![]() |
| Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim |
Tôi và Nguyễn Thanh Kim cùng với cố nhà thơ Anh Vũ (Vũ Công Ứng) quen biết nhau từ những năm 1960 khi cùng ở khu chợ Nhớn, đường 18, thị xã Bắc Ninh (nay là phường Kinh Bắc). Rồi mỗi người mỗi ngả vì công việc và cuộc sống gia đình. Ai dè cả ba chúng tôi sau bao năm lại cùng ở thị xã Bắc Giang, khi Bắc Giang, Bắc Ninh sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc mà thị xã Bắc Giang là tỉnh lỵ, và mới đây Hà Bắc mang tên Bắc Ninh.
Năm 1980, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Bắc ra đời. Người có công lao lớn cho công việc này là nhà báo Ngô Thực ở Yên Phong, Bắc Ninh với sự ủng hộ tận tình, chu đáo của ông Lê Hồng Dương - Trưởng Ty Văn hóa tỉnh. Anh Vũ cùng với một số người khác đã góp sức tận tâm cho Ngô Thực, thuộc lớp người sáng lập Hội. Lúc ấy Thanh Kim đang công tác ở Đài Phát thanh tỉnh (sau là Phát thanh - Truyền hình). Thanh Kim ở Đài không lâu đã chuyển sang Hội, trước Nguyễn Duy Phi và tôi từ ngành Giáo dục về. Tất cả chúng tôi (Anh Vũ, Duy Phi, Thanh Kim, Đỗ Nhật Minh) đều ở bộ phận biên tập, sáng tác. Thế là sau thời gian dài, tôi và Thanh Kim, Anh Vũ lại cùng làm với nhau. Trước khi về Hội, Nguyễn Thanh Kim đã có nhiều thơ đăng rải rác trên báo chí trung ương, địa phương, là một tác giả quen thuộc trong tỉnh. Anh Vũ nổi danh từ lâu, ngoài thơ đã có hai cuốn truyện của Nhà xuất bản Kim Đồng: Vườn trên cửa sổ, Khói đất. Tôi chỉ có vẻn vẹn tập Câu chuyện về một đội kịch, xuất bản năm 1971 của Nhà xuất bản Kim Đồng.
Kim hiền lành, chân thực, cần mẫn làm việc. Anh thường tránh xa những cuộc ồn ào, cãi vã, phe nọ phe kia và cũng ít khi lên tiếng luận bàn. Có thể là anh không vào dạng người hoạt ngôn nhưng tôi hiểu anh là người kín tiếng và nhẫn nhịn. Kim cẩn trọng trong biên tập. Đương nhiên với sáng tác riêng mình, anh càng phải như thế. Điều này tôi học được cả Anh Vũ lẫn Thanh Kim. Đột nhiên anh xin đi học khóa 2 trường Viết văn Nguyễn Du (1983-1985). Ra trường, Thanh Kim về lại Hội Văn nghệ tỉnh Hà Bắc, sau chuyển sang báo Hà Bắc. Cho đến nay tôi vẫn tin rằng, Kim chỉ thích hợp với công việc biên tập, và anh là người của văn chương chứ không phải là người quản lý, là nhà báo - nhất là việc phản ánh phóng sự, điều tra. Tôi đã thổ lộ điều ấy với nhiều đồng nghiệp khi anh vì lý do khách quan đã rời Hội về làm ở báo Hà Bắc. Kim về báo lại làm đúng sở trường của mình là biên tập bài vở mảng Văn hóa - Văn nghệ khi báo mở ra chuyên mục đó số cuối tuần.
Rồi đột nhiên Thanh Kim cùng vợ chuyển nhà ra Hà Nội. Anh làm ở báo Sức khỏe và Đời sống của Bộ Y tế. Sự thay đổi ấy quả là bất ngờ. Hồi đó (và cả bây giờ) ra Hà Nội đâu có dễ - lại cả chồng lẫn vợ. Ai ngờ nhà thơ Nguyễn Thanh Kim lại có cuộc “di dân” bước ngoặt như thế. Đúng là sống với nhau mười mấy năm trời đâu đã hiểu chí khí, tính cách của nhau. Có một điều mà tôi trân quý người bạn ấy là sống rất nghĩa tình. Trước cũng thế và nay cũng thế. Khi còn công tác ở Hà Nội, dù bận công việc làm báo, nhưng rỗi rãi Thanh Kim lại về Bắc Giang chơi thăm anh em bè bạn. Lần nào về anh cũng đến nhà Anh Vũ, cách xa thành phố chừng bốn, năm cây số, hoặc tới nhà tôi. Với Anh Vũ, Kim coi như người anh, sẵn sàng đảm nhận mọi việc mà Kim thấy cần thiết chả cần Anh Vũ nhờ vả. Những lần về chơi, Kim kể nhiều chuyện ở Thủ đô, chủ yếu chuyện trong giới văn chương, mà tôi và Anh Vũ vốn mù tịt. Khi về hưu, Kim càng hay trở lại Bắc Giang. Rồi Anh Vũ vì bệnh trọng mất. Thanh Kim vẫn đến với tôi. Tháng nào cũng vậy. Tôi rất cảm kích. Tôi có tật xấu là rất ngại đi đây đi đó. Cũng một phần do hoàn cảnh gia đình. Ví thử ra nhà xuất bản nào đấy nhận cuốn sách của mình mới ấn hành thì xong việc là về thẳng nhà, gói gọn trong buổi sáng, dù ở Hà Nội tôi cũng có nhiều bạn bè trong và ngoài giới văn chương. Bởi vậy việc Kim từ Thủ đô tới chỗ tôi chỉ trò chuyện rông dài quả là nể phục.
Thanh Kim là người ham đọc và chịu khó mua sách. Anh đọc nhiều, nhất là sách của bạn bè và cập nhật thông tin văn học cả trong nước và thế giới với đủ thể loại để làm dày thêm tri thức. Thơ anh như con người anh vậy, cứ thủ thỉ, nhẹ nhàng, kiệm lời mà trầm lắng, sâu xa. Tôi có cảm giác như anh phiêu du, lãng đãng, bảng lảng với trời đất, khi anh bất chợt gặp cảnh đời, cảnh người, cảnh vật mà ngẫm nghĩ thốt lời, nhiều lúc đến nao lòng. Đằng sau những câu chữ ấy là tiếng nói thầm thì cất lên trong không gian vắng lặng.
“Chữ gieo như thể kiếp lau
Phất triền đã xám nương màu sóng xa
Kiếp lau ở chốn Ta Bà
Thân như cát bụi hồn là mong manh.”
(Kiếp lau)
Này đây:
“Suối trong quá khiến cho ta nóng ruột
Bộn chút thôi cũng mưa nắng chạnh lòng
Đời đã vậy xin cứ là như vậy
Áo ướt rồi, đâu chút ấm ai hong?”
(Lời nguyện)
Rồi:
“Ngước trời: Trời cao vút
Lặng đất: Đất chẳng thưa
Ngẫm mình, nào ai biết
Sông dài nắng đang trưa.”
(Sông dài nắng đang trưa)
Và:
“Chút tình thuở ấy xa xăm
Nắng phơi không héo, sương đằm lạnh vai.”
(Chút tình thuở ấy)
Âu cũng là phiêu du của một nghệ sĩ đa cảm. Chính anh đã tự nhận khi tới chốn thiền:
“Len lỏi khắp cổ tháp
Thân chợt có chợt không
Vi diệu vụt ánh chớp
Phiêu du tự tự lòng.”
(Phiêu du)
Tôi rất đồng cảm với lời tự bạch của thi sĩ này. “Thơ trung thực với khuôn mặt tái xanh, với sự lặng lẽ đến quên mình dưới ngọn đèn mờ tỏ, không biện minh, không dối lừa, tự giải thoát mình trong muôn nỗi âu lo thế sự” và “Thơ như phù sa bồi đắp đôi bờ” để chính cái lặng lẽ làm cho đời mình trở nên hữu ích. Nguyễn Thanh Kim đã tạo ra giọng điệu riêng cho mình. Ngoài lục bát, tứ tuyệt, anh còn bứt phá trong thơ văn xuôi và có những bài gây ấn tượng cho bạn đọc. Ví như: “Bừng sắc lửa lô xô men gốm chảy lênh loang vòm khối bến sông dài/ Có phải hồn đất đai, hồn cây cỏ linh diệu cõi riêng nào?...” (Hồn đất, hồn cây). Hoặc: “Nét vàng những đóa hoa cúc quỳ ánh lên chiều Đắc Min vệt xe xiết hằn rát bỏng nắng cao nguyên/ Lửa nguyên thủy hỏa diệm sơn ngún nhan thạch nồng nàn mắt ta như một cuốn phim quay chậm…” (Nét vàng hoa cúc quỳ).
Tôi rất nể phục sức làm việc của anh. Cho đến nay anh đã có 26 đầu sách, trong đó thơ 16 tập, còn lại ký, gồm hồi ký văn học, tản văn, tiểu luận… Nhiều bài viết chân dung tác giả được đồng nghiệp yêu thích; Khoảng bình yên trong giông bão, Quang Khải - Tôi ngồi lặng lẽ nghe thơ, Nguyễn Ngọc Lý “Muốn hóa đá suốt đời nghe gió thổi”… Ngẫm thấy từ lúc vào nghề cho đến khi thành danh, Kim luôn ý thức và trân trọng với nghiệp thơ. Vì thế anh không chỉ có nhiều đóng góp với sự nghiệp văn học nghệ thuật quê nhà, mà còn đóng góp vào thành tựu thơ Việt Nam nhiều năm qua, nhất là từ khi trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1994).
Tôi được biết sắp tới anh sẽ ra đầu sách nữa. Chẳng hiểu anh Phiêu du tự tự lòng vào cảnh đời, cảnh vật nào nữa. Là thơ? Là tản văn? Là chân dung văn học? Vào tuổi 78 mà còn sức lực, trí tuệ như vậy quả là trọng phục. Âu cũng là khích lệ, cổ vũ cho những ai dấn thân vào con đường nghiệt ngã này.