Vấn đề đặt ra là khi biên soạn Truyện Kiều, ta nên chọn chữ, từ… nào trong những chỗ khác nhau đó cho bản Kiều mới của mình?
|
Có các bản Kiều Quốc ngữ khác nhau là do những người biên soạn dựa vào các bản Kiều Nôm cổ khác nhau. Nhưng các bản Kiều Nôm cổ đó do đâu mà có? Trong một thời gian dài, hầu như các nhà nghiên cứu thống nhất rằng, Nguyễn Du cho ra đời một bản Kiều gốc, các nhà Hán học đã dựa vào bản Kiều gốc đó mà biên soạn cho mình một bản Kiều Nôm, và nguyên nhân dẫn tới dị bản là do chủ quan của người biên soạn, do kị húy khác nhau ở các thời kì, do tam sao thất bản, do thợ nhà in không biết chữ Nôm… Bây giờ bản Kiều gốc đó không còn, nên chúng ta không thể khẳng định được từ nào, chữ nào chắc chắn là của Nguyễn Du. Tôi có nhận thức hơi khác với kết luận này. Khi xem xét các dị bản trong Truyện Kiều, tôi đã có bài viết chứng minh rằng, những nguyên nhân để sinh ra dị bản các cụ đã nêu chỉ sinh ra các dị bản nhỏ, còn nguyên nhân sinh ra dị bản lớn là do... chính tác giả sửa chữa. Truyện Kiều là một tác phẩm lớn, tác giả phải viết trong nhiều năm mới hoàn thành, rồi sau đó còn tiếp tục sửa chữa nhiều lần trong khoảng thời gian dài. Khi Truyện Kiều hoàn thành, tiếng thơm vang xa, bạn văn chương tìm đến thưởng thức, rồi tự chép tay một bản mang về nhà. Ta gọi bản Kiều khi Nguyễn Du hoàn thành là A1, bản khách chép tay là A1 phẩy, vì cộng thêm phần chủ quan của người chép. Nhưng rồi Nguyễn Du lại sửa bản thảo của mình, nên thời gian sau khách đến thì ông không đưa cho khách xem bản A1 nữa, mà đưa bản A2, rồi khách chép tay để có bản A2 phẩy. Nhưng rồi tác giả lại sửa tiếp, để có bản A3, A4, A5… rồi khách đến để có A3 phẩy, A4 phẩy, A5 phẩy… Đó là nguyên nhân sinh ra các bản Kiều Nôm khác nhau. Có điều cần lưu ý rằng khi có điều kiện thì những người bạn văn chương kia mới cho in thành sách, và thứ tự xuất hiện không phải theo thứ tự thời gian, có khi bản A5 phẩy lại ra đời trước bản A1 phẩy! Điều thứ hai tôi muốn nói là, mặc dù không còn bản Kiều gốc, nhưng chúng ta vẫn khẳng định được những chữ của Nguyễn Du: Đó là những chữ không có dị bản trong tất cả bản Nôm cổ!
Bây giờ muốn chọn dị bản nào trong các bản in Quốc ngữ, ta chú ý một điều: Hiện nay chúng ta đã phát hiện được khá nhiều bản Nôm cổ, nên những chữ, từ… của bản Quốc ngữ không có trong bất kì một bản Nôm cổ nào thì đó không phải là từ của Nguyễn Du. Ví như “Sầu đong càng lắc càng đầy”, thì chữ lắc chỉ mới xuất hiện trong bản Kiều Quốc ngữ, còn trong các bản Kiều Nôm cổ đều là chữ khắc, không có dị bản, nên chữ của Nguyễn Du, và câu đó phải chỉnh lại thành: “Sầu đong càng khắc càng đầy”. Hay như câu “Quản chi lên thác xuống ghềnh/ Cũng toan sống thác với tình cho xong”, thì “lên thác xuống ghềnh” không có trong các bản Kiều Nôm cổ, mà chỉ có “trên gác dưới duềnh”, tức là không sợ nhảy lầu hoặc trẫm mình, không sợ chết chứ không phải không sợ gian khổ, vất vả… nên câu thơ ấy phải trả về “Quản chi trên gác, dưới duềnh”…
|
Với hầu hết bản Kiều Quốc ngữ của chúng ta, câu 730 là “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Thế nhưng trong các bản Nôm cổ như Liễu Văn Đường, Mĩ Thịnh Đường, Duy Minh Thị… thì thống nhất “Hiếu tình có lẽ hai bề vẹn hai”! Tại sao lại có sự sai lệch với ý nghĩa ngược nhau giữa bản Nôm và bản Quốc ngữ như thế, là điều làm tôi đắn đo, suy nghĩ. Bản Kiều Quốc ngữ đầu tiên là bản của Trương Vĩnh Ký, xuất bản năm 1875. Trong bản Kiều này soạn giả phiên âm “Hiếu tình có nhẽ hai bề vẹn hai” và chú thích: Có nhẽ tức là có lẽ. Đây là bản Quốc ngữ duy nhất mà hai chữ “có lẽ” xuất hiện. Còn tất cả các bản Quốc ngữ về sau đều “khôn lẽ”, bắt đầu từ bản Kiều Oánh Mậu năm 1902. Tại sao Kiều Oánh Mậu lại sửa “có lẽ” thành “khôn lẽ”? Muốn biết được điều đó, chúng ta trở lại đoạn “Trao duyên”, phiên âm đúng theo các bản Nôm cổ:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
...
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình có lẽ hai bề vẹn hai…”
Chắc cụ Kiều Oánh Mậu đọc đến đây thì dừng lại, chằm chằm nhìn vào hai chữ “có lẽ”, từ nghi ngờ đến phản đối: “Vô lí, không thể hai bề vẹn hai được. Được hiếu thì phải mất tình”! Thế là ông đặt bút sửa Có thành Không, tức Khôn. Khôn lẽ. Tất nhiên là ông sửa cả chữ Nôm, để có chữ phiên âm là “Khôn”! Những nhà hiệu đính về sau cũng thấy “khôn lẽ” có lí. Tôi cũng đã từng thuộc lòng “khôn lẽ” trong mấy chục năm mà không hề thắc mắc gì, cho đến khi có điều kiện tiếp xúc với các bản Kiều Nôm cổ mới thấy điều vô lí nên cố tìm ý nghĩa của từ “có lẽ” trong văn bản chữ Nôm. Đọc Truyện Kiều, nhiều khi phải đọc cả đoạn, ngẫm nghĩ, mới thấy được cái hay, cái ý tứ của tác giả. Ví như bốn câu quen thuộc:
“Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữ trời
Hoa tàn mà lại thêm tươi
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”.
Câu thứ hai liên kết ý với câu thứ ba, thứ tư: Tan sương đầu ngõ để thấy hoa, vén mây giữa trời để thấy trăng. Logic và chặt chẽ như thế nhiều khi ta không để ý!
Trở lại vấn đề chúng ta đang bàn. Nếu như dừng ở đoạn trích trên kia, thì ta thấy suy nghĩ của cụ Kiều Oánh Mậu có lí. Nhưng chúng ta hãy đọc tiếp:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”.
Ta hiểu rằng, ý của Thúy Kiều là: Có lẽ giữ được cả hiếu lẫn tình. Hiếu thì do chị bán mình chuộc cha, còn tình thì đã có em “xót tình máu mủ thay lời nước non” của chị, tức là em thay chị lấy chàng Kim, như thế thì mối tình với chàng Kim vẫn giữ được! “Có lẽ” là chưa dám khẳng định chắc chắn, nhưng cái hướng có thể xảy ra như thế. Đây là lí do rất thuyết phục của cuộc trao duyên: để giữ được cả hiếu và tình. Chúng ta không nên so sánh giữa “có lẽ” và “khôn lẽ” cái nào hợp lí hơn, vì mỗi từ hợp lí theo một cách riêng. “Khôn lẽ” hợp lí nếu chuyện hiếu và tình chỉ lo một mình Thúy Kiều gánh vác, thì không thể. “Có lẽ” hợp lí ở chỗ nếu hai chị em cùng lo, chị bán mình chuộc cha, còn em thay chị lấy chàng Kim. Chắc Kiều Oánh Mậu không nhận ra cái ý này trong lời Thúy Kiều nên sửa lại thành như trên. Bởi vậy hai chữ “có lẽ” trong các bản Nôm là hợp lí, không nên sửa lại như trong các bản Kiều Quốc ngữ!
Câu thứ 8 trong Truyện Kiều, phần lớn các bản Quốc ngữ ghi “Phong tình cổ lục còn trùng sử xanh”, chỉ có một ít bản là “Phong tình có lục…” Thế thì chúng ta nên chọn từ nào, cổ lục hay có lục. Lục tìm trong các bản Nôm cổ, không bản nào là cổ lục cả mà đều là có lục, thế thì tại sao trong bản Quốc ngữ lại ghi như thế? Sự thật câu ấy không có gì khó hiểu, nói “Phong tình có lục” cũng giống như “có lục phong tình” (đảo ngữ), ý nói có bản ghi hay quyển sách nói chuyện phong tình từ xưa truyền lại, tức tác giả muốn giới thiệu quyển Kim Vân Kiều truyện mà ông đang đọc. Có thể bạn nói rằng: Nhưng cổ lục hay hơn! Dù có hay hơn đi nữa nhưng không có trong bản Kiều Nôm cổ nào, tức không phải chữ của Nguyễn Du thì ta không thể chọn lựa, vì công tác biên soạn không cho phép ta tự tiện tạo ra những từ không có trong văn bản.
Mấy trường hợp vừa kể là ta loại bỏ chữ không có trong các bản Nôm cổ, để trả vào đó một chữ của Nguyễn Du, và câu thơ ý nghĩa hợp lí. Nhưng nếu hai dị bản đều có trong các bản Nôm cổ thì làm thế nào? Ví dụ bốn câu từ 239 đến 242: có dị bản:
“Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
Nách tường bông liễu bay ngang trước mành
Trăng tà gác bóng chênh chênh
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình”. (1)
Và:
“Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
Nách tường bông liễu bay sang láng giềng
Trăng tà gác bóng nghiêng nghiêng
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình”. (2)
Đây là khổ thơ gói kết một đêm mộng mị của Thúy Kiều để chuyển sang nói về chuyện chàng Kim đến thuê nhà cạnh nhà Kiều. Cả (1) và (2) đều có trong các bản Kiều Nôm cổ. Đọc lại (1) ta thấy ý bình thường, và phạm lỗi thất vận khi đem chênh vần với riêng. Ngược lại (2) vần điệu chỉnh tề lại có một ý rất hay là “bông liễu bay sang láng giềng” như gợi cho biết chẳng bao lâu nữa thì Thúy Kiều cũng “Xắn tay bẻ khóa động đào/ Rẽ mây cho tỏ lối vào thiên thai” mà sang nhà Kim Trọng. Tôi tin rằng cả (1) và (2) đều là sản phẩm của cụ Nguyễn Du, và chính cụ đã sửa (1) thành (2), cho bạn đọc một khổ thơ không chỉ tả cảnh tươi non mà còn đầy ý tứ gợi chuyện tương lai. Vậy nên chúng ta không có gì phải ngần ngại khi chọn (2)!
Trong Truyện Kiều có không ít chỗ dị bản là cả một đoạn thơ dài, ví như đoạn từ câu 533:
“Mở xem thủ bút nghiêm đường
Nhắc rằng thúc phụ từ đường mệnh chung
Hãy còn kí táng Liêu Đông
Cố hương khơi diễn ngàn trùng sơn khê
Rày đưa linh thấn về quê
Thế nào con cũng phải về hộ tang”.(1)
Và:
“Đưa tin thúc phụ từ đường
Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề
Liêu Dương cách trở sơn khê
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang”. (2)
Cả (1) và (2) đều có trong các bản Kiều Nôm cổ, bây giờ ta xét xem chất lượng thơ của mỗi đoạn. Dễ thấy được (1) dài dòng, kể lể, ít chất thơ do tường thuật nội dung bức thư của Nghiêm Đường. Khi viết truyện thơ, Nguyễn Du rất có ý thức rút ngắn phần kể lể sự việc, dành câu chữ để diễn tả tâm trạng, giàu chất thơ. Tôi tin (1) nằm trong những bản Kiều chưa được sửa sang mấy, rồi sau đó chính tác giả đã viết lại đoạn thơ này, vừa hay hơn, lại rút ngắn được hai câu. Vậy nên hiển nhiên ta chọn (2).
Có khi hai dị bản đều có trong các bản Nôm cổ, nhưng phân tích để đi đến chọn cái nào rất khó khăn, có khi phải tranh luận sôi nổi. Ví dụ câu 449-450:
“Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Định ninh đôi (MIỆNG/MẶT) một lời song song”.
Xét trên chục bản Nôm cổ quen thuộc, thì số bản dùng miệng và mặt xấp xỉ nhau! Chắc những người thích chọn chữ miệng là vì thấy lời nói đi ra từ miệng! Ý nghĩ này làm tôi nhớ đến có nhà Kiều học đã đề nghị đổi câu “Thâm nghiêm kín cổng cao tường” thành “kín cống” (dấu sắc) để hợp với “Cạn dòng lá thắm…” của câu bát; kể ra cũng có ý hay. Nhưng như vậy là chỉ chú ý vào tiểu tiết mà bỏ qua cái chính, cái tổng thể: Nguyễn Du là người thích dùng ngôn ngữ dân gian, cụ thể là thành ngữ, tục ngữ. Theo thống kê của tôi thì trong Truyện Kiều cụ đã sử dụng khoảng 200 thành ngữ, tục ngữ. “Kín cổng cao tường” là một thành ngữ hết sức quen thuộc, người nghe không chỉ hình dung được quang cảnh một ngôi nhà, và còn nghĩ đến gia phong, kỉ cương của những người ở trong ngôi nhà đó. Còn “kín cống cao tường” chỉ là một câu tả cụ thể, riêng biệt nơi này ở bề ngoài mà không hề cho người ta nghĩ tới người trong nhà như thế nào! Trở lại chữ miệng mà ta đang xét. Nó cũng dựa vào cái cụ thể, tiểu tiết mà quên đi cái đại thể quan trọng hơn đó là Nguyễn Du sử dụng thành ngữ “Hai mặt một lời” để nói những lời đã nói ra đáng tin cậy, chắc chắn, và đã được hai người chứng kiến. “Chữ đinh ninh hai mặt” góp phần nói thêm ý đó, còn “Đinh ninh hai miệng” thì chỉ gây buồn cười, chứ không nói được ý gì. Có người nói rằng, chỉ có thành ngữ “Ba mặt một lời” chứ không có thành ngữ “Hai mặt một lời”. Xin thưa, đại thi hào của chúng ta đã tạo ra khá nhiều từ mới trong Truyện Kiều, nên khi đã có thành ngữ “Ba mặt một lời” thì khó khăn gì ông không biến tấu thành “Hai mặt một lời” cho hợp với hoàn cảnh trong truyện? Bởi vậy, với tôi, câu thơ đó phải là “Đinh ninh hai mặt một lời song song”! Thế thì chữ miệng do đâu mà có? Tôi tin rằng, đó là ý của một số nhà biên soạn, chứ đối với Nguyễn Du, ngay trong bản nháp đầu tiên, cụ cũng không dùng từ ấy!
Câu 2049-2050:
“Xem qua sư mới dạy qua
Phải (NƠI/NI) Hằng Thủy thì ta hậu tình”.
Trong các bản Nôm cổ, từ này không có dị bản, trong bản Quốc ngữ, do cách hiểu, khác nhau mà người biên soạn phiên âm khác nhau của chữ Nôm đó. Trong Truyện Kiều có 40 chữ nơi thì Nguyễn Du đều dùng chữ Nôm đó, nên ở đây phiên âm thành chữ nơi thì không có gì phải lo lắng về văn bản. Giác Duyên có quen một người có tên là Hằng Thủy đang trụ trì một ngôi chùa ở vùng Bắc Kinh, nên khi nghe Thúy Kiều là người tu hành ở Bắc Kinh thì Giác Duyên đoán là ở ngôi chùa của Hằng Thủy, lập tức Thúy Kiều công nhận ngay (vì đang nói dối mà). Thế là Giác Duyên nói ý rằng: Hằng Thủy là nơi tôi quen biết, vì cô ở nơi ấy đến đây, thì tôi đối xử tử tế. Như vậy là về cả văn bản, văn cảnh, chữ đó là chữ nơi không có gì phải tranh cãi nữa. Nhưng số người phiên âm chữ Nôm đó thành chữ ni lí luận rằng: Hằng Thủy là sư nữ, tức ni cô, nên câu này phải đọc là “Phải ni Hằng Thủy thì ta hậu tình”. Lập luận này có hai chỗ không thỏa đáng. Thứ nhất, trong Kim Vân Kiều truyện cũng như Truyện Kiều, không có câu nào chỉ Hằng Thủy là sư nữ cả, chắc những người đó suy đoán Hằng Thủy là nữ chỉ vì cái tên, điều ấy chắc gì đã đúng. Bạn nhà văn của tôi có cặp vợ chồng mà chồng tên Trang, vợ tên Thắng, nếu đoán theo cách đó là nhầm to. Thứ hai, người mà Giác Duyên hậu tình là Thúy Kiều, vì Thúy Kiều ở nơi Hằng Thủy, chứ không phải hậu tình với Hằng Thủy.
Trong lần gặp gỡ, sư Tam Hợp nói với Giác Duyên về cuộc đời của Thúy Kiều, có hai câu 2671-2672:
“Giữa dòng nước đẩy sóng dồi
Trước hàm rồng cá gieo mồi Thủy Tinh”.(1)
Như bản của cụ Đào Duy Anh cùng một số bản Quốc ngữ khác. Nhưng trong bản rất quen thuộc của Nguyễn Thạch Giang, cũng như một số bản Quốc ngữ khác, thì:
“Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh”.(2)
Thế thì bạn đọc chúng ta nên chọn dị bản nào?
Hai câu thơ này nói những hiểm nguy đến với cuộc đời của Thúy Kiều. Ở (1), ta thấy thân Thúy Kiều như một miếng mồi gieo cho Thủy Tinh ngay phía trước hàm của rồng cá, nếu như Thủy Tinh không ăn thì cũng khó thoát hàm rồng cá! Cái ý này Nguyễn Du từng sử dụng một lần trong bài thơ Phản chiêu hồn: “Thân thể không bị cá rồng nuốt thì hùm sói cũng ăn”! Câu bát Nguyễn Du sử dụng phép tiểu đối 4/4, tức câu bát được chia ra hai phần đối xứng nhau: “Trước hàm rồng cá/ gieo mồi Thủy Tinh”, trong đó “Thủy Tinh” đối xứng với “rồng cá” (đều cùng danh từ chỉ động vật). Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng 289 câu bát tiểu đối 4/4, nên thủ pháp này rất quen thuộc.
Xét (2) thì không còn phép tiểu đối, vì “vắng tanh” là tính từ, không thể tiểu đối với “rồng cá” danh từ. Không tiểu đối cũng không sao, vì trong Truyện Kiều có rất nhiều câu bát không tiểu đối 4/4, nhưng vấn đề là (2) nói ý gì? Ai cũng biết nghĩa “vắng tanh” là rất vắng vẻ, thế thì ý câu thơ là “Gieo mồi rất vắng vẻ trước hàm rồng cá” à? Thật là vô lí vì hai chữ “vắng tanh” không những không nói được phần nguy hiểm, mà trái lại nó mang ý lặng lẽ, yên bình… trái với ý của cả đoạn thơ!
Tôi tìm đến các bản Nôm cổ để xem sao. Hai chữ này có dị bản trong các bản Nôm, chắc do những người biên soạn đã nhúng tay vào. Hai chữ “Thủy Tinh”, chữ Nôm cũng như chữ Hán nhưng do in ấn không rõ hay lơ đãng, người biên soạn đầu tiên nhìn ra và đọc thành “vắng tanh”. Khi đã có bản Nôm hai chữ đó đã có nghĩa là vắng tanh rồi, thì người biên soạn tiếp theo có thể lại nghĩ ra cách viết chữ Nôm khác cho phổ thông hơn. Đó là lí do tại sao trong một số bản Nôm cổ, hai chữ “vắng tanh” viết khác hai chữ trên kia!
Trong bản Kiều Quốc ngữ đầu tiên của Trương Vĩnh Ký, xuất bản năm 1875, đã phiên âm đúng là “Thủy Tinh” rồi, thế mà hai trăm năm qua, hai chữ “vắng tanh” vẫn xuất hiện trong nhiều bản Kiều Quốc ngữ, là điều tôi khá ngạc nhiên!
“Nghề chơi cũng lắm công phu”, huống chi là nghề biên soạn. Trên đây tôi mới nêu ra một số trường hợp chúng tôi đã chọn lựa dị bản trên nguyên tắc dựa vào các bản Kiều Nôm cổ, và khi các dị bản cùng có trong các bản Kiều Nôm cổ thì phải dựa vào văn cảnh, thi pháp của Nguyễn Du và chất lượng thơ.