Từ góc độ thể chế, đáng cân nhắc việc bổ sung Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và một số tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương vào diện thí điểm, để quá trình tổng kết sau này có thêm dữ liệu về môi trường giám sát, phản biện xã hội, tiếp nhận kiến nghị của Nhân dân và đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Nhìn theo hướng đó, đây không chỉ là câu chuyện mở rộng danh sách chủ thể áp dụng, mà còn là vấn đề thiết kế “mẫu thử” sao cho đủ rộng để Quốc hội có cơ sở đánh giá toàn diện hơn trước khi quyết định bước đi tiếp theo trong hoàn thiện pháp luật.
Theo Điều 1 dự thảo Nghị quyết, việc thí điểm luật sư công được thực hiện tại 8 Bộ gồm: Công an, Quốc phòng, Xây dựng, Tài chính, Tư pháp, Công thương, Ngoại giao, Nông nghiệp và Môi trường; cùng UBND 10 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bắc Ninh. Cũng tại điều này, thời gian thí điểm được xác định từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028.
Đây là cách chọn mẫu có cơ sở, bởi các bộ, địa phương nói trên đều là nơi thường xuyên phát sinh những vụ việc pháp lý lớn, phức tạp hoặc nhạy cảm. Ở các đầu mối đó, nhu cầu về một lực lượng pháp lý có khả năng tham gia tố tụng, đại diện giải quyết tranh chấp, tư vấn xử lý rủi ro pháp lý công và phối hợp với luật sư hành nghề là điều có thể nhìn thấy khá rõ. Xét về kỹ thuật thí điểm, việc ưu tiên các cơ quan có mật độ phát sinh vụ việc cao là một lựa chọn hợp lý.
Tuy nhiên, nhìn từ cấu trúc chính sách, phạm vi đó hiện vẫn chủ yếu bao phủ khu vực hành chính nhà nước. Nếu giữ nguyên thiết kế này, quá trình thí điểm sẽ cho thấy luật sư công vận hành ra sao trong bộ, ngành và chính quyền địa phương, nhưng chưa cho thấy rõ mô hình này có phù hợp thế nào với các thiết chế giám sát, phản biện xã hội trong hệ thống chính trị. Trong khi đó, nếu nhìn đúng theo khái niệm mà Điều 2 dự thảo Nghị quyết nêu ra, “cơ quan sử dụng luật sư công” không chỉ là cơ quan nhà nước, mà còn bao gồm cả cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
Nói cách khác, dự thảo Nghị quyết hiện trả lời khá rõ câu hỏi luật sư công có cần cho cơ quan hành pháp hay không. Nhưng một câu hỏi khác cũng rất đáng được kiểm nghiệm là luật sư công có thể đóng vai trò gì trong các chủ thể vừa đại diện xã hội, vừa thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Nếu chưa thử nghiệm ở khu vực này, báo cáo tổng kết rất có thể sẽ nghiêng về một loại môi trường áp dụng duy nhất.
Vấn đề cần nhấn mạnh ở đây là: Thí điểm không chỉ để kiểm tra một chức danh mới có vận hành được hay không, mà còn để kiểm tra mức độ phù hợp của chức danh đó trong các môi trường thể chế khác nhau. Nếu môi trường được chọn quá đồng nhất, giá trị tham chiếu của kết quả tổng kết cũng có thể bị giới hạn. Chính ở khía cạnh này, câu chuyện bổ sung MTTQ và một số đoàn thể Trung ương trở thành một đề xuất đáng bàn ở cấp chính sách.
![]() |
| Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm chế định luật sư công đang chọn phạm vi áp dụng tại 8 bộ và UBND 10 tỉnh, thành phố trong thời gian từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028. Hình ảnh minh họa. Nguồn Internet |
Từ góc độ chính sách, đề xuất này không phải là một suy đoán thuần túy. Nghị quyết 66-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đồng thời nhấn mạnh việc phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội và sự tham gia thực chất của người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Cùng trong mạch đó, chủ trương nghiên cứu hình thành chế định luật sư công cho thấy định hướng chung là tăng năng lực pháp lý của khu vực công song hành với tăng cường kiểm soát việc thực thi pháp luật.
Điều đáng chú ý là, trong cách tiếp cận của chính sách lớn, nâng chất lượng thi hành pháp luật không chỉ là chuyện tăng năng lực của cơ quan ban hành và thực thi quyết định hành chính. Nó còn gắn với yêu cầu phải có các thiết chế đủ năng lực để giám sát, phản biện, phát hiện sớm bất cập, nhận diện sớm rủi ro và phản ánh kịp thời các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Vì vậy, nếu đặt chế định luật sư công vào trong tổng thể cải cách đó, thì việc xem xét thí điểm tại một số chủ thể giám sát - phản biện xã hội là điều có logic.
Ở bình diện hiến định, sau khi Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 203/2025/QH15, MTTQ Việt Nam tiếp tục được xác định là bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; có chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; giám sát, phản biện xã hội; phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân đến cơ quan nhà nước; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hoạt động đối ngoại nhân dân. Các tổ chức chính trị - xã hội như Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam cũng được xác định là trực thuộc MTTQ Việt Nam và hoạt động thống nhất trong Mặt trận.
Nếu đặt các căn cứ này cạnh Điều 2 dự thảo Nghị quyết, trong đó “cơ quan sử dụng luật sư công” bao gồm cả cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, thì có thể thấy việc cân nhắc mở rộng diện thí điểm sang MTTQ và một số đoàn thể Trung ương là một vấn đề có cơ sở để thảo luận. Ít nhất, đây là một khả năng chính sách cần được xem xét nếu mục tiêu của thí điểm là đo lường mô hình luật sư công trong nhiều loại thiết chế khác nhau, chứ không chỉ trong bộ máy hành chính.
Nói thận trọng hơn, các căn cứ nói trên chưa đương nhiên dẫn tới kết luận bắt buộc phải bổ sung ngay MTTQ và đoàn thể vào diện thí điểm. Nhưng chúng đủ để đặt ra một câu hỏi nghiêm túc cho cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra: Liệu phạm vi thí điểm hiện nay đã bao quát được các chủ thể có nhu cầu pháp lý đặc thù trong hệ thống chính trị hay chưa. Một bài toán chính sách tốt không chỉ cần tính khả thi hành chính, mà còn cần tính đại diện của “mẫu thử”.
Điểm mấu chốt của đề xuất không nằm ở chuyện mở rộng danh sách cho đầy đủ về mặt hình thức. Vấn đề là MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương có tính chất hoạt động khác đáng kể so với bộ, ngành và UBND cấp tỉnh.
Các chủ thể này không chỉ làm công tác vận động quần chúng theo nghĩa hẹp. Họ còn tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật, phản biện chính sách, tiếp nhận kiến nghị, tham gia vào quá trình xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp; nhiều tổ chức còn trực tiếp đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên và người lao động. Thực tiễn đó cho thấy nhu cầu pháp lý tại khối Mặt trận - đoàn thể không hề nhỏ, chỉ là nhu cầu ấy mang màu sắc khác với nhu cầu của cơ quan hành chính.
Vì vậy, nếu giai đoạn thí điểm chỉ đặt luật sư công trong môi trường hành pháp, kết quả thu được có thể rất hữu ích nhưng vẫn chưa đủ toàn diện. Quốc hội và cơ quan soạn thảo sẽ có dữ liệu về luật sư công trong hoạt động quản lý nhà nước, song chưa có dữ liệu tương ứng về luật sư công trong môi trường giám sát, phản biện xã hội, nơi áp lực công việc, loại vụ việc và cấu trúc quan hệ pháp lý mang đặc điểm khác.
Sự khác biệt này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết. Một luật sư công làm việc trong bộ, ngành thường gắn với các vụ kiện, tranh chấp hoặc tư vấn cho quyết định quản lý. Trong khi đó, nếu đặt trong MTTQ hoặc đoàn thể, luật sư công có thể sẽ phải xử lý các hồ sơ gắn với phản ánh của Nhân dân, các kiến nghị sau giám sát, các vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, các đề xuất phản biện chính sách, hoặc những trường hợp cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức mình khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Đó là hai môi trường có giao thoa, nhưng không trùng nhau.
Bởi vậy, nói rằng thiếu MTTQ thì thí điểm có thể thiếu một “mẫu thử” quan trọng là một cách diễn đạt mang tính bình luận chính sách, xuất phát từ sự khác biệt về loại hình chủ thể được chọn. Đây không phải mệnh đề khẳng định rằng phạm vi hiện tại là sai, mà là nhận định rằng phạm vi hiện tại có thể chưa đủ đa dạng để phản ánh hết các nhu cầu pháp lý công trong hệ thống chính trị.
Theo Điều 10 dự thảo Nghị quyết, phạm vi hoạt động của luật sư công bao gồm: Tham gia tố tụng với tư cách là luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; tư vấn pháp luật, đại diện trong giải quyết các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế; tư vấn xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến dự án kinh tế - xã hội; tư vấn và tham gia giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài; cùng các công việc có tính chất pháp lý khác tại cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
Nếu soi chiếu quy định này vào thực tiễn của MTTQ và các đoàn thể Trung ương, có thể thấy ít nhất ba nhóm công việc có độ tương thích khá rõ.
Nhóm thứ nhất là hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Trong nhiều vụ việc, chất lượng của giám sát không chỉ phụ thuộc vào bản lĩnh chính trị hay uy tín xã hội, mà còn phụ thuộc vào khả năng đọc hồ sơ, nhận diện rủi ro pháp lý, đánh giá tính hợp pháp của quy trình và chỉ ra điểm nghẽn thể chế. Đây là vùng năng lực gần với nghề luật sư hơn là công tác pháp chế thuần túy. Trong các kiến nghị giám sát hoặc phản biện, sự khác biệt nhiều khi nằm ở chỗ ý kiến đó có được đẩy tới mức lập luận pháp lý chặt chẽ hay không.
Nhóm thứ hai là các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài. Không ít vụ việc đông người, kéo dài hoặc liên quan đến đất đai, giải phóng mặt bằng, chính sách lao động, an sinh xã hội đều đi qua kênh Mặt trận hoặc đoàn thể trước, hoặc song hành với quá trình giải quyết của cơ quan có thẩm quyền. Nếu có lực lượng luật sư công tại chỗ, vai trò tiếp nhận, đối thoại, kiến nghị và giám sát của các chủ thể này có thể được nâng lên về chất. Quan trọng hơn, một số vụ việc có thể được nhận diện sớm hơn về bản chất pháp lý, từ đó giúp quá trình kiến nghị hoặc giám sát tập trung đúng trọng tâm hơn.
Nhóm thứ ba là hoạt động đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức mình. Đây là điểm thường ít được nhấn mạnh, nhưng lại rất thực tế. Khối Mặt trận - đoàn thể vẫn có nhu cầu pháp lý liên quan đến tài sản công, trụ sở, đất đai, hợp đồng, lao động, hoặc những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước giao. Khi gặp các tình huống như vậy, việc có một lực lượng pháp lý chuyên trách nội bộ rõ ràng là khác với việc chỉ dựa vào bộ phận pháp chế hành chính thông thường.
Có thể nói, Điều 10 là một trong những điều khoản cho thấy rõ nhất vì sao đề xuất mở rộng sang khối MTTQ - đoàn thể không phải là ý tưởng rời rạc. Phạm vi hoạt động mà dự thảo thiết kế cho luật sư công thực tế đã chạm vào nhiều nhu cầu pháp lý vốn hiện hữu trong các chủ thể này. Vấn đề còn lại chỉ là có nên đưa nhu cầu đó vào không gian thí điểm ngay từ bây giờ hay không.
Một khía cạnh khác cũng cần được nhìn nhận rõ là sự khác biệt giữa pháp chế nội bộ truyền thống với mô hình luật sư công theo dự thảo Nghị quyết. Trong nhiều cơ quan, tổ chức, bộ phận pháp chế chủ yếu làm công việc thẩm định văn bản, rà soát quy trình, phổ biến pháp luật, tham mưu hành chính hoặc hỗ trợ xử lý hồ sơ theo chức năng quản trị nội bộ. Vai trò đó rất quan trọng, nhưng không đồng nghĩa với chức năng của luật sư công.
Theo cách thiết kế của dự thảo Nghị quyết, luật sư công không chỉ là người hỗ trợ tuân thủ pháp luật ở cấp nội bộ. Họ còn là chủ thể có thể tham gia tố tụng, đại diện giải quyết tranh chấp, xử lý vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, phối hợp với luật sư hành nghề và thực hiện các công việc có tính chất pháp lý sâu hơn. Nghĩa là, đây là mô hình hướng tới năng lực xử lý điểm nóng pháp lý, không chỉ dừng lại ở tham mưu pháp chế theo nghĩa hành chính.
Đối với MTTQ và các đoàn thể Trung ương, nếu được đưa vào thí điểm, giá trị đáng chú ý nhất có thể nằm ở chỗ này. Từ chỗ chủ yếu dựa vào ban pháp luật hoặc bộ phận tham mưu nội bộ, các tổ chức này có thể từng bước hình thành một lực lượng chuyên trách hơn để xử lý các vụ việc có tính pháp lý cao. Đây là một bước chuyển đáng kể về chất lượng năng lực tổ chức, dù tất nhiên hiệu quả thực tế còn tùy vào cách thiết kế biên chế, tiêu chuẩn tuyển dụng, cơ chế quản lý và đào tạo.
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là điểm đ khoản 1 Điều 12, theo đó luật sư công có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cho sao chép hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý.
Nếu nhìn từ góc độ của MTTQ và các đoàn thể Trung ương, đây là quy định rất đáng lưu ý. Bởi trong thực tế, khó khăn của hoạt động giám sát không chỉ nằm ở việc có quyền yêu cầu thông tin, mà còn nằm ở chất lượng sử dụng thông tin đó. Có hồ sơ nhưng không chuẩn hóa được thành căn cứ pháp lý, hoặc có tài liệu nhưng không bóc tách được mâu thuẫn pháp lý bên trong, thì hiệu quả giám sát vẫn bị hạn chế.
Trong bối cảnh đó, nếu MTTQ có lực lượng luật sư công, quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ sẽ không chỉ là một quyền năng trên giấy. Nó có thể trở thành công cụ giúp hoạt động giám sát đi gần hơn tới chuẩn mực kiểm chứng được, đặc biệt trong các vụ việc có dấu hiệu phức tạp hoặc liên quan tới trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền. Ở đây cần nói rõ: Đây là góc nhìn bình luận chính sách về khả năng vận hành của mô hình, không phải khẳng định rằng chỉ cần có luật sư công thì hoạt động giám sát sẽ tự động hiệu quả hơn.
Điều cần nói thêm là, giá trị của quyền này không chỉ nằm ở khả năng tiếp cận tài liệu, mà còn ở kỹ năng sử dụng tài liệu. Người hành nghề luật có thể nhận diện loại hồ sơ nào thực sự quan trọng, chi tiết nào cần đối chiếu, mâu thuẫn nào cần làm rõ và lỗ hổng nào cần cảnh báo. Vì vậy, nếu đặt quyền yêu cầu cung cấp tài liệu vào tay một chủ thể có chuyên môn nghề luật, khả năng chuyển hóa thông tin thành kết luận có sức thuyết phục về mặt pháp lý sẽ cao hơn.
Ở chiều ngược lại, cũng cần thừa nhận rằng quyền yêu cầu tài liệu, chứng cứ chỉ phát huy tác dụng khi được đặt trong một cơ chế vận hành nghiêm túc. Nếu cơ quan, tổ chức liên quan chậm cung cấp, cung cấp không đầy đủ hoặc không có cơ chế đôn đốc, phản hồi, thì hiệu quả thực tế của quyền này vẫn còn là một câu hỏi. Chính vì vậy, việc thí điểm trong môi trường MTTQ và đoàn thể cũng có thể giúp trả lời thêm một vấn đề quan trọng: quyền đó vận hành ra sao trong không gian giám sát xã hội, chứ không chỉ trong quan hệ nội bộ hành chính.
Điều 3 dự thảo Nghị quyết xác định nguyên tắc hoạt động của luật sư công là độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan. Điểm g khoản 1 Điều 12 còn dự kiến cho phép luật sư công được bảo lưu ý kiến pháp lý và từ chối thực hiện chỉ đạo trái pháp luật. Đây là những quy định tiến bộ và đáng chú ý.
Tuy nhiên, từ góc độ thể chế, một câu hỏi rất thực tế là những bảo đảm đó sẽ vận hành thế nào trong từng loại môi trường công vụ. Nếu chỉ thí điểm ở các cơ quan hành chính, luật sư công chủ yếu hoạt động trong môi trường thứ bậc chặt chẽ, nơi người phân công công việc và người đánh giá công việc thường ở rất gần nhau. Khi đó, cơ chế bảo lưu ý kiến pháp lý có thể gặp áp lực lớn hơn trên thực tế.
Ngược lại, MTTQ và các đoàn thể vận hành theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động. Không nên vội khẳng định đây chắc chắn là môi trường thuận lợi hơn, nhưng rõ ràng đây là một môi trường khác, đáng để kiểm nghiệm. Nếu mục tiêu của thí điểm là đánh giá đầy đủ hơn về tính độc lập nghề nghiệp của luật sư công, thì việc có thêm một “mẫu thử” ngoài hành pháp sẽ có ý nghĩa đáng kể.
Ở đây, điểm quan trọng không phải là kết luận môi trường nào tốt hơn môi trường nào. Điều quan trọng là mỗi môi trường sẽ tạo ra một kiểu áp lực nghề nghiệp khác nhau. Trong cơ quan hành chính, áp lực có thể đến từ mối quan hệ cấp trên - cấp dưới và trách nhiệm tham mưu cho quyết định quản lý. Trong thiết chế giám sát, phản biện xã hội, áp lực có thể đến từ yêu cầu giữ cân bằng giữa tiếng nói xã hội, yêu cầu chính trị và chuẩn mực pháp lý. Càng có nhiều môi trường được kiểm nghiệm, giá trị của kết quả tổng kết càng cao.
Điều 13 dự thảo Nghị quyết cho phép cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng luật sư công của cơ quan, tổ chức khác thì có văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức có luật sư công cử hoặc đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về luật sư công giới thiệu hoặc chỉ định. Đây là cơ chế cần thiết để xử lý nhu cầu phát sinh ngoài phạm vi biên chế trực tiếp.
Tuy nhiên, nếu áp dụng cơ chế này cho MTTQ hoặc một tổ chức đoàn thể Trung ương trong những vụ việc liên quan đến giám sát, phản biện đối với cơ quan hành pháp, thì rủi ro xung đột lợi ích là điều nên được tính tới. Một luật sư công thuộc biên chế, chịu đánh giá và chịu sự chi phối nghề nghiệp từ chính cơ quan có lợi ích liên quan đến vụ việc sẽ khó có vị trí hoàn toàn thuận lợi để thực hiện chức năng phản biện hoặc bảo vệ quan điểm pháp lý độc lập.
Cần nhấn mạnh, đây không phải là kết luận rằng cơ chế cử, chỉ định sẽ không hiệu quả, mà là một rủi ro thể chế nên được nhận diện trước. Và cách tốt nhất để kiểm nghiệm rủi ro này chính là đưa MTTQ hoặc một số đoàn thể có nhu cầu thực tế vào diện thí điểm, thay vì để mô hình chỉ vận hành trong môi trường “cơ quan tự bảo vệ mình”.
Vấn đề này đặc biệt đáng chú ý nếu đặt cạnh yêu cầu của dự thảo về tính độc lập, trung thực và nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể được giao bảo vệ. Trong thiết kế thể chế, một cơ chế càng phụ thuộc vào “thiện chí” cá nhân càng dễ phát sinh rủi ro. Ngược lại, nếu có thể bố trí cấu trúc tổ chức để giảm bớt xung đột lợi ích ngay từ đầu, giá trị thực chất của các nguyên tắc nghề nghiệp sẽ cao hơn. Vì vậy, thí điểm ở khối Mặt trận - đoàn thể còn là cách kiểm tra xem mô hình luật sư công có thể xử lý bài toán này tới đâu.
Khoản 3 Điều 10 dự thảo Nghị quyết đề cập đến việc luật sư công tư vấn và tham gia giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài. Đây là nội dung đáng chú ý nếu soi vào vai trò của MTTQ và nhiều đoàn thể Trung ương trong thực tiễn.
Ở không ít địa bàn, các vụ việc đông người, kéo dài thường không chỉ đơn thuần là tranh chấp pháp lý. Chúng còn kéo theo yếu tố tâm lý xã hội, niềm tin của người dân, chất lượng đối thoại, trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền và khả năng kết nối giữa luật với thực tiễn. MTTQ và đoàn thể nhiều khi chính là nơi tiếp nhận phản ánh đầu tiên, hoặc là đầu mối giúp kiến nghị, giám sát, đôn đốc và đối thoại.
Nếu có lực lượng luật sư công tại chỗ, các chủ thể này có thể có thêm điều kiện để nâng chất lượng tham gia của mình. Thay vì chỉ dừng ở chuyển đơn, kiến nghị hoặc đề nghị xem xét, họ có thể hỗ trợ tốt hơn trong việc nhận diện bản chất pháp lý của vụ việc, phân loại trọng tâm tranh chấp, sàng lọc hồ sơ và đưa ra kiến nghị chính xác hơn tới cơ quan có thẩm quyền. Dĩ nhiên, điều này không biến MTTQ hay đoàn thể thành cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo thay cho Nhà nước. Nhưng nó có thể giúp vai trò giám sát và tham gia của họ hiệu quả hơn.
Một lý do khác khiến đề xuất này đáng được suy nghĩ là Điều 19 dự thảo Nghị quyết yêu cầu việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, khả thi; không để sơ hở, tham nhũng, tiêu cực, trục lợi chính sách, thất thoát, lãng phí. Nếu đọc quy định này trong bối cảnh vai trò của MTTQ đối với giám sát xã hội và phản ánh kiến nghị của Nhân dân, có thể thấy dư địa để đặt câu hỏi: liệu các thiết chế giám sát đó có nên được trao thêm một công cụ pháp lý chuyên nghiệp hơn ngay từ giai đoạn thí điểm hay không.
Hiện nay, những biểu hiện tiêu cực hoặc trục lợi chính sách không phải lúc nào cũng thể hiện ở những hành vi dễ nhận diện. Trong nhiều trường hợp, chúng được “ẩn” trong dự án, hợp đồng, quy trình, thủ tục hoặc các thiết kế lợi ích rất khó bóc tách nếu chỉ nhìn bằng kinh nghiệm hành chính thông thường. Chính ở những vùng xám đó, kỹ năng của người làm nghề luật có thể tạo ra khác biệt nhất định.
Từ góc độ bình luận chính sách, có thể nói rằng nếu MTTQ và một số đoàn thể có lực lượng luật sư công, công tác giám sát của họ có thể có thêm chiều sâu pháp lý trong các vụ việc nhạy cảm. Tuy vậy, cần giữ chừng mực khi diễn đạt: đây là một khả năng cần kiểm nghiệm, chứ không phải một hiệu quả đương nhiên. Giá trị của thí điểm nằm chính ở chỗ biến những giả định hợp lý thành dữ liệu thực chứng, thay vì chỉ dừng ở nhận định.
Từ góc độ người viết luật, một điểm cần giữ rõ là không nên tuyệt đối hóa tác dụng của việc mở rộng diện thí điểm. Việc bổ sung MTTQ và các đoàn thể Trung ương vào Điều 1 của dự thảo Nghị quyết, nếu được cân nhắc, cũng không đồng nghĩa tự động giải quyết được các vướng mắc về giám sát, phản biện, khiếu nại, tố cáo hay phòng, chống tham nhũng.
Điều có thể nói chắc là: Việc mở rộng như vậy sẽ tạo điều kiện để cơ quan có thẩm quyền thu thập thêm dữ liệu thực tiễn từ một loại môi trường áp dụng khác. Còn hiệu quả đến đâu sẽ còn phụ thuộc vào thiết kế chi tiết của nghị quyết, văn bản hướng dẫn, tiêu chí tuyển dụng, cơ chế quản lý trực tiếp, mức độ bảo đảm độc lập nghề nghiệp và cả cách lựa chọn cơ quan thí điểm.
Chính sự phân biệt này cũng làm cho bài toán lập pháp trở nên rõ hơn. Đây là bình luận chính sách theo hướng “đáng cân nhắc mở rộng để kiểm nghiệm đầy đủ hơn”, chứ không phải một kết luận pháp lý theo nghĩa bắt buộc phải bổ sung ngay. Trong viết báo pháp lý, ranh giới này đặc biệt quan trọng: ý kiến của luật sư có thể sắc, nhưng vẫn cần đặt trên nền thận trọng và phân biệt rõ giữa điều văn bản đang quy định với điều người viết cho rằng nên nghiên cứu thêm.
Nói cách khác, luận đề của bài viết này không phải “phải bổ sung bằng mọi giá”, mà là “nên nghiêm túc cân nhắc bổ sung nếu mục tiêu của thí điểm là có bức tranh đầy đủ hơn”. Giữ đúng ranh giới đó cũng là cách làm cho tranh luận chính sách trở nên lành mạnh, thực chất và hữu ích hơn cho cơ quan soạn thảo.
Nếu cơ quan có thẩm quyền thấy cần nghiên cứu phương án mở rộng, theo tôi, dự thảo nên được tiếp cận theo hướng kỹ thuật lập pháp rõ hơn.
Thứ nhất, có thể cân nhắc bổ sung Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và một số tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương vào khoản 2 Điều 1, thay vì chỉ liệt kê 08 bộ và UBND 10 tỉnh, thành phố như hiện nay. Cách bổ sung cũng nên được thiết kế chặt chẽ, có giới hạn, tránh mở quá rộng ngay ở giai đoạn đầu.
Thứ hai, cần rà soát lại Điều 2 và Điều 10 để bảo đảm phạm vi hoạt động của luật sư công khi làm việc trong khối Mặt trận - đoàn thể được hiểu thống nhất: Đó là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định; không làm trùng lặp với trợ giúp pháp lý và không biến luật sư công thành một cơ chế đại diện ngoài phạm vi được giao.
Thứ ba, có thể giao Chính phủ hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định tiêu chí lựa chọn cơ quan thí điểm trong khối này theo hướng chặt chẽ: có nhu cầu pháp lý thường xuyên, có đầu mối tổ chức phù hợp, có khả năng quản lý trực tiếp luật sư công và có điều kiện tổng kết, đánh giá khách quan. Việc lựa chọn theo tiêu chí sẽ phù hợp hơn so với mở rộng một cách đồng loạt, bởi không phải chủ thể nào trong khối này cũng có nhu cầu và điều kiện như nhau.
Thứ tư, nên thiết kế nhóm tiêu chí đánh giá riêng đối với khối Mặt trận - đoàn thể, thay vì dùng nguyên bộ tiêu chí của khối hành pháp. Chẳng hạn, có thể đo mức độ đáp ứng yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu; chất lượng kiến nghị sau giám sát; hiệu quả xử lý vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp; và khả năng nhận diện, xử lý xung đột lợi ích trong sử dụng luật sư công.
Thứ năm, cũng cần tính đến cơ chế tách bạch giữa bộ phận quản lý trực tiếp luật sư công với các đầu mối thực hiện giám sát, phản biện xã hội trong nội bộ tổ chức. Đây là một vấn đề kỹ thuật nhưng không nhỏ, bởi nếu thiết kế không rõ, thí điểm rất dễ lẫn giữa chức năng pháp lý chuyên môn với chức năng vận động, giám sát hoặc tham mưu chính sách thông thường.
Dự thảo Nghị quyết về thí điểm chế định luật sư công là một bước đi đáng chú ý trong quá trình chuyên nghiệp hóa năng lực pháp lý của khu vực công. Nhưng nếu phạm vi thí điểm chỉ dừng ở 08 bộ và UBND 10 tỉnh, thành phố, thì mô hình này có thể mới được kiểm nghiệm chủ yếu trong không gian hành pháp.
Từ góc độ bình luận chính sách, đáng cân nhắc việc bổ sung Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và một số tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương vào diện thí điểm. Việc này không chỉ nhằm mở rộng danh sách áp dụng, mà quan trọng hơn là để kiểm tra mô hình luật sư công trong một môi trường khác: môi trường giám sát, phản biện xã hội và đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Nếu mục tiêu của thí điểm là chuẩn bị dữ liệu tốt hơn cho việc hoàn thiện pháp luật sau này, thì đây là một hướng nghiên cứu nghiêm túc, có cơ sở và đáng được đặt lên bàn thảo luận.
Nói gọn lại, giá trị lớn nhất của đề xuất này không nằm ở việc thêm bao nhiêu cơ quan vào danh sách, mà nằm ở việc làm cho phép thử chính sách trở nên “đúng và đủ” hơn. Một mô hình luật sư công chỉ thực sự được đánh giá đầy đủ khi nó được thử trong nhiều loại môi trường thể chế khác nhau. Và nếu nhìn theo tiêu chí đó, MTTQ Việt Nam cùng một số đoàn thể Trung ương là những chủ thể đáng để cân nhắc trong giai đoạn thí điểm.
-------------------
* Trọng tài viên thuộc TGAC,
Giám đốc Công ty Luật Thái Dương FDI Hà Nội.
Nguồn LSVN