Diễn đàn lý luận

“Văn hóa miệt vườn” trong văn xuôi Nam bộ

Lã Nguyên
Lý luận phê bình 09:48 | 20/10/2026
Baovannghe.vn - Bài viết góp một tiếng nói vào nghiên cứu vấn đề “sinh thái và văn hóa Nam bộ”. Đó là đề tài rất lớn. Tôi chỉ bàn một khía cạnh nhỏ: mối quan hệ giữa sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần của con người xã hội trong văn xuôi Nam bộ.
aa

Nói là trong “văn xuôi Nam bộ”, thực ra, chất liệu mà tôi khảo sát để rút ra vài nhận xét chủ yếu là sáng tác của các cây bút lớn, đại diện cho ba thế hệ làm nên dòng chảy văn hóa truyền thống của vùng đồng bằng sông Cửu Long mà ta quen gọi là văn hóa “miệt vườn”, bắt đầu từ Bình Nguyên Lộc (1914-1987), qua Trang Thế Hy (1924-2015), Đoàn Giỏi (1925-1989), Sơn Nam (1926-2008), đến Nguyễn Ngọc Tư (1976). Với sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, tôi dừng lại ở Cánh đồng bất tận, thiên truyện đánh dấu sự đổi dòng quyết liệt của mạch truyền thống ấy.

“Văn hóa  miệt vườn”  trong văn xuôi Nam bộ
Một số tác phẩm của các thế hệ nhà văn Nam bộ. Nguồn: TGCC

Xin bắt đầu bằng câu chuyện về cách thức mô tả thiên nhiên và nhân vật trong văn xuôi Nam bộ. Tôi gọi Nguyễn Ngọc Tư, Đoàn Giỏi, Trang Thế Hy, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc là các “nhà văn sinh thái”, dù tác phẩm của họ chẳng động chạm chút nào tới những gì mà ta có thể bắt gặp hằng ngày trên báo chí hiện nay, ví như tình trạng sạt lở, khô hạn, hay môi trường sinh thái đang bị xâm hại và nguy cơ của cả vùng châu thổ mênh mông có thể bị ngập sâu dưới mực nước biển do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Chỗ dựa để tôi gọi như thế là cách thức sử dụng các chi tiết thiên nhiên để kiến tạo khách thể thẩm mĩ trong ý đồ sáng tạo nghệ thuật của họ.

Các nhà văn Nam bộ thường không tả mà kể chuyện sông nước. Sơn Nam kể: “Rạch Cái Cau là ngọn sông Cái Lớn ăn qua địa phận tỉnh Cần Thơ. Trên ba mươi năm về trước, đó là nơi sầm uất, lau sậy mọc um tùm quanh mấy gốc bần to lớn cỡ hai người ôm không xuể. Sớm thì chim kêu, chiều thì vượn hú, quang cảnh buồn bã làm sao! Thỉnh thoảng, có người bảo rằng: giữa đêm khuya nghe tiếng cọp rống. Những tin đồn đãi bất lành như vậy lần lần bị đánh tan và không còn làm cho ai sợ sệt nữa... Sông rạch thông thương, vàm Cái Cau lần có người đến cất nhà đông đúc thành xóm nhỏ, có ông hương ấp đứng đầu. Ông hương ấp họ tên gì? Nhà ở lối nào? Ðiều đó khách thương hồ ít ai quan tâm đến” (Con Bảy đưa đò). Trong Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư cũng kể chuyện kênh rạch, đồng nước như vậy: “Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng. Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này. Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn... Một lớp phèn mới, vàng sẫm quánh lại trên bộ lông của những con vịt đói, nhớp nháp bám lên vai Điền khi nó trầm mình bơi đi cặm cọc, giăng lưới rào bầy vịt lại. Tôi bưng cái cà ràng lên bờ, nhóm củi.”

Tôi trích dẫn dài như thế là để rút ra nhận xét thế này: Rừng Cà Mau của Sơn Nam, hay Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi vừa là nơi ở, lại vừa là nơi bẫy thú, nơi giăng lưới, thả câu. Hay Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư cũng chỉ là nơi chăn thả. Sông nước trong sáng tác của họ là mạng lưới giao thông, mà cũng là nơi giao thương. Chúng được kể, được tả như “không gian sinh hoạt thường nhật” và “môi trường cộng sinh giữa tự nhiên với con người”. Tôi gọi các cây bút Nam bộ là những nhà văn sinh thái theo nghĩa như vậy.

Cái môi trường cộng sinh giữa con người và tự nhiên trong văn xuôi Nam bộ nói trên có nhiều đặc điểm dễ nhận biết.

Thứ nhất, khép kín là đặc điểm dễ nhận biết đầu tiên của nó. Hãy xem vương quốc của ông Tư Thông ở hòn Cổ Tron trong văn Sơn Nam: “Ở hòn Cổ Tron giữa vời vịnh Xiêm La này, ông Tư Thông cơ hồ quên cả loài người và loài người cũng hầu như quên rằng mình có một đồng loại ở ngoài mỏm đá chơi vơi kia. Ðiều ấy, chúng ta không nên trách ai cả, chẳng qua là… hải giác thiên nhai” (Hòn Cổ Tron).

Cái thế giới giống như vương quốc “Robinson” của thằng Cộc trong Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc, Cà Mau của Sơn Nam, hay Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi và ngay cả Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư cũng là những không gian khép kín như vậy. Đó là một thế giới khác, tách biệt hoàn toàn với phần còn lại của thế giới quen thuộc với chúng ta.

Thứ hai, hoang sơ là đặc điểm khác. Đặt Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc, Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam và Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi bên cạnh Việt Bắc của Tố Hữu, ta càng thấy rõ hơn cách mô tả thiên nhiên rất riêng của các cây bút truyền thống phương Nam. Rừng Việt Bắc kháng chiến trong thơ Tố Hữu là “Thủ đô gió ngàn” đầy ắp không gian lễ hội, nơi đây “Đêm đêm rầm rập như là đất rung/ Quân đi điệp điệp trùng trùng/ Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”. Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc hoang vắng tới mức lúc nào thằng Cộc cũng “thèm người”. Cũng được đặt vào bối cảnh thời chiến, nhưng rừng Cà Mau của Sơn Nam và rừng phương Nam của Đoàn Giỏi chỉ là “thủ đô” của muông thú, rắn rết, của tràm, đước và thảo mộc hoang dại, cực kì vắng vẻ. Ở đó, sự có mặt của con người không xóa được ấn tượng về sức mạnh thống trị của tự nhiên. Trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, tính chất hoang sơ, khép kín của đất rừng sông nước phương Nam tuy đã nhạt đi, nhưng dấu vết của nó thì vẫn dễ nhận biết. Cánh đồng bất tận của nhà văn này chẳng phải là “đồng hoang” đó sao? Và không phải ngẫu nhiên Nguyễn Ngọc Tư viết Nhớ sông, rồi lại viết Dòng nhớ. Đáng lưu ý là ngay ở đoạn mở đầu, cả hai tác phẩm đều cho thấy, trong kí ức thẳm sâu của tác giả, “nhớ sông”, hay “nhớ dòng” trước hết là nỗi nhớ về số phận bi thảm của con người trước sức mạnh hoang sơ, hung bạo của sông nước.

Thứ ba, con người ở đây không “vươn mình cai quản lại thiên nhiên”, mà “hòa đồng” với nó, trở thành bộ phận hữu cơ của nó. Đặc điểm này được gợi ra vô cùng tinh tế chỉ trong một câu văn của Bình Nguyên Lộc: “Trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá. Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cả, từ ông nội nó cho đến những con sinh vật nhỏ mọn quy tụ quanh các ngọn nước”. Hình thái “cộng sinh” ấy chi phối nguyên tắc mô tả nhân vật của các nhà văn phương Nam, từ Bình Nguyên Lộc, qua Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Trang Thế Hy, cho tới Nguyễn Ngọc Tư. Trong sáng tác của họ, những đặc điểm của tự nhiên gần như được chuyển nhập hoàn toàn sang đặc điểm của nhân vật. Dưới ngòi bút của họ, nhân vật văn học phần đông là những con người khép kín và hoang dã hệt như sự hoang dã và khép kín của thiên nhiên vây quanh. Con người ở đây hoang dã từ ngoại hình, đến tính cách, từ y phục, tới cách ăn uống, đi đứng, nằm ngồi… Hãy xem Sơn Nam vẽ chân dung ông Tư Thông: “Tóc của ông lốm đốm bạc, khi thì thả dài xuống khỏi lưng quần. Khi thì bới thành búi to sau ót, gài lại bằng một cọng gai kim quýt. Một bộ quần áo nghĩ cũng hơi dư mặc đối với ông! Nhiều khi năm ba tháng liên tiếp ông phơi lưng trần với nắng, bên mấy gốc săn đá cổ thụ, lá cành xơ xác vì những cơn gió triền miên của biển khơi. Khi trời nực thì có những khe suối trong veo đón mời. Ông cứ ung dung mà uống, mà tắm một cách tự nhiên…” (Hòn Cổ Tron). Các nhân vật trong Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi cũng hoang dã như thế. Nhân vật trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư vừa hoang dã, vừa khép kín trong đời sống nội tâm của mình.

Con người sinh ra từ tự nhiên, chịu sự tác động mạnh mẽ của tự nhiên. Có cơ sở để khẳng định rằng chính môi trường sinh thái tự nhiện có vai trò cực kì quan trọng đối với việc hình thành cảm quan của con người và mô hình thế giới của các cộng đồng dân cư. Tôi nhớ đã bắt gặp đâu đó trong sáng tác của một nhà văn Trung Á kiểu so sánh rất lạ: “người đàn bà có tấm thân mềm mại như những cái lưng ngựa”, “chàng trai viết cho cô gái hàng trăm lá thư, lá nào cũng giống những chiếc đầu cừu”. Trong Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài tả nội tâm nhân vật bằng ngôn ngữ của chính họ: “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị cũng tưởng mình là con trâu, mình cũng là con ngựa phải đổi cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi.” Thì ra những “lưng ngựa”, “đầu cừu”, “con trâu”, “con ngựa”, “đuôi ngựa”, “tàu ngựa”, “cọp”, “hòn đá”, “con suối”… là “mô hình thế giới” và là “lỗ tai”, “con mắt” giúp dân miền thảo nguyên Trung Á, dân Tây Nguyên, hay Tây Bắc Việt Nam cảm nhận thế giới.

Đọc sáng tác của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Đoàn Giỏi, Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy môi trường kênh rạch sông nước với những ghe, thuyền… cũng có vai trò tương tự như vậy. Tôi muốn nhắc tới hai cuốn tiểu thuyết ra đời cách nhau già nửa thế kỉ: Đò dọc (1959) của Bình Nguyên Lộc và Sông (2012) của Nguyễn Ngọc Tư. Tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc xoay quanh câu chuyện về cuộc sống phiêu dạt của gia đình ông Nam Thành với bốn cô con gái Hương, Hồng, Hoa, Quá trong buổi giao thời giữa chiến tranh và hậu chiến vào những năm 1950: từ Bạc Liêu thuộc miền Tây Nam bộ, họ lên Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn lại trôi dạt về miệt Thủ Đức - Biên Hòa thuộc miền Đông Nam bộ. Ở đây, “đò dọc” là con đò trên dòng sông di dân và hành trình chạy loạn đầy gian khó của những con người phải bỏ xứ ra đi. Với nội dung như thế, cho đến nay, Đò dọc của Bình Nguyên Lộc vẫn giữ được ý nghĩa thời sự mang tính phổ quát của nó. Tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư kể về chuyến du khảo sông Di của ba nhân vật: Ân, Bồi và Xu. Sông Di là dòng sông hư cấu, không gắn với địa danh cụ thể nào cả. Tác phẩm chia thành 22 chương, mỗi chương có thể tách riêng thành một truyện ngắn độc lập. Ta bắt gặp ở những truyện ngắn ấy thế giới nhân vật với những mảnh đời rất đỗi quen thuộc của Nguyễn Ngọc Tư: những cô gái ăn sương, những người đàn bà ngoại tình, đám đàn ông thô bạo, dữ dằn và gần như tất cả được nhìn qua đôi mắt của một đứa trẻ, hay người con. Sông Di, dòng sông hư cấu của Nguyễn Ngọc Tư cũng là ẩn dụ giàu sức khái quát. Nó là “dòng sông của những mảnh đời con con”, đúng như lời của người kể chuyện trong tác phẩm. Và như thế, “sông” và “đò” chính là “lỗ tai”, là “con mắt” của người phương Nam, “đò dọc”, “dòng sông” là mô hình thế giới hiện lên qua cảm quan của họ.

Nhưng con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên, mà còn là sản phẩm của chính nó và của xã hội. Từ thời đồ đá mới, khi con người không chỉ săn bắt, hái lượm, mà biết chăn nuôi và trồng trọt, nhân loại rẽ theo một hướng khác. Từ đây, con người không tự biến đổi bản thân để thích nghi với tự nhiên như muôn loại vật khác. Từ đây, các cộng đồng dân cư tổ chức lại thành các thị tộc, bộ lạc và quốc gia sơ khai, con người tự nhiên hóa thành con người xã hội. Bên cạnh sinh thái tự nhiên, con người xã hội hình thành cho mình môi trường sinh thái tinh thần và sống trong bầu sinh thái tinh thần ấy. Sinh thái tinh thần của các cộng đồng dân cư khác nhau, ở các thời đại khác nhau có những điểm tựa định hướng giá trị khác nhau. Chính những định hướng giá trị này sẽ là nhân tố quyết định diện mạo sinh thái tinh thần và xu hướng phát triển của văn minh, văn hóa ở các dân tộc, quốc gia, khu vực khác nhau.

Văn xuôi Nam bộ cho thấy nguyên tắc tôn trọng truyền thống, chứ không phải khát vọng sáng chế, canh tân, là định hướng giá trị của vùng cư dân canh tác lúa nước. Trong tác phẩm văn học, định hướng này trước hết thể hiện rõ ở việc mô tả hoạt động thực tiễn của cộng đồng dân cư.

Đọc Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, hay Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc, ta nhận ra ngay ở đây chỗ dựa quan trọng nhất trong hoạt động thực tiễn của con người không phải sự sáng chế, phát minh, hay cách tân gì, mà là kinh nghiệm. Từ việc đi rừng sao cho khỏi lạc, tới việc đốt rừng mở đất, việc câu rắn, bẫy chim, hay săn cá sấu, tất thảy đều phải dựa vào kinh nghiệm. Định hướng truyền thống ấy thể hiện rõ hơn ở việc mô tả điểm tựa đạo đức trong đời sống tinh thần của con người. Về phương diện này, tôi cho rằng Nhớ sông của Nguyễn Ngọc Tư là một áng văn tuyệt vời. Truyện có ba nhân vật: ông Chín với hai cô con gái có tên gọi đều mang nghĩa là sông - nước đó là Giang và Thủy. Câu mở đầu tác phẩm đã để lộ ngay chủ đề về sự thủy chung giữa người với nước: “Mỗi lần qua sông Cái Lớn, Giang lại nghĩ chắc tới già, tới chết, mình sẽ chẳng bao giờ rời chiếc ghe nhỏ này đâu. Cũng khúc sông này, năm Giang mười tuổi, má Giang chết…” Mạch truyện mở ra, kể về lòng thủy chung của ông Chín với vợ. Sau khi vợ mất, ông “gà trống nuôi con”, một mình xoay xở, gặp lúc bí, ông Chín vẫn tiếp tục bàn bạc, tâm sự, vẫn “vấn kế”, xin lỗi người vợ đã khuất: “Tui biết tính sao bây giờ, bà ơi. Tui tính lầm một lần này rồi […] Bà đã thành nước, thành đất, thành cỏ thành cây, cha con tui ở đâu, xin bà theo đó.” Nhớ sông của Nguyễn Ngọc Tư là áng văn viết về sự thủy chung giữa vợ với chồng, cha với con, giữa người sống với người đã khuất, giữa người với sông nước cỏ cây. Thiên truyện toát lên không khí thủy chung như nhất trong tình đất, tình người.

Tôi nghĩ, ở một chừng mực nào đó, có thể xem văn xuôi Nam bộ truyền thống, qua sáng tác của Bình Nguyên Lộc, Đoàn Giỏi, Sơn Nam, với nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư, là sự mở rộng, kéo dài của motif truyện kể về nghĩa tình thủy chung như nhất. Ở đó, tình thủy chung như nhất được mô tả như là cốt lõi của đạo đức, là nguồn cội làm nên niềm vui và hạnh phúc tồn tại bất diệt trong cõi nhân sinh. Cho nên, đọc văn xuôi Nam bộ qua sáng tác của những nhà văn kể trên, ta có cảm giác được gặp lại thế giới “xa xưa” với những con người truyền thống “ngày trước” rất đỗi quen thuộc.

Cuối cùng, định hướng truyền thống như quan niệm giá trị làm nên hồn cốt của văn hóa vùng miền thể hiện rõ nhất qua “cách thức xử lí ngôn ngữ văn học” của nó. Văn thơ miền Bắc luôn xóa bỏ phương ngữ, hướng tới chuẩn ngôn ngữ quốc gia. Những câu văn, câu thơ sử dụng ngôn ngữ Thanh, Nghệ, kiểu như “Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni:/ Dân chúng cầm tay lắc lắc/ Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc” chỉ là ngoại lệ. Văn thơ Nam bộ không thế. Đọc bất kì trang văn nào của Bình Nguyên Lộc, Đoàn Giỏi, Sơn Nam, hay Nguyễn Ngọc Tư, ta đều bắt gặp đầy ắp phương ngữ. Giữa các nhà văn ấy, mỗi Đoàn Giỏi là có chút khác biệt. Ông luôn nhớ lời văn của ông đang hướng tới độc giả là người Bắc, người Việt nói chung, nên trong Đất rừng phương Nam, mỗi khi dùng phương ngữ, bao giờ ông cũng ghi chú, ví như “cần xé” là “sọt vuông to đáy, có hai quai xách, khi cần cứ tra đòn vào khênh”, “bông bần” là “một loại cây mọc theo mé sông, đầm nước, còn gọi là thủy liễu”, “trái khóm” là “quả dứa”, “con trút” là “con tê tê”, “các chả” là “cha ấy, bố ấy”, “ảnh” là “anh ấy”, hay “qua” là “tiếng xưng ‘tôi’ thân mật của người cao tuổi”… Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư không làm thế. Trong sáng tác của họ, phương ngữ được sử dụng rộng rãi trên mọi cấp độ, rõ nhất là ở khu vực từ vựng và điệu giọng của lời khẩu ngữ. Còn nhớ, vẫn tâm niệm Nam bộ gọi “hoa” là “bông”, nên khi đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư, may mà tra từ điển tiếng Việt, tôi mới ngã ngửa hóa ra “bán hàng bông” không phải là “bán hàng hoa”, mà là bán rau quả. Văn xuôi Nam bộ tựa như đưa độc giả miền Bắc và miền Trung vào một thế giới khác, nhưng lại dẫn độc giả miền Nam trở lại “miệt vườn” hít thở khí trời quen thuộc muôn đời chính là nhờ lớp từ vựng địa phương dày đặc và điệu giọng của lời khẩu ngữ Nam bộ này.

Tôi sẽ khép lại bài viết bằng mấy nhận xét như sau.

Thứ nhất, hoàn toàn có cơ sở để gọi Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Trang Thế Hy, Nguyễn Ngọc Tư là các nhà văn sinh thái. Sáng tác của họ giúp ta nhận ra những đặc điểm quan trọng nhất của sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần Nam bộ. Những đặc điểm ấy làm nên diện mạo và định hướng phát triển của nền văn hóa “miệt vườn” mang linh hồn của sông nước Cửu Long.

Thứ hai, đúng là sáng tác của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Trang Thế Hy, Nguyễn Ngọc Tư chẳng động chạm gì tới những chuyện mà ta có thể bắt gặp hằng ngày trên báo chí hiện nay nhưng những đặc điểm của sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần cùng định hướng văn hóa được ghi nhận trong sáng tác của họ lại giúp ta nhận ra vài nguyên nhân cốt lõi cần suy ngẫm khi giải quyết vấn đề thảm họa sinh thái và môi trường. Chẳng hạn, tôi cứ nghĩ định hướng truyền thống của văn hóa Nam bộ và thói quen dựa vào kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn liệu có phải là nguyên nhân dẫn tới các ý kiến đề xuất những cách tiếp cận đầy thụ động trong việc “giải cứu đồng bằng sông Cửu Long”. Ý tôi muốn nhắc tới quan điểm tiếp cận được gọi là “thuận thiên”, theo đó, người dân đồng bằng sông Cửu Long không được “cãi trời”, mà phải thích nghi với tình hình biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn hiện nay. Hoặc tôi cứ nghĩ, liệu có phải mô hình thế giới quan xem cuộc đời là con “đò dọc” di chuyển bất tận trên sông nước đã tạo ra truyền thống di dân dẫn tới tình trạng suy giảm dân số rất đáng báo động ở Nam bộ hiện nay?

Thứ ba, mô tả hoạt động thực tiễn của con người như sự mở rộng của thói quen và kinh nghiêm, lấy motif “thủy chung như nhất” làm mẫu gốc để tổ chức truyện kể, văn xuôi Nam bộ là vương quốc lí tưởng của thể tài phong tục - thế sự, là nơi cất lên điệu giọng trữ tình cảm thương da diết nhất. Giọng trữ tình cảm thương ấy không còn ngân nga lên nữa trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Ở đây hận thù và sự dã man trở thành mẫu gốc truyện kể của tác phẩm, chính sự dã man và lòng hận thù đã hủy diệt mọi mầm sống, biến thế giới nhân vật thành những con người bị thui chột, đui mù cả về thể xác, lẫn tâm hồn. Với nội dung như thế, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư vừa ghi dấu những biến đổi dữ dội của môi trường sinh thái tinh thần trong đời sống xã hội, vừa khép lại nền văn xuôi Nam bộ truyền thống để mở ra một thời đại mới.

Thằng què lấy vợ. Truyện ngắn của Ahmed Bouzfour

Thằng què lấy vợ. Truyện ngắn của Ahmed Bouzfour

Baovannghe.vn - Marzouka ư? Cô ấy đang cõng trên lưng một bọc vải, đôi bông tai lấp lánh. Marzouka tiến lại gần, và tôi cũng bước về phía cô ấy.
Từ câu chuyện cổ tích đến khung trời hợp tác Việt Nam-Đan Mạch trong kỷ nguyên mới

Từ câu chuyện cổ tích đến khung trời hợp tác Việt Nam-Đan Mạch trong kỷ nguyên mới

Baovannghe.vn - Báo Văn nghệ trân trọng giới thiệu phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Đan Mạch tại Đại học Copenhagen: “Từ câu chuyện cổ tích đến khung trời hợp tác Việt Nam-Đan Mạch trong kỷ nguyên mới.”
Đến Vincom dịp 20/10: Đi xe hoa hồng, tư vấn phong cách từ stylist, tận hưởng ngày hội "Chiều Nàng Như Ý"

Đến Vincom dịp 20/10: Đi xe hoa hồng, tư vấn phong cách từ stylist, tận hưởng ngày hội "Chiều Nàng Như Ý"

Baovannghe.vn - Hoa và quà vẫn là những điều không thể thiếu trong ngày Phụ nữ Việt Nam, nhưng một ngày được chiều đúng sở thích còn có nhiều điều thú vị hơn thế. Với chiến dịch “Chiều Nàng Như Ý – Blooming Her Day”, Vincom mang đến chuỗi trải nghiệm từ thời trang, làm đẹp, mua sắm đến giải trí và sáng tạo, để mỗi người phụ nữ được tận hưởng dịp 20/10 theo cách riêng của mình.
Tổng kết và trao giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ II

Tổng kết và trao giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ II

Baovannghe.vn - Chiều 19/10/2026, tại Hà Nội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể Trung ương trang trọng tổ chức Lễ Tổng kết và trao giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ II, năm 2026.
40-50 quốc gia, vùng lãnh thổ tham dự Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu

40-50 quốc gia, vùng lãnh thổ tham dự Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu

Baovannghe.vn - Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 13 đến 16/11 tại Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), với sự tham gia của đông đảo nghệ nhân, đại biểu trong nước và quốc tế.