Đứng về một phương diện nào đó, người ta có thể thấy thiên hướng phát triển của anh sớm trở thành một chính khách hơn là một nhà nghệ sĩ. Nguyễn Đình Thi tham gia các hoạt động yêu nước từ năm 1941. Đến năm 1943, anh là một trong số những thành viên đầu tiên của Hội văn hoá cứu quốc. Tháng 8 năm 1945, anh được thay mặt Hội văn hoá cứu quốc tham dự Đại hội quốc dân Tân Trào, đọc tham luận “Xây dựng một nền văn hoá mới”. Trong ngày bế mạc Đại hội, anh được bầu làm thành viên Uỷ ban Giải phóng dân tộc (Chính phủ lâm thời) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
![]() |
| Nguyễn Đình Thi xuất thân Tây học. Anh là tác giả của bốn tác phẩm khảo cứu về triết học ngay từ khi đang theo học bậc tú tài. Ảnh Internet |
Năm 1946, anh được bầu làm Đại biểu Quốc hội khoá I, được Quốc hội cử vào Uỷ ban Thường vụ và Ban soạn thảo Hiến pháp. Như vậy, con đường trở thành nhà hoạt động nhà nước đã mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp trước ngưỡng cửa vào đời của chàng trai vừa qua tuổi 20.
Tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ là bước ngoặt lịch sử của Cách mạng Việt Nam và cũng là bước ngoặt trong cuộc đời của Nguyễn Đình Thi. Ngay sau khi tiếng súng đầu tiên, anh được đích thân Tổng Bí thư Trường Chinh giao nhiệm vụ cùng Thép Mới từ văn phòng của Trung ương vừa chuyển ra Hà Đông, quay trở lại làng Yên Sở để đăng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác lên báo Cứu quốc Hà Nội vào ngày hôm sau. Trong ánh lửa rực sáng từ những đám cháy lớn phía nội thành, Nguyễn Đình Thi vừa chạy vừa nghe vang lên trong đầu những nốt nhạc đầu tiên của bài hát “Người Hà Nội” nổi tiếng.
Với những nốt nhạc ấy, Nguyễn Đình Thi lên Việt Bắc, đầu quân, trở thành cán bộ chính trị của một đơn vị chủ lực. Anh đã tham dự tất cả các chiến dịch từ mở đầu đến kết thúc của cuộc kháng chiến chống Pháp. Bước chân hăm hở của người chiến sĩ hoà nhịp với cái náo nức của người mới bước vào nghề tạo nên sự thăng hoa trong tâm hồn Nguyễn Đình Thi. Anh thử tài trong tất cả thể loại, tuỳ bút, bút ký, tiểu luận, lý luận phê bình, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch và thơ, giống như người chiến sỹ sử dụng thành thạo các loại vũ khí. Đi khoẻ, viết nhanh, phục vụ kịp thời các nhiệm vụ kháng chiến, vừa là yêu cầu vừa là tâm huyết của một chiến sĩ văn nghệ. Điều đó không ngăn cản sự kết tinh sớm mà ngay chính bản thân tác giả cũng không giải thích hết được. Đó là trường hợp bài thơ Đất Nước, tiếng vỗ cánh đột ngột của thơ ca kháng chiến. Đó là sự kết hợp giữa Tình ca & Tráng ca, trữ tình và chính luận, Tự sự và khái quát tạo nên một tổng phổ nghệ thuật phức hợp, đạt tới độ kết tinh cao:
Xiềng xích chúng bay không khoá được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà
(Đất Nước)
Với sức sống của nghệ thuật, Đất Nước có thể được xem là áng hùng văn của thơ ca kháng chiến chống Pháp.
Là một nhà khảo cứu triết học, Nguyễn Đình Thi đòi hỏi rất cao tầm tư tưởng của tác phẩm cùng với sự cách tân nghệ thuật của nó. Đạt được yêu cầu đó là một sự phấn đấu hết mình dù chỉ là với một bài thơ ngắn. Trong tập thơ Người chiến sĩ, Nhớ là một bài thơ hay. Cái hay của nó là vừa nói được cái say đắm, nồng nàn của tình yêu, vừa nâng được vẻ đẹp của cái riêng lên tầm cao của cái chung.
Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người
Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người, đó có thể xem như một tuyên ngôn về lẽ sống, về tình yêu. Một con người tài hoa và tinh tế trong thơ như thế lại cũng chính là một cây bút sắc sảo, nhiều khám phá trong văn xuôi. Tiểu thuyết Xung kích là một kết tinh sớm nhất của văn xuôi chống Pháp. Trong Xung kích, những người lính áo vải, chân không lần đầu tiên bước vào văn học với một hình tượng sống động và mới mẻ, đó là Kha và Sản. Tác phẩm được viết ngay sau chiến dịch trung du, nhưng từ văn phong đến cá tính nhân vật và không gian nghệ thuật đều toát lên sự nghiền ngẫm sâu sắc của tác giả. Xung kích được tặng giải cao trong mùa giải đầu tiên của Hội văn nghệ Việt Nam năm 1951 – 1952, là sự đánh giá xứng đáng đối với cống hiến của tác giả và gieo vào lòng người đọc niềm hy vọng về một bước đi xa hơn nữa đối với anh. Và Nguyễn Đình Thi đã không để bạn đọc chờ đợi lâu. Năm 1962, tiểu thuyết Vỡ Bờ tập 1 ra đời, gây tiếng vang lớn trên văn đàn. Đang viết tập 2 thì chiến tranh phá hoại của Mỹ lan ra Miền Bắc. Tác giả đành phải dừng lại trước những đòi hỏi mới của tình hình. Năm 1966, 1967 liên tiếp hai tiểu thuyết mới ra đời. Đó là Vào lửa và Mặt trận trên cao. Đến năm 1970, Vỡ bờ tập 2 ra mắt bạn đọc. Đến đây thì những ý kiến đánh giá đã gần như thống nhất, coi Vỡ bờ là một trong số ít tác phẩm thành công nhất viết về xã hội Việt Nam đêm trước của Cách mạng Tháng Tám. Một trong những cái làm tôi bất ngờ nhất sau khi đọc trọn bộ Vỡ Bờ là không hiểu tại sao tác giả xuất thân trí thức, nhiều năm sống ở thành thị lại am hiểu cuộc sống, phong tục, ngôn ngữ của những người nhà quê sâu sắc và nhuần nhị đến thế.
Từ lĩnh vực tiểu thuyết, Nguyễn Đình Thi rẽ ngoặt sang vương quốc của sân khấu và cũng đạt được những thành tựu ngay từ tác phẩm đầu tay. Đó là vở kịch Con nai đen. Như một dòng chảy khơi đúng nguồn, số lượng các vở kịch của Nguyễn Đình Thi thậm chí còn nhiều hơn cả số lượng về tiểu thuyết. Trong đó Rừng trúc được giới chuyên môn đánh giá là một tác phẩm đỉnh cao của sân khấu thời kì đổi mới.
Là một người tham gia hoạt động cách mạng từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, từng trải qua cuộc đấu tranh căng thẳng và quyết liệt với bọn phản động để bảo vệ thành quả cách mạng và nhà nước cộng hoà non trẻ, tiếp đến là những năm mặc áo lính xả thân trong sống chết của chiến tranh, thì vấn đề bản lĩnh chính trị của Nguyễn Đình Thi là điều đã được kiểm nghiệm và khẳng định một cách dứt khoát. Nhưng không phải vì thế mà anh không có lúc gặp khó trong sáng tạo nghệ thuật. Cuộc thảo luận về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi ở Việt Bắc năm 1949 là một câu chuyện khó hiểu. Ấy là anh đã có bài thơ “Đất nước” gây thành một hiện tượng thơ ca trước đó một năm. Đã có nhiều lời nhận định và giải thích về sự kiện nói trên, trong đó lời giải thích của nhà phê bình Lại Nguyên Ân là có nhiều sức thuyết phục nhất. Anh cho rằng cuộc thảo luận về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi năm 1949 thực chất là sự dị ứng của Thơ Mới trước những cách tân mới mẻ của thơ ca kháng chiến. Quả thật thời gian đã ghi công cho cho vai trò tiên phong của Nguyễn Đình Thi trong cố gắng đổi mới Thơ từ rất sớm.
Trong lĩnh vực sân khấu cũng có hiện tượng tương tự. Đó là sự đánh giá đối với Con nai đen và Rừng trúc. Hoá ra sự xuất hiện cái mới không phải lúc nào cũng được chấp nhận ngay. Nhưng thời gian thật công bằng, đã trả các giá trị về đúng chỗ của nó và khẳng định mạnh mẽ Nguyễn Đình Thi luôn luôn đi tiên phong trong sáng tạo nghệ thuật.
Sẽ là một thiếu sót rất lớn nếu không nhắc đến tài năng xuất chúng của Nguyễn Đình Thi trong cương vị lãnh đạo quản lý văn học nghệ thuật. Hơn ba mươi năm làm Tổng Thư ký Hội nhà văn Việt Nam và gần mười năm làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Nguyễn Đình Thi đã có những cống hiến to lớn góp phần rất quan trọng đưa sự nghiệp văn học, nghệ thuật vượt qua nhiều khó khăn, sóng gió, trưởng thành vượt bậc, phát triển toàn diện, để lại những di sản vô giá cho văn hoá nước nhà.
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài hiếm có. Hiếm có hơn là ở tất cả các binh chủng nghệ thuật anh đều có những tác phẩm đỉnh cao vươn tới tầm thời đại, có sức sống vượt thời gian. Nếu nói văn hoá là sự kết tinh các giá trị thì theo ý nghĩa ấy, Nguyễn Đình Thi xứng đáng là một nhà văn hoá lớn trong thời đại Hồ Chí Minh.
Ngày 2/12/2024
--------------
Bài viết được khai thác từ tập "Ám ảnh chữ" của nhà thơ Hữu Thỉnh