Thuở nhỏ, bà theo học trường Nữ sinh Đồng Khánh (Huế), sau tham gia cách mạng, hoạt động ở Liên khu IV và cùng các ông Phan Đăng Tài, Phan Trọng Bình và Nguyệt Tú thành lập Chi hội Văn nghệ đầu tiên của thị xã Hà Tĩnh (1946). Hòa bình lập lại (1954), bà tham gia Ban vận động, sáng lập và là Hội viên lớp đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam (1957).
|
Ngoài sáng tác thơ, nữ sĩ Cẩm Lai còn viết văn xuôi, hồi kí, dịch thuật. Bà đã in không dưới mười tập thơ, tiêu biểu có: Dòng máu trẻ (1947), Tơ tằm - Chồi biếc (in cùng Xuân Quỳnh, 1963), Mùa xanh (1972), Sắc biển (1979), Hương kỉ niệm (1990), Lời thơ dâng Bác (1990), Mây hồng (1993), Gió biếc (1999), Để ta khuyên gió (2000), Thơ (2003)... Điều đặc biệt thú vị là bà từng in khá nhiều thơ vào giai đoạn cuối mùa phong trào Thơ mới 1932-1945, được xem là tác giả Thơ mới quê Hà Tĩnh nổi tiếng cuối cùng (xếp sau Lê Khánh Đồng, Thái Can, Xuân Diệu, Quỳnh Dao, Huy Cận)…
Cẩm Lai khởi nghiệp sáng tác thơ ca khi phong trào Thơ mới cơ bản đã vượt đỉnh và Hoài Thanh - Hoài Chân đã hoàn tất Thi nhân Việt Nam (1942) nên có điều kiện kế thừa, tinh lọc, tích lũy kinh nghiệm. Điều này vừa là thuận lợi vừa là thách thức. Một mặt, thơ bà vượt qua những thử nghiệm ban đầu, sớm đạt tới trình độ nghệ thuật cao, nhuần nhị, uyển chuyển; mặt khác thấy thấp thoáng ảnh hưởng chất thơ, hình ảnh, cấu tứ, câu chữ của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận… Nhìn chung, thơ Cẩm Lai in đậm đặc tính Thơ mới, bộc lộ sắc nét tình cảm con người cá nhân, con người thời đại, tình quê hương, đất nước và những vui buồn thế sự. Bài thơ Buổi tối viết ở Huế theo thể thơ Đường thất ngôn bát cú thể hiện suy tưởng, tâm tình lứa tuổi thơ trẻ, tuổi hồng:
“Hai dãy song song màn bỏ rũ,
Vừa vừa nho nhỏ một đường đi.
Cửa đóng im lìm như giấc ngủ,
Còn đang ấp ủ tuổi xuân thì…
Ánh đèn dìu dịu màu xanh mơ,
Nhẹ nhàng buông xa ánh sáng mờ.
Hơi thở đều đều theo nhịp điệu,
Có ai trong giấc còn đang mơ?”
Bài thơ Khách ngàn phương với bốn câu mở đầu hướng tới tái hiện mẫu hình khách lữ thứ tha hương trong bóng chiều bảng lảng và không gian thiếu vắng bóng người:
“Rừng vắng, lau thưa, ngựa xuống đèo,
Trời chiều, gió động, lá vàng reo.
Lá reo xao xác, cây tung lá,
Mỏi cánh chim trời khắc khoải kêu…”
Bài thơ Trăng lên khơi gợi tình cảm lãng mạn dịu nhẹ và cách cảm nhận quen thuộc của Thơ mới:
“Trời trải màn trong màu khói hương,
Hoa nương cành thấp ủ ôm sương.
Có gì dìu dịu rung rinh lá,
Hương tỏa từng không nhịp bước đường…”
Trong bài Vườn hoang, nữ sĩ biểu cảm nỗi niềm riêng trước cảnh vật cụ thể nhưng được nâng cao trong sự đối diện với thiên nhiên cao rộng và dằng dặc thời gian kiếp nhân sinh, với thước đo sự liên tưởng từ hôm nay ngược về muôn năm quá khứ:
“Trong im lặng vườn than miền hiu quạnh
Giọng ri ri dế khóc ngõ vườn hoang
Buồn rười rượi làm sao mà vắng lạnh
Nơi còn ghi bao dấu vết huy hoàng
Ghế xiêu vẹo, mồi ngon cho mối gặm!
Hơi hương đâu? Chết tự tháng năm nào?
Hồ xanh rờn, tràn lan bèo cỏ ngập
Và hung tàn bụi dứa cạnh hồ sâu!
Luống đất cũ dâng nức mùi hoang dã
Cỏ cao tràn lấn át mặt đường đi
Hoa bạch đại ngây mặt nhìn bụi lá
Xa xôi rồi! Nhắc nhở nữa làm chi!”
Đến bài Núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh có thêm đề từ “Non Hồng ai đắp mà cao” thể hiện tình yêu, niềm tự hào về quê hương xứ sở, vùng đất địa linh nhân kiệt và truyền thống văn hiến ngàn đời:
“Đây linh khí ngàn phương tinh tụ mãi
Đỉnh non Hồng khẳng khái đượm thiêng liêng
Biển muôn trùng mang mang thu nhỏ lại
Chân non hung sóng soãi vũng ao tiên
Núi trập trùng từng dãy đứng ngang nhiên
Cây run rẩy gió băng miền duyên hải
Gió vi vút run lên lời cảm khái
Oai hùng xưa chừng trải mấy phen rồi
Đỉnh non thần: mây phủ bốn xuân tươi
Non trăm động cảnh đời đời hùng tráng
Của đất nước: đây một vùng danh thắng
Còn ai người chiêm ngưỡng vẻ sắt son.”
Đặc biệt hơn, tròn 80 năm về trước, nữ sĩ Cẩm Lai đã cho in truyện thơ lục bát Bóng ai? (ghi rõ ‘Truyện bằng thơ’) dài 140 câu, chia thành 6 đoạn (đoạn dài nhất 64 câu, ngắn nhất 10 câu) kể về mối tình tan vỡ giữa chàng trai “giang hồ”, “người nam nhi”, “tu mi”, “khách anh hùng” với cô gái quê dịu dàng, yểu điệu, chung tình, đẹp người đẹp nết. Hai người yêu nhau nhưng chàng phải ra đi, quyết chí ra đi mưu việc lớn:
“Giang hồ nặng nợ non sông
Ra đi ngang dọc vẫy vùng tài trai…”
Ba năm sau chàng trở về gặp lại được người xưa và thấu tỏ cảnh ngộ người tình. Nàng bày tỏ nỗi niềm chỉ vì chữ hiếu, vì tình mẹ, vì “tòng phụ” mà phải yên bề gia thất, hóa thành kẻ lỗi hẹn, phụ tình, phụ lời nguyền xưa.
“Dám xin xét thấu nỗi oan,
Bẻ duyên đâu phải tự bàn tay ta.”
Đoạn kết là sự cảm thông của chàng trai với cô gái. Chàng không một lời trách cứ, giận hờn mà khuyên nhủ người xưa quên đi chuyện xưa, mong người xưa mặn nồng trong duyên mới:
“Quên đi em, mối tình đầu!
Nhắc chi em, nỗi thảm sầu ái ân!
Xóa nhòa đi! Mộng tuổi xuân
Để lòng quên lãng mờ dần vết thương
Tình xưa, đã lỡ yêu đương
Nhưng còn duyên mới thắm hương mặn nồng
Giữ cho trọn đạo vợ chồng
Mong em sung sướng, ấy lòng anh vui
Về đi em, gió lên rồi!
Về đi, đừng ngóng phương trời bóng ai!”
Trên tất cả, truyện thơ Bóng ai? của nữ sĩ Cẩm Lai vừa tái hiện mô típ “ra đi” với khách anh hùng, khách chinh phu gánh nợ non sông, bậc trượng phu tang bồng hồ thỉ, đấng nam nhi, hiệp sĩ lãng du, lãng tử phong trần đã trở thành kinh điển, truyền thống, vừa thể hiện chủ đề bi kịch tình yêu vốn phổ biến trong phong trào Thơ mới. Khác với thói thường, bi kịch tình yêu tan vỡ ở đây lại thắp sáng niềm tin và tinh thần vị tha, nhân bản, nhân ái. Trên phương diện nghệ thuật, truyện thơ Bóng ai? góp thêm một kiểu loại thơ lục bát độc đáo, đan xen giữa hình thức tự sự và tiếng nói trữ tình sâu lắng, cần được ghi nhận, đánh giá đúng mức.
Nhà thơ Cẩm Lai thuộc số những cây bút xuất hiện vào chặng cuối phong trào Thơ mới, thuộc lớp sau của năm cây bút nữ Hằng Phương - Vân Đài - Mộng Tuyết - Anh Thơ - Thu Hồng đã được Hoài Thanh - Hoài Chân ghi danh trong Thi nhân Việt Nam, nhưng cũng kịp để lại dấu ấn sáng rõ. Việc sưu tập đầy đủ các tác phẩm thơ ca Cẩm Lai xuất hiện trước 1945 sẽ góp phần xác định đúng vị trí thơ bà trong sinh quyển phong trào Thơ mới và vị thế cây bút Thơ mới xuất sắc cuối cùng của Hà Tĩnh trong tổng thể nền thơ dân tộc và hiện đại giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX.