi bất an khi nghĩ đến những rủi ro có thể xảy ra.
Không chỉ vợ anh, gia đình bên ngoại cũng canh cánh nỗi lo. Bố mẹ anh đã mất, phía gia đình vợ trở thành chỗ dựa tinh thần lớn nhất, nhưng cũng chính vì thế mà sự lo lắng càng thêm nặng nề. Ai cũng mong anh cân nhắc, thậm chí có lúc khuyên anh nên hoãn lại nhiệm vụ.
Anh kể, thời điểm đó, bản thân anh cũng không tránh khỏi những phút giây chần chừ. Giữa một bên là trách nhiệm của người lính, một bên là mái ấm nhỏ vừa mới vun vén, là vợ hiền, con thơ - sự giằng co ấy khiến anh không ít lần trăn trở. Đã có lúc, anh nghĩ đến việc xin lùi lại, để có thêm thời gian cho gia đình, để vơi đi những nỗi lo đang chồng chất.
Nhưng rồi, sau tất cả những đắn đo, anh vẫn lựa chọn lên đường. Bởi hơn ai hết, anh hiểu rõ ý nghĩa của công việc mình đang làm - đó không chỉ là một nhiệm vụ đơn thuần, mà còn là trách nhiệm đối với cộng đồng, với những vùng đất vẫn còn mang nặng di chứng của chiến tranh.
Anh chia sẻ, khác với trước đây, điều kiện khoa học - kĩ thuật hiện nay đã có nhiều tiến bộ. Những người trực tiếp làm nhiệm vụ như anh luôn được trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ, tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình an toàn để hạn chế tối đa nguy cơ phơi nhiễm với hóa chất độc hại. Chính sự chủ động và chặt chẽ ấy phần nào giúp anh thêm vững tin khi bước vào công việc vốn được xem là đầy rủi ro. Có lẽ cũng từ sự thấu hiểu ấy, gia đình anh, dù vẫn còn đó những nỗi lo không dễ nguôi ngoai, cuối cùng đã chọn cách lặng lẽ ủng hộ. Sự cảm thông và sẻ chia từ hậu phương đã trở thành điểm tựa vững chắc, để anh yên tâm lên đường, kiên định với con đường mà mình đã lựa chọn.
Những ngày đầu đặt chân đến A So, điều khiến anh bất ngờ hơn cả không phải là sự khắc nghiệt của công việc, mà là cuộc sống còn quá nhiều thiếu thốn của người dân nơi đây. Anh kể, nhìn những đứa trẻ với manh áo mỏng manh, thậm chí không đủ quần áo để mặc, rồi cả những người lớn lam lũ, vất vả, trong anh dâng lên một nỗi xót xa khó tả.
Không đành lòng đứng nhìn, việc đầu tiên anh nghĩ đến là kết nối với bạn bè, đồng đội, các mạnh thường quân, kêu gọi góp tiền mua áo ấm, đồng thời vận động thu gom những bộ quần áo cũ còn sử dụng được để gửi lên cho người dân. Những món quà tuy nhỏ bé, nhưng chứa đựng tấm lòng sẻ chia, mong góp phần mang lại chút ấm áp giữa vùng đất còn nhiều gian khó.
Nhắc lại kỉ niệm ngày 8/3/2023, giọng anh chùng xuống. Hôm ấy, anh cùng các đồng chí trong đơn vị đến thăm, tặng hoa và chúc mừng chị em phụ nữ xã Đông Sơn. Khi thay mặt nhận hoa, chị Thon, Chủ tịch mặt trận xã Đông Sơn không giấu được xúc động, nước mắt lăn dài. Chị nghẹn ngào nói, đó là lần đầu tiên trong đời chị được nhận hoa vào một ngày đặc biệt như vậy.
Khoảnh khắc ấy, với anh, là điều không thể nào quên. Bởi hơn cả một bó hoa, đó là sự quan tâm, là tình người ấm áp được trao đi và đón nhận giữa nơi núi rừng còn nhiều thiếu thốn. Và cũng từ những điều giản dị như thế, anh càng thêm tin rằng, hành trình anh và đồng đội đang làm rất ý nghĩa với bà con nơi đây.
Rồi mai đây, khi hoàn thành nhiệm vụ, các anh lại tiếp tục hành quân đến những công trình, những vùng đất mới. Nhưng những gì các anh đã làm để hồi sinh mảnh đất này sẽ mãi được người dân nơi đây khắc ghi, trân trọng như một dấu ấn không thể phai mờ.
Và rồi A So sẽ dần thay da đổi thịt. Màu xanh của sự sống sẽ trở lại, lan rộng trên từng sườn đồi, thửa ruộng, mang theo niềm hi vọng và niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. Những bản làng sẽ rộn ràng hơn, những con đường sẽ mở lối cho sự đổi thay và no ấm len lỏi đến từng mái nhà.
Những em nhỏ sẽ tung tăng đến trường trong những bộ quần áo mới, ánh mắt ánh lên niềm vui và ước mơ. Trên những nương rẫy từng là nỗi ám ảnh một thời, giờ đây lại phủ lên màu xanh của sự hồi sinh - màu xanh của hi vọng, nơi sự sống đang trở mình mạnh mẽ từng ngày.