Đây chính là căn tố tạo nên một thời khác biệt trong việc thẩm định giá trị của mỗi nền văn nghệ, khi hệ quy chiếu để đánh giá xuất phát từ ý thức hệ của mỗi thể chế chính trị mà không căn cứ trên nền tảng của dân tộc tính.
|
Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, nhiều hiện tượng văn nghệ quá khứ, trong đó có văn nghệ miền Nam trước 1975 được nhìn nhận lại một cách cởi mở, khách quan, công bằng để phần nào xóa đi những định kiến không đáng có trước kia. Song, điều ấy chưa đủ tác động để thay đổi nhận thức về việc định vị vai trò, ý nghĩa của văn nghệ miền Nam trong tiến trình vận động của nền văn nghệ nước nhà và xem việc thẩm định lại giá trị của văn nghệ miền Nam là biểu hiện của tinh thần hòa hợp dân tộc. Thế nên, không phải ngẫu nhiên, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Đề án 15/ĐA/BTGTW ngày 14/7/2023 nhằm mục đích nghiên cứu toàn diện nền văn nghệ miền Nam (1954-1975) với tinh thần khách quan, khoa học. Không những thế, Đề án còn khẳng định văn nghệ miền Nam là di sản của dân tộc cần được bảo tồn, nghiên cứu, đánh giá với những luận giải khách quan, công bằng trên quan điểm lịch sử cụ thể. Đây là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn xét từ bình diện văn hóa, xã hội, lịch sử, là bước đi cần thiết, góp phần thiết thực vào việc kiến tạo tinh thần hòa hợp dân tộc nhìn từ bình diện văn nghệ, một trong những lĩnh vực thể hiện tính nhân văn sâu sắc nhất.
Minh chứng cho vấn đề này, những năm gần đây nhiều ấn phẩm văn nghệ, triết học, xuất bản ở miền Nam trước 1975, đã được tái bản khá nhiều và được công chúng tiếp nhận một cách nồng nhiệt. Đó là các tác phẩm nghiên cứu về triết học, văn hóa, lý luận - phê bình của Thích Nhất Hạnh, Nguyễn Đăng Thục, Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Thanh Lãng, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Văn Trung, Huỳnh Phan Anh, Đỗ Long Vân, Lê Tuyên, Phạm Thế Ngũ, Tuệ Sỹ... Đặc biệt, là những ấn phẩm văn học như: Dương Nghiễm Mậu với Tuổi nước độc, Nhan sắc, Cũng đành, Tiếng sáo người em út...; Bình Nguyên Lộc với Truyện ngắn Bình Nguyên Lộc, Ký thác...; Tràng Thiên với Quê hương tôi; Nguyễn Thị Hoàng với Vòng tay học trò, Tiếng chuông gọi người tình trở về, Cuộc tình trong ngục thất...; Nguyễn Thị Thụy Vũ với Lao vào lửa, Mèo đêm, Chiều mênh mông, Khung rêu, Thú hoang, Chiều xuống êm đềm...; Trần Thị Ngh với Lạc đạn, Nhà có cửa khóa trái, Nhăn rúm... Nguyên Sa với Tuyển thơ chọn lọc; Phạm Công Thiện với Trên tất cả đỉnh cao là im lặng; Bùi Giáng với Đười ươi chân kinh (tuyển thơ văn); Du Tử Lê với Thơ Du Tử Lê... Âm nhạc có: Đưa em tìm động hoa vàng với 232 tình khúc của Phạm Duy, Tình khúc Vũ Thành An với 39 ca khúc; Tuyển Những tình khúc vượt thời gian - Đường xưa lối cũ với 51 ca khúc; Tuyển Ca khúc vượt thời gian gồm 30 tình khúc trước 1975...
Không những thế, với Nghị định 144/2020/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn, không nói tới khái niệm “Tác phẩm sáng tác trước năm 1975 tại các tỉnh phía Nam” là quyết định đúng, phù hợp nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, rất hợp lòng dân. Từ khi có nghị định này, di sản âm nhạc miền Nam trước 1975 như được chắp thêm đôi cánh để tiếp tục lan tỏa vào đời sống. Chúng ta có thể nhìn thấy điều này qua các chương trình ca nhạc như: Tình khúc vượt thời gian, Những khúc vọng xưa... trên Đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương. Đặc biệt, các cuộc thi “Tình khúc Bolero” của các Đài truyền hình đều khám phá thế giới âm nhạc của các nhạc sĩ sáng tác trước 1975 như: Lam Phương, Lê Minh Bằng, Thanh Sơn, Song Ngọc, Y Vân, Hoàng Trọng, Nguyễn Văn Đông, Tuấn Khanh, Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng. Vũ Thành An, Hoàng Thi Thơ, Trường Sa... đã thu hút nhiều người tham gia, nhất là giới trẻ trưởng thành sau 1975 ở phía Bắc. Và mặc dù, các bạn trẻ này chưa có “truyền thống” hát nhạc miền Nam trước 1975, nhưng qua các cuộc thi, họ đã hát rất hay, rất “mùi” các tình khúc này. Thế mới biết, nghệ thuật đúng nghĩa chân ái, giàu mỹ cảm sẽ không có giới tuyến, không có cách ngăn, chỉ có sự hòa hợp.
Với những minh chứng trên, có thể nói, từ khi đất nước đổi mới, cùng với chính sách cởi mở của Đảng, Nhà nước trong việc thẩm định lại giá trị tư tưởng, nghệ thuật, đồng thời cấp phép tái bản các ấn phẩm văn nghệ miền Nam trước 1975, trong đời sống văn nghệ hiện nay, chứng tỏ Đảng và Nhà nước đã làm một cuộc hòa hợp, hòa giải rất ý nghĩa qua con đường văn nghệ, lĩnh vực có thể chạm đến một cách sâu sắc tình tự dân tộc trong cảm thức mỗi con dân nước Việt của nòi giống Lạc Hồng. Đây cũng là vấn đề đặt ra cho mỗi văn nghệ sĩ, vốn là những người có trách nhiệm chữa lành vết thương trong tâm hồn dân tộc mà trên 50 năm qua vẫn còn những “vết sẹo” chưa được hoặc chưa chịu chữa lành, trong đó có cả lĩnh vực văn nghệ, để hướng đến một sự hòa giải thật sự giữa những người anh em ruột thịt.
Câu hỏi đặt ra lúc này có thể là quá muộn nhưng dù muộn vẫn còn hơn không. Bởi lẽ, dù chính sách của Đảng và Nhà nước đã cởi mở nhằm kiến tạo sự hòa giải dân tộc nhưng không phải ai cũng thấu cảm hết sự cần thiết của việc hòa giải này, khi mà trong lòng một số người vẫn còn những nghi ngại, những giới tuyến vô hình khi phân biệt văn nghệ phía bên này hay phía bên kia... Vì vậy, làm thế nào để thắp sáng trong tâm thức mỗi người tình dân tộc nghĩa đồng bào, hướng đến sự hòa giải chân thành, tin yêu, để tạo sức mạnh tinh thần vững bước trên hành trình hội nhập và phát triển trong xu hướng toàn cầu hóa cũng là điều mỗi người cần tự vấn. Muốn làm được điều này rất cần sự đồng lòng của mọi người, trong đó có trách nhiệm của văn nghệ sĩ, những người với thiên chức cao cả, sẽ là những sứ giả thiện chí kết nối tình dân tộc qua hành trình sáng tạo văn nghệ của mình. Bởi lẽ, việc hòa giải qua văn nghệ, từ văn nghệ là con đường hữu hiệu nhất, nhân bản nhất, tiến tới một sự hòa giải hoàn mỹ không chỉ cho hôm nay và cho cả mai sau...
Và tôi xin mượn lời của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết cách đây 58 năm, để tạm kết những ý nghĩ tản mạn này, khi ông khẳng định sứ mệnh của văn nghệ: “Tiếng hát đã có thể cất lên để nuôi lớn ước mơ. Ta đã có sẵn một hành trang quý giá của hơn bốn nghìn năm để còn mãi bước đi trên những lộ trình mới về tương lai. Ta phải đi tới bằng con tim sứ giả mang niềm tin và lời hứa hẹn của những người đã nằm xuống. Ta phải tìm lại quê hương bằng sức sống mãnh liệt vì trong cơ thể ta đã luân lưu thêm dòng máu của anh em không còn. Quanh đây, những trường học, những bệnh viện, những đình làng, những phiên chợ, những cánh đồng sẽ được bắt đầu lại với những ngày nhân đạo - với một dân tộc nhân bản.”1
Xóm Đình An Nhơn, 27/3/2026
..................
1. Trịnh Công Sơn, Kinh Việt Nam, Nhân bản ấn hành, Sài Gòn, 1968, tr.3.