Xin giới thiệu một bài thơ tối giản vào loại nổi tiếng nhất, tác giả là thi sĩ Thôi Hiệu. Bài thơ Hoàng Hạc lâu (lầu Hoàng Hạc). Tương truyền rằng, Lý Bạch khi đến Hoàng Hạc lâu đã thấy thơ Thôi Hiệu đề trên vách, đọc xong, vứt bút không làm thơ nữa!
|
Hoàng Hạc lâu
Thôi Hiệu
“Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.”
Bản dịch của Tản Đà
“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xưa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?”
Qua bản dịch bằng thơ lục bát truyền thống của Tản Đà, chúng ta cảm nhận được sự cô đọng và nguy nga của bài thơ Hoàng Hạc lâu. Bài thơ đã sống hơn nghìn năm nay, và hứa hẹn còn sống tiếp cả nghìn năm nữa. Chỉ có 56 chữ, vậy mà sống cả nghìn năm, ghê thật!
Còn đây là thơ haiku, một thể thơ Nhật Bản, mà nhà thơ nổi tiếng nhất trong thể thơ này là Matsuo Basho. Xin giới thiệu hai bài thơ haiku của Matsuo Basho, để chúng ta cảm nhận một cách làm thơ tối giản khác:
BÀI 1:
Biển xanh
“Sokai no
nami sake kusashi
kyoo no tsuki.”
Bản dịch của Đông A
“Biển xanh
sóng thơm mùi rượu
trăng đêm nay.”
BÀI 2
Cỏ hè
“Natsukusa ya
tsuwamono domo ga
yume no oto.”
1689
Bản dịch của (Không rõ)
“Dấu xưa xanh cỏ tháng hè
Tráng sĩ tráng sĩ hề
Mộng lữ.”
Matsuo Basho (Tùng Vĩ Ba Tiêu, 1644-1694), thiền sư thi sĩ lỗi lạc của thời Edo tại Nhật Bản, tên thật là Matsuo Munefusa. Thơ haiku của Matsuo Basho không có vần điệu nhưng màu sắc của mỗi bài thơ lại xuất hiện vô cùng độc đáo, ấn tượng. Thơ của ông lột tả được cái thực của đời người, nói lên được nét tương quan giữa cái bao la, rộng lớn của vũ trụ và cuộc sống đời thường bình dị.
Chúng ta đã đi qua hai nhà thơ Trung Quốc và Nhật Bản. Thơ tối giản của họ thì đã quá rõ. Nếu thơ Thôi Hiệu chỉ có 56 chữ, thì thơ Matsuo Basho còn ít chữ hơn nhiều, chỉ 8 chữ.
Nhưng thơ tối giản thời hiện đại không quá lụy vào số chữ. Có thể nó nhiều chữ hơn, thơ tự do mà, nhưng căn cốt của nó vẫn ở độ kìm nén, cô đọng, đầy ấn tượng. Xin giới thiệu tiếp một nhà thơ tối giản ở thế kỷ XX, nhà thơ Nazim Hikmet người Thổ Nhĩ Kỳ:
Nazim Hikmet Ran (1902-1963) tên thường gọi là Nazim Hikmet, là một nhà thơ, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia người Thổ Nhĩ Kỳ. Đồng thời, ông cũng là nhà cách mạng, “một người cộng sản lãng mạn” và đã có nhiều thời gian trưởng thành ở nhà tù, nước ngoài. Ông đã từng là Ủy viên của Hội đồng Hòa bình thế giới (1951) và đã được trao giải thưởng quốc tế vì hòa bình năm 1950. Sau đây là 2 bài thơ của Nazim Hikmet, chúng ta xem có phải là thơ tối giản không nhé:
BÀI CA
Bản dịch của Xuân Diệu
“Tôi đã mơ thấy người yêu dấu
Người yêu hiển hiện trên đám lá cành
Người yêu như trăng lướt giữa mây xanh,
Người yêu đi và tôi theo dõi
Tôi đứng lại, và người yêu đứng lại,
Tôi nhìn người yêu, người sững nhìn tôi
Và cả chuyện này có thế thôi...”
Chính cái kết hết sức bất ngờ ấy làm nên phức điệu của bài thơ này. Nó tối giản vì sự cô đọng trong cấu trúc bài thơ. Người yêu ở đây chỉ là cái bóng của chính nhà thơ, cái “cặp đôi” này làm nên cấu trúc của bài thơ.
MƠMÉT CON ƠI!
Bản dịch của Xuân Diệu
“Bờ bên kia trước mặt, là xứ sở tôi
Đứng ở Vácna này, cha gọi: con ơi
Cha gọi: con ơi, và lời kêu lặp lại...
Con có nghe thấy không,
Mơmét ơi, Mơmét
Hắc Hải trôi qua và chẳng hề ngừng
nhớ quê hương như điên dại,
nhớ quê hương...
Con ơi, cha gọi con, con có nghe chăng?
Mơmét ơi, Mơmét!”
Thơ Nazim Hikmet dâng trào cảm xúc, yêu thương, căm giận, xót xa. Cuộc đời trong lao tù của Hikmet đã khiến thơ ông xúc động tới nghẹn ngào. Và sự tối giản của thơ ông chính là ở đó.
Một nhà thơ vĩ đại mà chúng tôi giới thiệu tiếp đây là Yiannis Ritsos (1909-1990). Ngày nay, Ritsos được coi là một trong những nhà thơ Hy Lạp vĩ đại của thế kỷ XX. Nhà thơ người Pháp Louis Aragon đã từng nói rằng Ritsos là “nhà thơ vĩ đại nhất của thời đại chúng ta.” Nhà thơ vĩ đại người Chile Pablo Neruda (Nobel năm 1971) tuyên bố Ritsos xứng đáng với giải Nobel Văn học hơn chính Neruda.
Ritsos đã được đề cử nhiều lần cho giải thưởng này, và đã được đưa vào danh sách rút gọn là một trong những ứng cử viên cuối cùng ít nhất một lần, vào năm 1973. Khi giành được Giải thưởng Hòa bình Lenin năm 1975, ông tuyên bố “giải thưởng này quan trọng với tôi hơn cả giải Nobel”.
Sau đây là 4 bài thơ của YIANNIS RITSOS:
CHÙM NHO CUỐI CÙNG
Bản dịch của Đào Xuân Quý
“Chùm nho cuối cùng được nhặt trong cái
bồn bằng đất
Giờ đây, sau buổi lễ
ngôi nhà thờ trong thung lũng
đã đóng cửa, lặng im
và tỏa rộng cái không gian bên trong
ra các ngọn đồi
trên các chân đèn đã tắt
khói hương cũng dần dần phai nhạt
màu xanh nhẹ, qua những túp lều trên
những cánh đồng
Bà già nhìn lên những đám mây
bà nghe tiếng mọt kêu cọt kẹt
Trong những tượng ảnh cũ xưa bằng gỗ
và bà làm dấu
cảm thấy ngón tay mình nhức nhối
vì chất đường trong chùm nho cuối cùng kia.”
30/10/1969
Bài thơ thật bình thản, phải không ạ ? Nhưng ẩn giấu sau vẻ bình thản ấy, là nỗi đau khi nhà thơ biết người nông dân trồng nho đã tuyệt vọng như thế nào vì họ đang cầm trên tay “chùm nho cuối cùng” của vườn nho nhà mình.
CHUYỆN THẬT MÀ KHÔNG THẬT
Bản dịch của Bằng Việt
“Chúng tôi đi dưới phố tối om, leo lét
đèn đường
Gặp ai đi qua cũng đồng thanh hỏi:
- Thực ra Nàng ở đâu? Đã có ai gặp
Nàng chưa nhỉ?
- Nhưng Nàng là ai? Áo quần, sắc diện
thế nào?
- Nàng là Tương lai, mặc áo màu Hy vọng
Với đôi hoa tai lấp lóa ánh trời
Nhưng như thế thì không!
Chưa một ai thấy nổi!
Chúng tôi cứ đi, không thể nào bỏ dở
Điều mình kiếm tìm suốt tuổi thanh xuân
Một bà già ngồi trên bậc cửa ngoại ô
Lặng lẽ chỉ tay lên quá ngọn cây:
Xa tiếp nữa - dòng sông sao vô tận.”
Khi người ta đi tìm Tương lai, cái Tương lai mặc áo màu Hy vọng, mà tìm mãi chẳng thấy đâu, thì một bà già chỉ lên ngọn cây, và trên ngọn cây, là dòng sông sao vô tận: Tương lai ở đó, chứ đâu!
KẾT LUẬN
Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm
“Cửa sổ này cô độc.
Vì sao mày cô độc,
như một điếu thuốc lá bị bỏ quên trên bàn -
nó hút nó hút một cách cô độc trong màu
xanh nhạt
Tôi cũng cô độc hắn nói
Tôi châm thuốc tôi hút.
Tôi hút rồi tôi nghĩ Tôi chẳng hề cô độc”
Nhiều khi, con người cô độc trong thế giới này cũng không hiểu vì sao mình cô độc, và ngay khi mình không cô độc, họ vẫn không thể hiểu được vì sao lại thế.
NHÀ HÁT CỔ ĐẠI
Bản dịch của Bằng Việt
“Anh đến giữa khán đài nhà hát Hy Lạp cổ
Anh - một chàng đẹp trai, hăm hở, trẻ măng
Không kìm được mình, anh hét to lên
(Chẳng phải vì quá thán phục đâu! Nếu có
Anh cũng không cần vội phải tỏ ra
kích động!)
Anh hét lên chỉ vì đang thừa sức trẻ
Muốn thử hệ thống truyền âm của sân khấu
cổ xưa...
Thế là rền lên một loạt tiếng vang
Thứ tiếng vọng uy nghi của hý trường
Hy Lạp cổ
Thứ tiếng vọng vô song, không giống ở
nơi nào
Âm u như dàn nhạc tấu thần
Dội ra từ những bệ xây dựng đứng!
Và hai con đại bàng khổng lồ bằng đá
Đã nhiều thế kỷ ngủ quên trên vòm cổng lớn
Quay đầu nhìn anh, vụt đáp lại lời!”
Chúng ta đã đi qua một số nhà thơ nước ngoài rất nổi tiếng và họ làm thơ tối giản. Bây giờ trở lại với một nhà thơ Việt Nam cũng rất nổi tiếng và ông làm thơ tối giản. May mắn thay, nhà thơ ấy tuy đã qua đời nhưng vẫn sống mãi giữa chúng ta, và tôi được quen biết, thân thiết với ông. Đó là nhà thơ Văn Cao. Xin giới thiệu hai bài thơ tối giản của Văn Cao, hai bài thơ chắc rất nhiều bạn đọc Việt Nam đã biết và đã yêu thích nó:
THỜI GIAN
“Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá
Kỷ niệm trong tôi
Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn.
Riêng những câu thơ còn xanh
Riêng những bài hát còn xanh
Và đôi mắt em như hai giếng nước.”
Âm thanh của kỷ niệm “rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn”, chỉ một câu thơ ấy thôi, đủ nói lên những đau đớn mà Văn Cao phải chịu đựng mấy chục năm đời mình. Nhưng ông không hề tuyệt vọng, vì:
“Riêng những câu thơ còn xanh
Riêng những bài hát còn xanh
Và đôi mắt em như hai giếng nước.”
Chỉ cần những câu thơ còn xanh, những bài hát còn xanh, và đôi mắt của người vợ thủy chung vẫn trong ngời như hai giếng nước, thì không một thế lực ác độc nào có thể đẩy nhà thơ của chúng ta vào tuyệt vọng.
KHUÔN MẶT EM
“Giữa những ngày dài dằng dặc
Chỉ còn khuôn mặt em
Sáng trong và bình lặng
Dù hai đứa chúng ta
Chưa lúc nào sung sướng
Những ngày đau khổ ấy
Khuôn mặt em
Như mảnh trăng những đêm rừng cháy
Trên đường đi
Anh đặt em trên đồng cỏ
Thấy đẹp mãi màu xanh cỏ dại
Trên đường đi
Anh đặt em trên dốc núi
Để tìm lại những đường mềm của núi
Trên đường đi
Khuôn mặt em làm giếng
Để anh tìm lấy đáy ngọc châu
ôi khuôn mặt sáng trong và bình lặng
Tôi được đầu tiên và còn lại cuối cùng.”
Đây là một trong những bài thơ hay nhất của Văn Cao. Không cần phải nói thêm gì nữa, cứ lặng lẽ đọc, chiêm nghiệm, và yêu thương. Thơ tối giản của Việt Nam là như vậy.