Mái tóc dày và đen của anh cứ muốn đội chiếc mũ cối cao lên. Khi đã mấp mé cái tuổi bốn mươi, không hiểu sao tôi hay chú ý đến những mái tóc. Nhìn mái tóc anh, tôi xuýt xoa một cách thành thật nhưng cũng hơi phảng phất buồn, buồn một nỗi tuổi tác đã phát quang một mảng lớn trên đỉnh đầu của tôi rồi.
- Có thể lên điểm tựa bằng hai lối. Lối trên đi qua trạm truyền thanh, dốc cao hơn nhưng thường ngắn hơn và nhất là được qua một thảm phong lan trên đỉnh núi. Lối dưới đường gần hơn nhưng đường lại dôi ra. Các thủ trưởng quyết lối nào ạ?
Đồng chí dẫn đường xốc lại quai súng nói với chúng tôi như vậy. Mấy anh em chúng tôi ý tứ liếc về phía trưởng đoàn. Còn trưởng đoàn thì lại đưa cái nhìn lưỡng lự về phía chúng tôi. Cả một thảm hoa phong lan trên đỉnh núi, một chi tiết không phải không thú vị. Chúng tôi cùng ngước lên vách núi. Kéo căng mãi da cổ ra, xuýt nữa tụt mũ ra sau gáy. Đâu nhỉ, cái thảm hoa phong lan dây hấp dẫn ấy ở vào đoạn nào trên dẫy núi răng cưa dựng đứng trước mặt? Đồng chí dẫn đường chỉ trỏ rất lâu nhưng chúng tôi không sao biết đích xác được cái chỗ cần phải tới. Bởi lẽ mây mù dày đặc đã làm cho các ngọn núi nhòe đi, chập dính lại với nhau, kéo thành một vệt xanh sẫm trước mặt. Anh bạn đứng cạnh tôi, được tiếng là người có thâm niên chỉ dẫn đường, sốt sắng đề nghị: “Cứ đi qua trạm truyền thanh. Tới thảm phong lan chúng mình nháy một pô mang về khoe với nhà cũng thích chứ”.
Anh nói rất hào hứng, nhưng lại chỉ được hưởng ứng một cách ậm ừ. Mang tiếng đi thực tế mà không biết hết cái khổ của bộ đội ra về nó cắn rứt thế nào. Nhưng chúng tôi, anh thì dạ dày chảy máu dăm ba bận, đi đâu cũng phải chằng một tấm đệm nhỏ trước bụng, anh thì tập tễnh khớp gối, khớp ngón, thành thử chỉ một chi tiết nhỏ cũng đẩy chúng tôi vào cái thế “lực bất tòng tâm” đến tội.
- Đồng chí ạ, chúng ta cứ đi lối nào thường ngày các đồng chí vẫn thường đi ấy. Bọn này muốn tận mắt thấy con đường hàng ngày các “vị” vẫn tiếp tế lên điểm tựa như thế nào.
Người dạ dày nặng nhất trong chúng tôi lên tiếng. Khôn ngoan. Nói thế tức là quyết rồi đấy nhưng vẫn không làm kém vẻ hăng hái đi. Thế là chúng tôi cuối cùng đã chọn một lối đi dài hơn để tránh lối cao hơn.
Trước khi đi, chúng tôi đã bỏ ra mấy ngày chuẩn bị. Nào xăng xe, gạo nước, bông băng, thuốc đỏ, súng ống... rồi còn ngồi vẽ ra cho nhau bao nhiêu tình huống để dự kiến đối phó. Ấy thế mà ngay buổi đầu lên đây đã làm lòi ra cái sự thiếu thực tế của mình. Dưới con mắt của các đồng chí ở đây, leo núi đá mà diện giày da là một sự trái khoáy không thể tha thứ được. Chúng tôi giờ đây đang thấm đòn vì sự lạc lõng của mình. Mới đi chưa được tiếng đồng hồ đã nghe đau rát khắp hai bàn chân. Đôi giày da ở dưới xuôi làm cho bước đi chắc chắn chững chạc bao nhiêu thì giờ đây cứ làm cho chúng tôi lẩy bẩy ra, bước không thật một tí nào.
- Chúng mình đang bắc thang lên hỏi ông trời đây các ông ạ.
- Thế này mà còn được gọi là bằng, thì lối đi qua trạm truyền thanh phải ác liệt lắm đấy.
Đi khoảng ba mươi phút “vũ khí chống rét” lục tục tháo ra. Áo bạt trước, rồi đến bi-dông, áo len dài ngắn, rồi cả khăn quàng nữa. Trong khi tay trái biến thành chiếc mắc áo di động, đứng hay ngã trông cả vào chiếc gậy của tay phải. Càng lên cao chuyện càng thưa dần. Cả những anh mồm mép nhất giờ cũng chỉ còn biết cắm cúi đi. Đi kiên nhẫn. Và thở. Ấy thế mà vẫn bị tụt lại phía sau đồng chí dẫn đường. Khoảng cách giữa chúng tôi và đồng chí ấy cứ bị kéo dài ra một cách đáng ngại. Chốc chốc anh lại chạy lộn xuống xách đỡ một chiếc cặp, ôm đỡ đống áo rét của đồng chí nào đó. Người nói năng hoạt bát duy nhất lúc này là anh, còn dân mồm mép chúng tôi chỉ ậm ừ đưa đẩy. Anh kể:
- Một tháng chúng em vẫn hai lần đi cõng gạo qua lối này. Cũng có nặng nhưng cũng sướng. Khổ nhất là khiêng. Vâng, có những thứ một mình không cõng nổi thì phải khiêng chứ anh. Khiêng thì thằng trên bước một bước đã đủ cho thằng dưới bị kéo vập mặt vào đá rồi. Còn khi thằng dưới bước lên thì lại đâm dúi thằng trên lăn uỵch xuống. Khổ thế. Dùng dà dùng dằng. Về sau thì rút được kinh nghiệm đi cùng đi, đứng cùng đứng. Khiêng máy chiếu phim cũng phải qua lối này anh ạ. Phải hai mươi lăm người mới khiêng hết các thứ lên. Bỏ công như thế mà xem phải bộ phim dở thật tiếc công lắm. Cái gì lên đây cũng thành ra của một đồng công một nén các anh ạ.
- Đồng chí quê Lập Thạch ở xã nào thế?
- Sao anh biết em ở huyện Lập Thạch?
- Cứ nghe nói là biết thôi. Quê mình hay nói “khuya” thành “khuê” mà.
- Chịu anh đấy. Em ở Yên Thạch. Nhà em đông anh em lắm, nhưng con trai thì chỉ có em thôi. Cả nhà quý em lắm. Em sống trên tay các bà chị. Nhõng nhẹo lắm anh ạ. Thế mà từ khi vào bộ đội em thành con người khác. Anh hỏi có nhớ nhà không à? Nhớ lắm chứ anh. Nhà em ở ngay bên bờ sông Lô. Lên đây sáng nào cũng ra sông Lô rửa mặt. Đêm đến nghe nước sông Lô chảy cứ như có người thúc bên sườn anh ạ.
- Lên đến đoạn yên ngựa kia ta dừng lại châm một điếu thuốc đã nhé. Leo dốc hơi thở phều phào, hít không được sâu nên thuốc hay tắt lắm.
Tôi nói tới đây, không hiểu sao đồng chí dẫn đường cứ ôm bụng cười. Tôi đi sau, nhìn cái quai súng rung ngất trên vai biết rằng anh đang thích chí lắm. Cũng nhờ có tiếng cười này mà từ đó về sau chúng tôi ăn nói với nhau đỡ cứng quều hơn. Tôi xin gộp câu chuyện nhát gừng dọc đường lên điểm tựa giữa tôi và Hải để bạn đọc hiểu ít nhiều về anh.
![]() |
| Viết ở thượng nguồn |
Hải, đồng chí dẫn đường của chúng tôi lên Hà Tuyên từ cuối năm 1978. Chính tại đồn cửa khẩu bên bờ sông Lô này anh đã được tận mắt nhìn thấy những người Hoa cuối cùng bồng bế nhau kéo sang bên kia biên giới như thế nào. Sau đó cửa khẩu bị đóng. Tiếp đến là những trận chiến đấu đầu tiên Hải kể: “Hồi ấy đồng chí đồn trưởng bây giờ còn là chuẩn ủy đội trưởng đội công tác quần chúng. Anh ấy là người Tày ở huyện Bắc Quang. Cưới vợ đã lâu nhưng “trục trặc kỹ thuật” gì đó chị vợ cứ ông ông ra không chịu đẻ. Hôm ấy chúng nó tràn vào mũi của em trước. Đánh tới xế chiều thì đồng chí Đừng vác trung liên tiếp lên chiếm mỏm núi đá trước mặt, nơi có xạ giới rộng. Anh Đừng xả trung liên búa bổ lắm. Còn em và đồng chí Hạng thì vòng sang hai bên làm hai cái ngạch trê bảo vệ anh. Thế rồi em bị thương, bị một cú gián tiếp thôi vì do đá văng vào đùi. Em cắt núi bò về đồn chính. Một là chân đau không đứng lên được để quan sát, hai nữa lại bò trong đêm tối, nên em bị lạc. Tới đêm thứ hai, lúc em đang nằm trong bụi lau thì nghe có bước chân người đi tới. Đã nghĩ là gặp địch, em rút quả lựu đạn phòng thân, nhưng lại là chị con gái, người Hmông, sau lưng địu một đứa con nhỏ, đầu quẹo sang bên sườn. Em đánh liều lên tiếng. Chị ấy lại ngỡ em là địch nên cắm cổ chạy. Đứa con giật mình khóc thét lên nghe thảm lắm. Em mới lên, không nói được tiếng Hmông, nên càng gọi chị ấy càng chạy dữ. Mệt mỏi và thất vọng, em cứ nằm liều chết tại chỗ. Đã thoáng nghĩ bụi lau ấy là nơi chấm dứt cuộc đời. Nói có vẻ văn hoa nhưng mà em nghĩ thế thật, anh ạ. Tới khuya trong lúc em đang thiếp đi thì có người lay dậy. Choàng tỉnh thấy hai đồng chí trong đồn, mừng muốn khóc được. Vừa nằm vào võng em thấy có người ghé đến, hóa ra vẫn chị địu con ban nãy. Em được cứu sống như thế đấy”.
- Chốc nữa cậu đưa bọn mình lên mỏm đá đặt trung liên nhé.
- Thì nó ở ngay dưới chân ta đây này. Anh ngạc nhiên lắm hả? Nó không còn là mỏm đá nữa. Pháo địch đã cào bằng mất rồi. Bây giờ các đồng chí ở đoàn B.13 đã trồng mỡ lên đó rồi.
Tôi chọn một mô đất cao để có thể bao quát cả khu vực vốn là trận địa cũ của đồn biên phòng. Những bức tường đổ. Những đoạn đường nhựa bị đào xới lở lói: Những thân cây cụt ngọn. Rải rác khắp các triền núi, những bông lau đột ngột phát lên trời những chiếc chổi trắng muốt. Những bông lau ấy và lúc nãy khi bíu tay vào đường dây truyền thanh để vượt dốc tới đây, sao gợi nhớ Trường Sơn quá. Ngày ấy tôi chỉ nhỉnh tuổi hơn Hải bây giờ một tí. Cứ tưởng những cái dốc ba thang, năm thang trên đường dây 559 ngày ấy là những cái dốc trận mạc cuối cùng. Đâu dè chỉ có ba năm sau ngày thống nhất, khi chống gối leo lên ngọn đồi Lê Đình Chinh phía trên đồn Hữu Nghị Quan tôi mới thực sự cảm thấy rằng, đời mình rồi còn phải vượt qua nhiều cái dốc khác nữa.
Từ điểm tựa trở về loáng quáng thế nào tôi lại ít được gặp Hải. Về đơn vị, ngồi vào đâu là khó dứt ra ghê lắm. Nói cũng được, không nói cũng được, cứ miễn là đến được với anh em. Hàng ngày ăn cơm, cõng nước, sinh hoạt, tập tành quanh đi quanh lại vẫn chỉ có ngần ấy người. Quen quá đi. Có mặt mình ít nhất anh em cũng cảm thấy buổi tối hôm ấy khác các buổi tối trước. Tôi ít gặp Hải vì đến đâu cũng bị dính với bao nhiêu thứ chuyện. Đến lúc sắp chia tay tôi mới quáng quàng đi tìm Hải. Lúc ấy Hải đang cùng một chiến sĩ khác xẻ gỗ trước cửa kho quân khí. Bút chì cài tai, áo quân phục phanh cúc để hở một tảng ngực chắc nịch như ngực chim ngói.
- Em đã có quyết định phục viên hơn tuần rồi. Hôm trước em xung phong đưa các anh đi là nhân thể lên thăm trận địa lần nữa. Nay mai về phía sau có nhớ nhưng không phải lúc nào cũng lên được.
- Còn hôm nay chắc là “ông phó mộc” tranh thủ truyền nghề lại cho anh em chứ gì.
- Em là thợ mộc bậc bốn ở xí nghiệp gỗ cầu Oai đấy anh ạ. Trước khi về, em muốn đóng tặng đơn vị chiếc bàn khách. Cái bàn các anh vẫn ngồi làm việc với ban chỉ huy đồn vốn kê ở phòng khách ngoại vụ. Trước khi biên giới đóng cửa, ta vẫn tiếp nó bằng chiếc bàn ấy. Chạm cốc có. Đấm bàn xô ghế có. Đấu lý chán thì nó nã pháo sang ta. Có anh nhà báo lên đây nói cái bàn ấy là bằng chứng một thời bang giao giữa ta và nó anh ạ. Em thì em muốn thay một cái bàn mới. Gỗ lát chính cống đấy. Hôm em đi cơ sở về, gặp một cây gỗ này nằm chỏng trợ dưới một khe suối. Lần sau các anh lên ngồi vào bàn mới cũng coi như gặp thằng em rồi.
Nắm chặt bàn tay ram ráp những bột cưa của Hải tôi xao xuyến nghĩ tới những bông lau phất trắng trên điểm tựa. Có thể coi đó là những chiếc bút lông của đất đang mải vẽ lên nền trời biên giới chân dung người lính của chúng ta?
Chúng tôi lên Hà Tuyên còn kịp với hoa đào. Sang tiết tháng Hai ta, khi hoa gạo bắt đầu lóe lên ở đầu cảnh thì hoa đào đã thưa nhạt hẳn trong các khu vườn ở dưới xuôi. Trong khi ấy ở cao nguyên Đồng Văn hoa đào vẫn còn ở thời kỳ sung mãn nhất. Người ta nói rằng hoa đào ở Đồng Văn đến sớm hơn và đi muộn hơn ở những nơi khác. Sau hai ngày đi đường, chúng tôi đến Đồng Văn vào một buổi sáng nắng tãi vàng trên các tràn đậu Hòa Lan và được trời đất cao nguyên thưởng ngay cho những phút thanh thản nhất ngắm hoa đào từ trên đỉnh núi cao. Tôi đã từng biết nhiều đá của Trường Sơn, đã từng theo vết chân của các chiến sĩ biên phòng đi suốt vùng núi đá của Lục Khu Cao Bằng, nhưng chưa ở đâu gây cho tôi cảm giác choáng ngợp như khi đứng dưới những ngọn núi đá của Đồng Văn Mèo Vạc. Chúng tôi tới đây sau khi đã vượt gần 400km đường núi với tốc độ chạy gằn của chiếc com măng ca vừa nhận về từ xưởng đại tu. Dù sao thì đó cũng còn là quá nhanh so với tôi. Để đến được những ngọn Pắc Sum, Bát Đại Sơn, Mã Pì Lèng tôi đã phải qua một hành trình gần hai mươi năm từ các trang sách địa dư, các bản đồ quân sự đến các trang thơ. Đứng trên những ngọn núi đá có độ cao trung bình trên một ngàn thước so với mực nước biển tôi cứ nghĩ như đang được đứng trên mái nhà của Tổ quốc mình để nhìn xuống chiếc sân mênh mông là đồng bằng Bắc bộ.
Phải đợi đến lúc được ngắm cành đào đầu tiên ở cổng trời Quản Bạ, tôi mới hiểu được hết câu nói của đồng chí đại tá chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên trong buổi tiếp chúng tôi:
- Các đồng chí lên Hà Tuyên lần này thật đúng lúc.
Đêm đó trong căn phòng xinh xắn nhìn ra bờ sông Lô, tôi đã nói với đồng chí chỉ huy trưởng, với hoa đào thì chúng tôi lên còn kịp nhưng với các đồng chí chiến sĩ Hà Tuyên thì chúng tôi xin nhận lỗi là đã đến quá muộn mằn. Bởi vì, bốn năm đã trôi qua kể từ ngày 17 tháng 2 năm 1979 chúng tôi mới được hưởng niềm hạnh phúc ngồi quanh bếp lửa cùng các chiến sĩ trên mỏm đất cực bắc của Tổ quốc. Những xạ thủ trung liên, B.41... ngày ấy, giờ đã trở thành những cán bộ chủ chốt của đơn vị. Còn những đồng chí cán bộ, thì lại được cử đi đảm nhận những trách nhiệm mới cao hơn. Thêm bao nhiêu đứa con của mọi miền lại đến với cao nguyên, sống và chiến đấu trên đỉnh núi mây mù.
Đã bốn năm hoa đến nở trên mộ người anh hùng Lộc Viễn Tài. Chiến công của anh gắn liền với chiến công của các chiến sĩ đồn biên phòng Lũng Làn anh hùng, gắn liền với từng tấc đất hai bên bờ sông Nho Quế. Các chiến sĩ trẻ trước khi lên điểm tựa công tác đều đến đặt hoa lên mộ anh. Những cán bộ Mèo Vạc được thuyên chuyển đến địa bàn mới cũng đến vĩnh biệt anh bằng những đóa hoa rừng. Những bông hoa của cao nguyên núi đá nhiều màu sắc nhưng cùng có một tiếng nói chung: Xin anh cứ yên nghỉ, trận địa vẫn được giữ vững!
Chúng tôi lên Mèo Vạc vào dịp các trường học đã qua vụ nghỉ đông. Thời tiết ấm dần. Các em lại đến lớp. Sáng sáng các em như từ những đám mây bước ra để đến với lớp học cũng mịt mờ mây phủ. Một buổi sáng cô giáo Bùi Thị Lan dẫn các học sinh của mình đến đặt hoa trên mộ người anh hùng Lộc Viễn Tài, đồn trưởng đồn biên phòng Lũng Làn. Chính tại đây với giọng nói nghẹn lên vì xúc động cô giáo chậm rãi kể cho các em nghe về chiến công của người đã khuất. Trong nhiều trận chiến đấu không cân sức bên dòng sông Nho Quế, đồng chí Lộc Viễn Tài đã chỉ huy các chiến sĩ ghìm địch dưới chân núi đá. Đối với chúng, cái khe núi trước cửa đồn Lũng Làn ngày ấy là thung lũng của tiếng thét khiếp sợ, đó là thung lũng máu của bọn bành trướng đã phải trả cho tội ác xâm lược của chúng. Có trận đánh chỉ có Lộc Viễn Tài cùng hai tay súng khác chọi nhau với cả một tiểu đoàn địch. Sau nhiều đợt bị đánh bật xuống chân núi, lần cuối cùng chúng dồn quân tăng viện, chia làm ba mũi xông lên với ý định bắt sống cả ba người. Lộc Viễn Tài chia hỏa lực ra làm ba hướng, xé địch ra mà đánh. Địch tràn lên mỗi lúc một đông, Lộc Viễn Tài xách trung liên bung ra khỏi công sự xả đạn vào đội hình địch. Khi những tên bành trướng cuối cùng tháo chạy khỏi trận địa, đồng đội tìm thấy Lộc Viễn Tài hy sinh bên cạnh khẩu trung liên bắn đến đỏ nòng...
Buổi sáng ấy, từ nghĩa trang liệt sĩ trở về, cô giáo Bùi Thị Lan nắn nót viết lên bảng dòng chữ “Quê ta có người anh hùng” mở đầu cho một bài học mới. Các em trai, em gái người Hmông, người Suồng, người Tày... cắm cúi chép bài với sự chăm chú khác thường. Bài học cứ thế tiếp tục trong tiếng giảng bài ấm áp của cô. Trong khi đó những ngọn núi đá phía Sơn Vĩ cứ in sẫm trên nền trời. Trong trí tưởng tượng của các em đó là hình ảnh các chú bộ đội đang đứng gác cho buổi học của các em. “Quê ta có người anh hùng” - bài học sẽ theo các em lên những đỉnh núi, ra bến sông, sẽ cùng các em vào rừng hái nấm, xuống các thung lũng bẫy chim, sẽ từng ngày thủ thỉ với các em những gì sâu nặng nhất.
“Quê ta có người anh hùng” - Hàng sa mu nhắc lại.
“Quê ta có người anh hùng” những vách đá truyền đi.
Bốn năm đã trôi qua, tám cô gái người H’mông gánh nước nấu cơm cho các chiến sĩ đồn biên phòng Lũng Làn đánh giặc ngày ấy, giờ đây đã đến làm dâu ở những bản mới. Nhiều cô có chồng đi xa và bây giờ các cô đang bảo nhau gắng học thêm cái chữ để đọc cho nhau nghe những lá thư gửi về từ Mộc Châu, Quảng Ninh, Nghĩa Lộ... Bao nhiêu thay đổi đã đến với những số phận khác nhau, nhưng tình cảm của các cô, của dân bản thì mỗi ngày mỗi thắm. Có thể trong các buổi chợ phiên vẫn họp đều đặn vào các Chủ nhật, chúng ta không gặp đủ mặt các cô, nhưng những buổi đi đắp đường, đào công sự... thì không cô nào vắng mặt. Có lẽ chính vì thế mà những núi đá mang một dáng vẻ trầm ngâm khác thường. Và có lẽ chính vì thế mà qua những trận bão tuyết phủ trắng cả cao nguyên vừa qua, các chiến sĩ trên các điểm tựa vẫn cảm thấy ấm lòng.
Người kể chuyện với chúng tôi về các cô gái là đồng chí chỉ huy kỳ cựu nhất của ban quân sự huyện Mèo Vạc. Quê anh ở một làng nhỏ thuộc huyện Tam Thanh, Vĩnh Phú. Tháng Tám năm 1945 anh nhập ngũ khi vừa bước sang tuổi mười lăm. Cậu học sinh trường tổng ấy trong buổi sáng về làng đã dám cầm gậy phang một tên phó lý khi tên này đến hạch sách thuế thân và trắng trợn cướp đi đôi độc bình men hồng ngọc của nhà cậu. Cả gan đến thế thì không thể sống ở làng được nữa. Cậu liền nhẩy lên Phú Thọ sống lang thang trong các chùa chiền, miếu mạo. Đến một buổi sáng, anh gặp một đoàn người vác cờ đỏ sao vàng đi cướp chính quyền. Thế là anh nhập ngũ. Liên tục từ đó đến nay, lúc là giảng viên trường Đảng, cán bộ tuyên huấn của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, cán bộ cải cách ruộng đất, chấn chỉnh tổ chức, tham gia tiểu phỉ Đồng Văn, chỉ huy trưởng Ban quân sự huyện,... mỗi lĩnh vực công tác là một dịp để anh chứng tỏ khả năng nhiều mặt của mình. Người cán bộ từng trải ấy giờ đây đang ngồi kể với chúng tôi những biến cố hơn hai mươi năm của đất Hà Giang cũ. Anh nhắc đến từng tay súng dân quân ở cơ sở với sự thông thuộc như người trong gia đình của họ. Không một ngọn núi đá nào của Đồng Văn - Mèo Vạc không in dấu chân anh. Không có ngọn suối nào không một lần soi bóng anh. Bao nhiêu lớp chiến sĩ do anh huấn luyện đào tạo đã trưởng thành, có người đang giữ những chức vụ cao hơn anh. Anh nhắc đến họ với niềm tự hào như các thầy giáo nhắc đến những trò giỏi của mình. Năm đi để dấu lại, mái tóc của anh đã bạc rồi. Khi anh hơ tay lên bếp lửa tôi có cảm giác hơi ấm từ hai bàn tay ấy đang truyền sang mình.
Lại nhớ hôm chúng tôi mới đến Mèo Vạc. Khi còn ở Hà Giang chúng tôi đã được các đồng chí trong bộ chỉ huy quân sự tỉnh kể cho nghe nhiều chuyện về anh. Muốn tìm hiểu phong tục người Hmông ư? Tốt nhất là hỏi ông Đương huyện đội Mèo Vạc. Muốn biết chuyện tiễu phỉ Đồng Văn năm 1959 ư? Cứ túm áo ông ấy! Còn những cuộc tranh chấp biên giới giữa ta và nó trước ngày 17 tháng 2 năm 1979 thì chính ông Đương là một cuốn sử sống. Chao ôi, cứ nghe giới thiệu đã mê rồi. Cho nên vừa đặt chân đến Mèo Vạc là chúng tôi tìm gặp anh ngay. Rủi quá hôm ấy anh lại không có nhà. Đồng chí chỉ huy trưởng Ban quân sự huyện dẫn chúng tôi đến thăm rặng đào anh Đương trồng những năm đầu lên Hà Tuyên công tác. Đó là những cây đào cổ thụ cành lá buông rợp cả lối đi. Dưới gốc đào là những đõ ong làm bằng những hòm gỗ thông. Những đàn ong bay dập dìu qua vai chúng tôi trở về tổ ấm của chúng. Mùa xuân là mùa nhiều hoa quý nhất của Mèo Vạc. Đó là mùa anh Đương bấm bụng mừng thầm có thêm chút mật làm quà cho các vị khách ở dưới xuôi lên.
Đi dạo quanh gốc bàng một lượt, chúng tôi vào căn phòng của anh Đương. Đồ đạc thật đơn giản. Một chiếc giường cá nhân quen thuộc. Một chiếc tủ nhỏ ghép bằng thùng đạn. Phía trên là giá đựng ba lô. Người cán bộ ấy hơn ba mươi năm tại ngũ vẫn giữ tác phong của một người lính ở đơn vị.
Chiều hôm ấy, khi chúng tôi đang làm việc với đồng chí chỉ huy trưởng thì anh Đương từ cơ sở về. Đó là một người đàn ông nhỏ nhắn tuy đã gần tuổi sáu mươi nhưng nói năng đi đứng vẫn còn rất nhanh nhẹn. Vào bàn nước, anh cho chúng tôi biết đợt tuyển quân đầu năm nay Mèo Vạc là một trong những huyện hoàn thành kế hoạch sớm nhất của tỉnh Hà Tuyên. “Làm công tác tuyển quân trên này là làm công tác vận động với từng người mẹ, từng người vợ, các đồng chí ạ”. Anh Đương nói với chúng tôi như vậy. Giọng anh nhỏ nhẹ mà ấm. Đêm đó khi ngồi bên bếp lửa, anh mới cho chúng tôi biết điều tâm sự này:
- Tổ chức đã mấy lần định điều mình về phía sau cho đỡ vất vả hơn, nhưng mình đều xin ở lại. Bởi nếu mình đi nơi khác, đồng chí khác về đây, cả hai đều phải mò mẫm một thời gian mới làm được việc. Chỉ còn ít năm nữa đến tuổi hưu, mình muốn sống trọn đời quân ngũ ở Đồng Văn - Mèo Vạc này.
Chuyện nọ dọ chuyện kia, đêm đã khuya anh Đương vẫn còn say sưa nhắc đến những kỷ niệm của anh với các nhà văn khi lên thâm nhập thực tế ở Đồng Văn, Mèo Vạc. Anh kể tên từng người, nhắc đến những tên sách rồi hỏi thăm con cái đời sống gia đình... Bao nhiêu việc đã đến trong cuộc đời, bao nhiêu vui buồn đã trải, nhưng anh Đương không quên ai.
Sáng hôm sau anh Đương vội vàng đánh thức chúng tôi sớm để tạm biệt. Dân quân các xã đang gấp rút chuẩn bị lên mặt đường. Bao nhiêu công việc đang chờ anh trên tuyến đường sắp mở. Bắt tay chúng tôi, anh nói bằng một giọng rất vui:
- Đường làm xong, chúng ta sẽ rút ngắn khoảng cách từ điểm tựa về phía sau. Thế thì chiến sĩ ta vui lắm.
Nhìn bóng anh thoăn thoắt bước lên sườn núi tôi lại nhớ đến cành đào đầu tiên đón khách ở cổng trời Quản Bạ. Những bông hoa dạn dày sương tuyết làm ấm cả cao nguyên.