Tôi bần thần nhìn cây đào huyền uốn lượn cầu kì, những chồi lá nõn xanh he hé bên những đài hoa đã rụng cánh. Phan ngừng tay để nghe điện thoại. Có một tour Tây Bắc năm ngày. Tôi thoáng ngạc nhiên bởi trong lịch của văn phòng thì tuần tới mới có một tour đi Sa Pa của cậu Trần. Nhưng tôi cũng chẳng thắc mắc vì biết đâu có tour đột xuất. Nhìn theo chiếc ba lô màu xám sau lưng chồng, tự nhiên tôi có cảm giác nặng nề như chính mình đang cõng một tảng đá.
![]() |
| Minh họa Đào Quốc Huy |
Cây đào huyền ấy Phan mang về sau cả ngày lượn khắp các nhà vườn ở Quảng Bá. Anh bảo thử một năm chơi cây xem có “khởi sắc” không. Lựa được cây đào huyền ưng ý khó hơn lựa cành; phải có kích thước phù hợp với cách bài trí của không gian phòng khách nhỏ gọn của căn chung cư mà vẫn đủ độ uốn lượn đẹp mắt. Nhớ thời con gái khi còn ở nhà trọ, có cậu trai săn đón hớn hở cùng tôi đi chợ hoa, ngắm nghía cả buổi để chọn được cành đào huyền ưng ý, hỉ hả, náo nức. Nhưng vài tuần sau, khi phải từ chối những cuộc gọi “khai xuân” để đến hì hụi cưa cắt dọn dẹp thì bao giờ cũng buông lời càu nhàu: “Em sinh ra ở giữa vùng đất đào, ngắm đào từ bé đến giờ chưa chán hay sao mà giờ còn mê đào vậy nhỉ?” Chỉ mấy lời vô tình ấy thôi cũng đủ để kết thúc một cuộc tình, những cuộc tình hời hợt chẳng bao giờ qua nổi một mùa hoa.
Nhìn những cánh đào phai rơi lác đác trên sàn gỗ màu nâu cánh gián, tự dưng tôi cồn lên cảm giác nhớ nhà. Cứ tưởng sau những bầm giập bon chen nơi phồn hoa lấp lánh, sau những hoài nghi âm ỉ về chính nơi mình sinh ra khiến tôi trở nên chai lì, vô cảm. Vậy mà nhìn những cánh đào phơn phớt còn luyến tiếc nhụy vàng, lòng tôi se sắt như bông tuyết đầu mùa đậu trên bờ tường đá. Hai năm rồi tôi không về quê dịp tết. Người Mông quê tôi ăn tết cổ truyền từ đầu tháng Chạp, trước Tết Nguyên đán của người Kinh một tháng. Mẹ tôi và dì Du sẽ cắt những dải vải đỏ đợi bố tôi về buộc vào cổ từng con dê, con trâu, từng cán cuốc chuôi dao trong nhà. Phải tính đủ số dải vải cần buộc, cấm kị được thiếu sợi nào. Còn nếu thừa thì trong nhà ai cũng phập phồng đợi chờ có khách quí về chơi. Có năm tôi dẫn về một cậu bạn trai, hào hứng kể về những phong tục đẹp của quê mình. Mẹ và dì Du mừng quýnh, suốt ngày líu ríu cơm nước. Còn bố tôi, đến bữa lắc lắc chai rượu ngô, cặp mắt màu nâu ánh lên những tia dò xét. Ban đầu cậu trai cũng háo hức lắm nhưng rồi chỉ ở nhà tôi được một đêm, không chịu nổi cái rét thấu xương, ngồi bên bếp lửa mà hai hàm răng vẫn va vào nhau cầm cập. Sáng sớm, bố tôi ngồi hút thuốc ở bậu cửa, cậu trai thành phố lụng bụng cất lời chào rồi đi như lao xuống triền dốc, bố quay vào cười khẩy: “Cái ngữ đàn ông móng tay để dài như vượn, bàn tay nhỏ thó mềm nhẽo ấy chỉ làm khổ đàn bà thôi.” Tôi đứng tựa lưng vào cửa gỗ, lơ đãng nhìn những đụn mây cuộn tròn trên đỉnh núi trước mặt, ngẫm nghĩ lời bố nói, gật gù và cười thầm. Chỉ có Phan ở lại nhà tôi cả tuần liền. Tới bữa cơm, bố tôi lại rót cho Phan một chén rượu vàng óng, ánh mắt ấm áp tin tưởng mà lại nghiêm nghị như nhắc nhở: Cấm được làm khổ con gái tao.
Lần nào tôi về quê, dì Du cũng dúi vào ba lô một chai rượu bảo mang đi uống cho đỡ lạnh. Mấy chai rượu to bé lộ cộ khiêm tốn nấp sau những chai vang ngoại. Cuộc sống của chúng tôi là những bữa ăn nhanh, thứ rượu vàng sánh thơm dìu dịu ấy bỗng hóa lạc lõng vô duyên. Chỉ những lúc gió mùa ào về đột ngột, bất chợt thấy nhớ cái lạnh vùng cao thì tôi mới mang ra rót một chén nhấm nháp. Hà Nội làm gì có mùa đông. Nhà sát nhà, phố nối phố, người ken người, phòng ở là cái hộp bê tông giữa lưng chừng trời với ô cửa kính trong suốt tạo cảm giác chênh vênh như đứng trên dốc núi nhưng lại kín bưng bí bách. Với tôi, Hà Nội chỉ lạnh vì những ánh mắt sắc như dao ngấm nguýt sau lưng, những điệu cười giả lả cầu toàn, những vòng tay ôm ấp đổi chác. Nhiều lần Phan bảo: “Kiếm đủ tiền, chúng ta sẽ về quê thành lập công ti, làm du lịch ngay trên mảnh đất của mình, làm có bài bản chứ không manh mún tự phát. Mình sẽ trồng cả rừng đào, chỉ để chụp ảnh thôi chứ không bao giờ cắt cành bán cho xe buôn.” Tôi chỉ thở dài: “Bao nhiêu là đủ? Mà đủ rồi khi về quê chắc gì còn muốn làm du lịch nữa…”
Mấy năm trước, tôi thường trở về nhà kết hợp với một tour nào đó. Có khi dẫn đoàn đi qua con đường Hạnh Phúc, biết nhà mình ở phía sườn núi bên kia mà đành lòng lướt qua, miệng vẫn phải cười thật tươi, thuyết minh thật hấp dẫn về cái tên đường mĩ miều ấy, ruột gan cứ thắt lại. Khi khách đã yên vị trong một nhà trọ ở thị trấn, tôi mới tranh thủ bắt xe ôm về thăm nhà. Tôi đi và về thất thường, có khi ở nhà mấy tuần đến nỗi mẹ tưởng tôi bị đuổi việc, cũng có khi vừa về chiều hôm trước, người còn nồng mùi xăng xe, sáng hôm sau đã lóc cóc dậy đi từ lúc sương còn bện vào đất. Dường như với tôi, đi và về chỉ là sự xê dịch thân xác từ nơi ngột ngạt đông đúc đến nơi heo hút mênh mông ấy. Căn nhà gỗ chênh vênh bám vào vách núi hay căn chung cư lấp lánh tiện nghi, tôi chẳng thể định hình được trái tim mình thực sự gửi gắm ở nơi nào. Những cành đào huyền uốn lượn cầu kì được nuôi bằng dưỡng chất trong chiếc bình gốm sang trọng hay những vạt đào xù xì dồn tụ nhựa sống suốt mùa đông đợi khi mùa xuân đã qua đi vơi nửa mới bất ngờ bung rộ sáng bừng cả triền núi; đâu mới là cái đẹp để tôi miên man tự hào…
*
Xe ôm dừng ở đầu dốc, nơi có những cây đào đang độ rực rỡ. Thoáng thấy bóng tôi, dì Du hối hả từ dưới thung lên đón. Bao nhiêu năm nay, lần nào tôi trở về, người đầu tiên đón tôi cũng là dì. Tôi tựa lưng vào một gốc đào và thở dốc, dì nhìn tôi như muốn hỏi sao Phan không về cùng. Tôi định kể với dì về chuyện mâu thuẫn của vợ chồng mình mới đây, nhưng lại im lặng. Vẫn chỉ là chuyện con cái. Ngay bữa cơm ngày mùng một Tết, mẹ chồng tôi đáp lại lời chúc của chúng tôi bằng một tối hậu thư: “Tôi đợi anh chị hết năm nay, nếu không có bầu bí gì thì để tôi còn tính.” Da mặt tôi tê xuội đi. Phan uống mấy chén liền, tai đỏ lựng lên. Có vẻ như Phan bắt đầu thất vọng về tôi. Anh muốn tôi yên vị với công việc ở văn phòng nhưng tôi nhất định không nghe. Hai vợ chồng cứ thay nhau đi tour. Căn nhà lạnh ngắt chẳng mấy khi có mùi bếp núc. Tôi cũng lo những mâu thuẫn âm ỉ dồn tụ sẽ có ngày bục vỡ. Phan đã cãi cha cãi mẹ để lấy tôi. Vậy mà tôi chưa làm được điều gì để chứng tỏ cho bố mẹ chồng nhận ra sự chọn lựa của Phan là đúng. Trong hôn nhân, ranh giới đúng sai thật mong manh. Sau những hoang hoải chênh vênh, tôi mới nhận ra nhà mình là bức tường vững chãi để tôi tựa lưng vào, hít thở một hơi thật sâu để đủ dũng khí mà bước tiếp.
Dì Du chìa tay xách đỡ tôi cái ba lô rồi lật đật đi trước, cái đầu vấn khăn thổ cẩm cung cúc chúi xuống. Cái dáng đi chắm chúi xuống ấy là của đàn bà Mông. Dì không phải đàn bà Mông nhưng qua bấy nhiêu năm gò người leo núi nên cũng cắm cúi khọm lưng như thế. Dáng đi của dì như một dấu hỏi nhỏ thó trên con đường uốn lượn bên vách núi. Bao nhiêu bước chân đã đi qua để khiến con đường mòn nhẵn như thế? Là những bước chân lang bạt kì hồ của bố, những bước chân bậm bịch hờn lẫy của mẹ hay những bước chân miên mải đợi chờ của dì Du?
Con đường mòn dẫn lên một khoảnh sân nhỏ có hai mái nhà lợp ngói âm dương xám như màu đá. “Nhà trên” là nhà của bố mẹ tôi, “nhà dưới” là nhà của dì Du và cu Sìn. Ở giữa hai nhà có cây đào phai, cành tỏa ra hai bên trông có vẻ công bằng san sẻ nhưng cũng giống như sự chia phôi li tán. Người ta cứ bảo vùng cao nguyên đá này cheo leo heo hút quá nên mùa xuân cũng đến muộn. Khi những cành đào từng làm đẹp cho phố phường Hà Nội đã rụng hết hoa, trơ trụi lổng khổng trên các xe rác, thì những cây đào trên đồng rừng mới trổ hoa sặc sỡ. Khi ở miền xuôi, tết đã lùi xa nhường lại cho chuỗi ngày tất bật, thì nơi đây xuân mới phơi phới bung tỏa. Và hai mái nhà xám ngắt này, khi tôi trở về mang theo chút sắc màu phố thị thì hình như mới xao động lên đôi chút.
Tôi định ghé qua chái nhà múc nước rửa tay như mỗi lần đi xa trở về thì dì Du khẽ nhắc:
- San vào nhà rửa mặt đi, nước ấm dì đã đặt trên bếp ấy.
Tôi cúi đầu không đáp, uể oải bước lên cầu thang lên “nhà trên”. Bố tôi ngồi ngay bậu cửa, hì hụi đẽo gọt một đoạn gốc cây liêng. Chẳng biết từ bao giờ bố có niềm đam mê gọt đẽo những mẩu gỗ xù xì thành các hình thù dễ thương như thế. Mẹ tôi ngồi bên bếp lửa, bên cạnh là cái thúng thêu với những cuộn chỉ màu sặc sỡ, gương mặt lặng ngắt như một pho tượng.
- Con San nó về kìa chị… - Tiếng dì Du e dè.
- Ừ, cũng biết đường về rồi đấy à? Cái chân cứ lang thang khắp nơi, rồi có ngày quên cả mấy bậc cầu thang mòn lõm này thôi.
Tôi biết mẹ lại giận dỗi. Mẹ nói tôi nhưng thực ra là nói bố. Bao nhiêu năm nay, bố tôi lang bạt khắp các nẻo đường. Khi cái chân còn khỏe, mẹ tất tả theo bố lên những chuyến xe khấp khểnh, mang măng khô thảo quả về xuôi, mang quần áo vải vóc từ biên giới về chợ thị trấn. Vài chuyến đi bố mới đưa cho mẹ một nắm tiền và mấy xâu thuốc bắc. Khuôn mặt mẹ có giãn ra đôi chút, mắt lấp lánh, nhưng mái tóc đã bạc rồi thì không đen lại được. Dấu ấn của cô gái đẹp nhất bản chỉ đọng lại trong ánh mắt thăm thẳm của mẹ và những lời thở dài của mấy người họ hàng.
*
Bố tôi sinh ra từ một cuộc tình lãng mạn hay từ một sự đổi chác của cô sơn nữ với du khách người ngoại quốc thì cả bản này không ai dám chắc. Có bao giờ người ta lí giải được ngọn nguồn của những giây phút thăng hoa. Chỉ biết bố lọt lại sau một cuộc chạy trốn. Người đàn bà tội nghiệp ấy đã biến mất khỏi bản làng mù sương dưới thung lũng Nà Sản, bỏ lại đứa trẻ khóc chưa tròn tiếng ở ven đường. Người đàn ông góa vợ họ Vừ mang bố về nuôi bằng sữa dê và mèn mén pha loãng với nước sôi. Thế mà bố cứ lớn như đám cỏ voi dưới thung, như quả lê gặp khi trời nắng, vóc dáng vạm vỡ, sống mũi thẳng như sống dao, đôi mắt màu nâu mênh mang.
Bố đi xe hàng rong ruổi khắp nơi. Mẹ chấp nhận coi mình như cái cầu thang cả đời câm lặng, chỉ xôn xao khi có những bước chân chắc nịch của bố trở về. Cái trong trẻo của khí trời mây núi, cái say liêng biêng ngây ngất của rượu ngô, đôi mắt đen rợp của mẹ cũng không giữ được chân bố ở yên một chỗ. Bố vẫn miệt mài trên bao cung đường khi thì gập ghềnh hiểm trở, lúc lại bằng phẳng nhạt nhòa chỉ mong tìm được người mẹ của mình.
Bố mang dì Du về sau một chuyến đi dài. Cái tin ấy lan nhanh như gió tràn xuống thung. Vài người lấy cớ lên bán đồ khô cho bố tôi để ngó nghiêng xem người đàn bà ấy có biết tước lanh, xay ngô, nấu mèn mén, ủ rượu hay không. Người thì đoán bố xin được bùa yêu của người Mường ở Hòa Bình nên dì Du mới theo không về như thế. Có người lại bảo bố nhiều tiền nên mua được dì từ nhà thổ bên kia biên giới. Nhưng tất cả mọi người đều lấy làm lạ khi thấy mẹ điềm nhiên chấp nhận không một lời phàn nàn. Mẹ và dì Du sống rất hòa thuận với nhau. Từ ngày có dì Du, và nhất là khi dì sinh được cu Sìn thì những chuyến đi của bố ngắn dần. Nhưng tiếng thở dài của mẹ lại như dài thêm, nằng nặng bện vào tấm thảm ở góc nhà.
Tôi được dì Du chăm bẵm từ bé. Tôi quen hơi bén tiếng của dì Du có khi hơn cả với mẹ. Thi thoảng có người trong bản ghé qua uống rượu với bố còn bảo tôi có nhiều nét giống dì Du hơn là giống mẹ. Mẹ tôi nghe thấy thế thì mặt đỏ bừng lên: “Chú Phử nói sai rồi, lại say phải không?” Rồi mẹ bế thốc tôi chạy xuống cầu thang, đi xuống nhà dưới ấn tôi vào tay dì Du: “Lần sau có khách, dì đừng cho con San lên nhà trên. Cái bản này nhiều người xấu miệng lắm.”
Mười chín tuổi tôi xuống Hà Nội học đại học. Ra trường, tôi đi khắp các ngóc ngách của dải đất hình chữ S này đâu phải để cống hiến tuổi thanh xuân cho ngành du lịch như mấy lời hoa mĩ từng nói với sếp. Đẹp gái như tôi, ở lại chính mảnh đất này vẫn có thể làm du lịch được mà. Nhưng tôi không muốn cuộc đời mình sẽ giống như đám chị Mỷ, chị May, cái Mùa, cái Síu hay những cô gái đẹp ở bản Xế Mần này. Họ nói tiếng Kinh còn chưa sõi nhưng nói tiếng Anh thì liến láu, mắt đen láy lúng liếng, má hồng như quả sơn tra, môi đỏ miệng tươi như cánh hoa tớ dày, dẫn đoàn khách ngoại quốc đi chợ tình tối thứ bảy, uống rượu ngô đến lúc say liêng biêng thì dìu khách về những nhà sàn nhỏ tháu kín bưng dưới thị trấn, sáng chủ nhật hỉ hả tấp tểnh về nhà với mấy đồng đô la lạnh ngắt, để rồi chín tháng sau có những đứa bé mắt xanh lơ tóc hoe vàng chào đời. Tiếng khóc oe oé của chúng không giống đám trẻ người Mông, nhéo nhẳng và lạc lõng.
Dì Du từng kể với tôi về tuổi thơ bất hạnh của dì trong thân phận con nuôi, mười bảy tuổi bị bố nuôi cưỡng bức rồi rắp tâm bán cho một “mẹ mìn”. Dì đã trốn thoát và may gặp được bố tôi. Dì mong được mẹ đồng ý cho mình gá nghĩa duyên mọn với bố vì chẳng thể trở về cái nơi oan nghiệt ấy. Mẹ nghe chuyện chỉ biết thở dài. Còn bố thì bảo hãy coi mình như một cành đào được chặt ra từ một gốc đào nào đó ven đường, cứ nở hoa cho hết kì rồi rụng. Nhưng nhìn ánh mắt vời vợi của dì Du và nghe tiếng thở dài cố nén của bố, tôi hiểu chẳng dễ gì họ nguôi được nỗi niềm đã ghim chặt trong tim bấy lâu nay…
*
Tôi ở nhà đến ngày thứ năm thì sếp gọi điện bảo về văn phòng ngay để dẫn tour Sa Pa thay cho cậu Trần vì ông bố ở quê bị đột quỵ. Tôi lúi húi thu dọn đồ đạc. Dì Du tiễn tôi hết con dốc. Chẳng hiểu sao lần này dì không bảo tôi mang theo rượu ngô, chỉ đưa cho tôi chiếc khăn thổ cẩm để quàng thêm cho đỡ lạnh rồi đứng ngây nhìn tôi leo lên chiếc xe ôm đỏ chót. Bóng dì nhỏ dần lẫn vào chiều chạng vạng.
Hoàng hôn buông nhanh như vết mực loang, chiếc xe ôm mất lái lúc ôm cua trượt nhào xuống triền dốc. Trời đất quay cuồng mù mịt, tôi chỉ kịp nhìn thấy máu đang rịn ra từ bắp đùi mình rồi ngất lịm đi. Tỉnh dậy, tôi thấy mình ở bệnh viện tỉnh. Giường bên, dì Du gương mặt xanh như tàu lá, mắt thâm quầng trũng sâu, còn bố ngồi lặng phía cuối giường. Không có mẹ ở bên. Như hiểu ý tôi, bố khẽ bảo: mẹ vừa bị cảm, ngày mai khỏe sẽ xuống. Tôi chợt thấy tủi thân, quay mặt vào tường, bặm môi để ngăn không cho nước mắt chảy ra. Cô điều dưỡng luống tuổi vào thay rửa vết thương cho tôi và bảo: “May mà cháu được mẹ truyền máu kịp thời nên nhanh hồi tỉnh. Nhưng cái thai bị động, cần phải ở lại để theo dõi thêm.” Rồi cô ấy quay sang dì Du: “Mẹ vừa truyền máu, cũng cần nghỉ ngơi tĩnh dưỡng mới chóng hồi sức, các việc cứ để bố chạy đi chạy lại làm cho.”
Tôi bỗng khóc òa lên. “Được mẹ truyền máu?” “Cái thai?” Sao mọi sự đến với tôi bất ngờ thế này? Tiếng bố trầm đục mà da diết như những tiếng cầu kinh sám hối. Hóa ra tôi không phải là con của mẹ mà là con ruột của dì Du. Mẹ tôi không thể đậu thai dù đã uống biết bao nhiêu vạt thuốc lá của ông mo Chải rồi lại đi khám chữa ở khắp các bệnh viện dưới xuôi. Mẹ đành lòng để bố đưa dì Du về khi dì đã mang trong mình giọt máu của bố. Mẹ sợ nếu không chấp nhận thì biết đâu bố sẽ bỏ mẹ ở lại nơi núi rừng mờ sương để về xuôi. Dì Du thì lặn lội theo bố về căn nhà như cái tổ chim gá vào vách đá. Hai người đàn bà cùng yêu một người đàn ông mà vẫn có thể nhường nhịn nhau, chẳng ai dám giữ riêng cho mình. Dì Du cứ ở yên trong nhà. Cách vài ngày mẹ lặn lội xuống chợ phiên mua thịt lợn tươi về kho với cá suối cho dì ăn. Mẹ gò lưng leo núi nhưng hễ trông thấy bóng người trong bản thì giả bộ đứng lại ưỡn người ra khoe cái bụng tròn mẩy, bên trong là cái gối mềm cuộn chặt được chằng buộc kĩ càng bằng một chiếc khăn thổ cẩm dài. Tôi ra đời được ba tháng thì dì Du lại thay mẹ đi chợ phiên. Có người trong bản kéo dì lại hỏi han, dì ngượng ngùng nói phải vội về chăm “chị gái” ở cữ rồi cắm cúi bước đi, khuôn mặt trắng xanh dấp dính nước, không biết là mồ hôi hay nước mắt.
Bao nhiêu năm nay, tôi cứ rong ruổi đó đây âm thầm tìm manh mối về nguồn cội của bố và cả của dì Du nữa. Tôi biết chân bố mỏi rồi nhưng khát khao tìm được nguồn cội vẫn âm ỉ cháy như bếp lửa giữa nhà. Bố không biết mặt mẹ mình. Còn tôi lớn lên từ những giọt sữa giấu giếm của dì Du mà chẳng thể gọi một tiếng “mẹ”. Tôi nhớ có lần mẹ bảo với bố rằng cứ để con San gọi “mẹ Du”. Nhưng bố lắc đầu. Vì bố yêu mẹ, muốn tôi gọi là “dì Du” cho mẹ đỡ tủi thân. Bố mang dì Du về căn nhà chênh vênh nơi lưng chừng sương gió ấy để tạo thành một gia đình, để chẳng ai phải sống trong tình cảnh bị bỏ rơi. Mẹ vì yêu bố và cảm thương hoàn cảnh của dì Du nên chấp nhận. Dì Du vì cảm kích với sự bao dung của bố mẹ mà nguyện một lòng ở lại. Những nỗi éo le cứ giăng mắc vào nhau, chẳng ai đủ dũng khí để gỡ ra hay tất cả đều muốn bám víu vào những nỗi niềm đăm đắm như thế để thấy mình được nương tựa, chở che?
Cũng giống như những cành đào huyền uốn lượn tôi mang về từ chợ hoa cắm vào chiếc bình gốm, nếu chăm chút khéo léo vẫn rực rỡ hoa lá chẳng khác gì những cây đào bám chặt rễ vào vách đá, dồn tụ nhựa sống để bung tỏa sáng bừng những triền núi khi xuân đã cạn ngày. Dì Du hay mẹ tôi đều là những kiếp đào phai, ở hoàn cảnh nào cũng một lòng tận hiến.
Bố bảo: “Để bố ra cổng bệnh viện mua cháo cho hai mẹ con.” Lần đầu tiên bố thốt lên cụm từ “hai mẹ con” mà không khỏi ngượng ngùng. Có những nỗi niềm bấy lâu chôn chặt giờ mới có cơ hội khơi dậy, giần giật chảy trong từng đường gân thớ thịt, thân thương như từng hơi thở chộn rộn ngập ngừng.
Bố quay trở lại với cặp lồng cháo nóng hổi, theo sau là Phan. Anh nhào xuống bên tôi, giọng trách cứ mà ngằn ngặt yêu thương:
- Sao em lại trốn chồng về thăm bố mẹ một mình thế này. Khỏe nhanh rồi về nhà mình nhé, cây đào phai chắc sẽ trổ đợt hoa muộn. Hết hoa, mình mang đi gửi nhà vườn, cuối năm lại rinh về chơi tết…
Phan kể thực ra anh không có tour nào cả. Mấy ngày qua anh cùng vài anh em đồng nghiệp trên này đi hoàn thiện những thủ tục cuối cùng để thành lập công ti du lịch, đang định ghé qua thăm bố mẹ vợ thì nhận được điện thoại của ông.
Anh lại bảo sẽ chiều theo sở thích của tôi, trồng hẳn một triền đào phai cho tôi ngắm thỏa thuê. Tôi mỉm cười cầm tay Phan đặt lên bụng mình, nơi một mầm sống đang bắt đầu khe khẽ bám rễ…
Phía giường bên, ánh mắt mẹ Du nhìn tôi, dịu dàng như một cánh đào phai…