Đó là những vấn đề được đặt ra trong buổi thuyết trình khoa học “Dân tộc học bằng phép loại suy và dân tộc học bằng quan sát - khám phá văn hóa dân gian Thái trong một văn bản Hán-Việt thế kỷ XVIII” do Phòng Lý luận văn học, Viện Văn học tổ chức chiều ngày 15/01/2026 tại trụ sở Viện Văn học (số 20, Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội). Tới dự buổi thuyết trình có TS. Nguyễn Huy Bỉnh, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học, các cán bộ của Viện cùng nhiều nhà nghiên cứu về người Thái và những bạn trẻ yêu dân tộc học và nghiên cứu liên ngành. Buổi thuyết trình do Tiến sĩ Catherine Churchman đến từ Đại học Victoria Wellington, New Zealand thực hiện cùng sự dẫn dắt điều phối của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tiến (Viện Văn học), sự phiên dịch của nhà nghiên cứu Lê Nguyên Long (ĐH Khoa học xã hội và nhân văn và Mai Thị Thu Huyền (Viện Văn học).
![]() |
| Tiến sĩ Catherine Churchman. |
Tiến sĩ Catherine Churchman là chuyên gia nổi tiếng thế giới ở các lĩnh vực: lịch sử vùng Lĩnh Nam ở miền Nam Trung Quốc và Đông Nam Á lục địa trong thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, các ngôn ngữ Creole giao thoa giữa Trung Quốc và Đông Nam Á (đặc biệt là tiếng Phúc Kiến của Malaysia), bản sắc địa phương của người Hoa miền Nam cả trong và ngoài Trung Quốc, văn học Việt Nam viết bằng chữ Nôm, văn học Hán-Việt,... Cuốn sách của bà, The People Between the Rivers: The Rise and Fall of a Bronze Drum Culture 200-750 CE (Rowman & Littlefield, 2016), được đánh giá là "kiệt tác" (Liam C. Kelley), đồng thời là một trong số rất ít các nghiên cứu bằng tiếng Anh bàn về Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc. Bà là một trong số học giả hiếm hoi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời tiền hiện đại, vùng cao nguyên Việt Nam nói chung và dân tộc Thái ở Thanh Hóa, Nghệ An nói riêng, dựa trên các văn bản cổ.
Tại buổi thuyết trình, TS. Catherine Churchman giới thiệu tác phẩm Lão Man phong tục, một văn bản cổ, có niên đại từ cuối thế kỷ XVIII, viết bằng chữ Hán, rất ít được biết đến nhưng có vai trò quan trọng để hiểu về người Thái. Tác phẩm nằm ở tập thứ hai của cuốn sách Sơn cư tạp thuật do Đan Sơn, một nhà nho sinh vào khoảng năm 1735 ở Hoằng Hóa (tỉnh Thanh Hóa) biên soạn. Lão Man phong tục mô tả người Thái ở vùng cao Thanh Hóa, tương ứng với các địa danh: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh và một phần đất cận biên thuộc Lào ngày nay.
Trước khi phân tích, TS. Catherine Churchman giới thiệu phương pháp tiếp cận đối với các văn bản dân tộc chí Hán văn cổ. Bà cho rằng điều quan trọng là nhận diện những khuôn mẫu mà các trí thức Việt Nam có nền tảng Hán học thường sử dụng khi viết về các dị tộc (những người không phải là người Kinh) và khi tìm hiểu bất cứ văn bản dân tộc chí Hán - Nôm nào, cần hết sức lưu ý đến vấn đề này và không nên nhầm lẫn giữa miêu tả dân tộc học và những khuôn mẫu văn chương mà các nhà nho thể hiện.
Sở dĩ bà lưu ý điều này bởi trong các tác phẩm Hán-Việt về phong tục và văn hóa Thái, có hai phương thức mô tả chính mà diễn giả gọi là mô tả bằng phép loại suy cổ điển và mô tả bằng quan sát. Mô tả bằng phép loại suy cổ điển liên quan đến việc cố gắng dung hòa những gì người ta đã thấy hoặc nghe với những gì người ta đã đọc trong một văn bản Hán-Việt, thường sử dụng cách diễn đạt và câu chữ lấy từ kinh điển Trung Hoa. Phương pháp này đặc biệt phổ biến trong các tác phẩm Hán-Việt khi đề cập đến việc đặt tên cho người Thái, người miền núi và thảo luận về lịch sử cũng như tín ngưỡng tôn giáo của họ.
Mặt khác, mô tả bằng quan sát gần hơn với những gì chúng ta coi là dân tộc học theo nghĩa hiện đại, tức là quan sát kỹ lưỡng các hành vi và tín ngưỡng thực tế, khác với các quy ước văn xuôi cổ điển Trung Quốc và được rút ra từ kinh nghiệm thực tế hoặc phỏng vấn những người đối thoại bản địa. Các mô tả quan sát trong các văn bản Hán-Việt thường chứa đựng thông tin dân tộc học có giá trị liên quan đến văn hóa dân gian, ngôn ngữ và văn hóa vật chất của người Thái, có trước các mô tả bằng các ngôn ngữ khác hàng thập kỷ, nếu không muốn nói là hàng thế kỷ. Việc phân biệt hai phương thức mô tả này là điều cần thiết để hiểu nội dung của các văn bản dân tộc học Hán-Việt về các dân tộc vùng cao, nhưng để phân biệt như vậy trước hết cần phải phân tích và so sánh cẩn thận nội dung của các văn bản với thông tin có trong các văn bản Hán tự cổ điển và với học thuật dân tộc học về Thái trong các ngôn ngữ khác, đồng thời, phải có một nền tảng tri thức dân tộc học vững chắc từ hiểu biết tộc người và thực địa.
![]() |
| TS. Catherine Churchman trong một chuyến đi thực địa. |
Từ cách tiếp cận đó, TS. Catherine Churchman đã bóc tách, chỉ ra những khuôn mẫu cũng như những điều quan sát thực tế của tác giả Đan Sơn trong Lão Man phong tục. Là một nhà nho, Đan Sơn đã dẫn lại rất nhiều kinh điển viết về người Thái ở Thanh Hóa, chẳng hạn ông trích dẫn lại Quảng Châu ký (266-420), một cuốn sách ở đời Tấn, cũng từng được sử dụng trong Đại Nam nhất thống chí khi nhắc đến xứ Thanh Hóa ở thế kỷ XIX. Trả lời câu hỏi vì sao nhà Nho lại có thiên hướng dẫn lại kinh điển, Catherine cho rằng sự trích dẫn kinh điển giúp soạn giả phô diễn sự uyên bác qua việc trích dẫn cổ thư. Bà cũng cho rằng việc đưa thông tin trong sách cổ vào là phù hợp vì một số hiện tượng quan sát được ở vùng cao có những điểm tương đồng đáng kể với những gì được mô tả trong các tác phẩm kinh điển. Đồng thời, trong một số trường hợp, trích dẫn thư tịch cổ đóng vai trò như một sự thay thế cho những loại hình tri thức vốn khó có thể chia sẻ rộng rãi (chẳng hạn như niềm tin vào các hệ thống tâm linh như "phi" và "then"). Bên cạnh việc trích dẫn, Man Lão phong tục còn sử dụng các khái niệm có tính khuôn mẫu trong các văn bản cổ: cách gọi tên tộc danh (chẳng hạn: “Man Lão” để gọi chung những người sống ở vùng cao mà không có sự phân biệt các nhóm người khác nhau); các thuật ngữ liên quan đến thế giới thần thánh siêu nhiên (chẳng hạn: các từ 'Quỷ' (鬼), 'Thần' (神) hoặc từ ghép 'Quỷ Thần' (鬼神) một cách thiếu phân biệt để dịch các khái niệm 'Phi' và 'Then' của người Thái, trong khi cả hai từ này đều không hoàn toàn tương ứng với các khái niệm Hán - Việt). Tiến sĩ cũng chỉ ra rằng Man Lão phong tục có 4 lần tái sử dụng tri thức trong các cổ văn khi đề cập đến trống đồng (dấu vết Hậu Hán thư), thuốc (dấu vết Lĩnh Nam vệ sinh phương 嶺南衛生方, Nam Tống), bí thuật (dấu vết Bác vật chí 博物志, dẫn theo Bản Thảo cương mục 本草綱目), tang lễ (dấu vết Địa dư chí 地輿志 - chưa xác định được tác giả).
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Catherine Churchman, chiếm phần lớn trong Man Lão phong tục là những quan sát của chính tác giả Đan Sơn. Các phương diện văn hóa người Thái được ông mô tả kĩ lưỡng, chẳng hạn: kỹ thuật canh tác, các nghi lễ liên quan đến việc sinh nở, tang lễ (hai kiểu), tín ngưỡng dân gian, văn hóa vật chất, sáng tác, mối quan hệ với vùng hạ du, hoạt động giao thương ,… Do đó, đây là một văn bản quý giá để hiểu về người Thái ở thế kỷ XVIII.
Để làm sáng tỏ hơn những tri thức về người Thái trong văn bản này, TS. Catherine Churchman còn so sánh những gì được ghi chép trong Man Lão phong tục với 2 cuốn sách viết về người Thái do học giả Tây phương viết: cuốn Notes sur les Tay Dèng de Lang Chanh (Thanhhoa - Annam) của R. Robert (1941) và The Tai of Assam and Ancient Tai ritual của B.J. Terwiel (1980). Những đối chiếu này giúp người đọc kiểm chứng lại và đặt ra những nghi vấn từ những vênh lệch trong các ghi chép, từ đó kích thích sự tìm tòi, hiểu biết đa dạng và toàn bích hơn về người Thái.
Kết lại phần trình bày, học giả nhấn mạnh Man Lão phong tục là một kho tàng văn hóa dân gian Thái cổ, không chỉ có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu lịch sử người Thái ở Thanh Hóa hay Việt Nam – mà còn có ý nghĩa đối với lịch sử rộng lớn hơn của các cộng đồng nói ngôn ngữ Thái.
![]() |
| Buổi thuyết trình khoa học “Dân tộc học bằng phép loại suy và dân tộc học bằng quan sát - khám phá văn hóa dân gian Thái trong một văn bản Hán-Việt thế kỷ XVIII |
Bình luận về bài thuyết trình của TS. Catherine Churchman, TS. Nguyễn Mạnh Tiến cho rằng phương pháp tiếp cận của TS. Catherine Churchman rất hữu ích trong việc khám phá mảng dân tộc chí Hán - Nôm tại Việt Nam. Bên cạnh đó, TS. Nguyễn Mạnh Tiến nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đọc lại các tác phẩm viết về các tộc người bằng thư tịch cổ do các nhà Nho Việt Nam biên chép. Đây là nguồn tri thức bản địa quan trọng, từ đó có thể dựng lại lịch sử dân tộc chí từ góc độ vương triều, giúp phá bỏ một quán tính nhận thức lâu nay khi cho rằng chỉ đến khi Viện Viễn Đông Bác Cổ do người Pháp thành lập, ngành dân tộc học ở Việt Nam mới ra đời. Những cuốn sách như Man Lão phong tục cho thấy ghi chép dân tộc học về các tộc người thiểu số đã được trí thức Nho giáo thực hiện từ rất sớm.
Đặt chủ đề cuộc thuyết trình trong khuôn khổ sinh hoạt học thuật tại Viện Văn học, TS. Nguyễn Mạnh Tiến cũng cho rằng việc tìm hiểu dân tộc học nói chung và Man Lão phong tục nói riêng có ý nghĩa rất lớn đối với nghiên cứu văn học bởi nguồn tri thức dân tộc chí sẽ là nền tảng quan trọng để nhà nghiên cứu văn học hiểu về Việt Nam toàn diện và từ đó hiểu tác phẩm văn chương thấu đáo và sâu sắc hơn.
Buổi thuyết trình nhận được rất nhiều ý kiến trao đổi của nhà nghiên cứu, chẳng hạn: TS. Quách Thị Thu Hiền, TS. Đoàn Ánh Dương, TS. Tạ Thị Thanh Huyền,… cùng nhiều câu hỏi của các bạn sinh viên và người quan tâm, cho thấy sức hấp dẫn của việc khám phá các văn bản cổ về các tộc người tại Việt Nam.