![]() |
| Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc. Ảnh: scov.gov.vn |
Năm 1967, khi “cụ bộ đội” Trần Khôi phó chủ nhiệm chính trị Binh trạm 32 Đoàn 559 được về thăm quê nhà. Lúc ông trở lại đơn vị, người con trai lớn vừa học xong cấp 3 (lớp 10) cứ nằng nặc xin theo. Chính quyền xã đã hết lời khuyên anh ở lại, nhưng người thanh niên ấy kiên quyết lên đường. Anh khảng khái nói: “Chú không cho cháu đi, mai mốt làm chi có giặc nữa mà đánh!” Chủ tịch xã hỏi, nhưng có đơn vị nào tuyển cậu? Trần Văn Khởi (tên người con trai) bình thản đáp: Dạ, ba cháu tuyển ạ! Đến nước này, vị chủ tịch gần như bó tay, còn người cha thì không nỡ cản con.
Thế là họ chuẩn bị lên đường. Lẽ ra, hai cha con sẽ đi thẳng lên Binh trạm. Nhưng khi ghé qua Tỉnh ủy, làm việc với Bí thư Nguyễn Tư Thoan, ông nhận được bức điện khẩn. Đồng chí Đồng Sỹ Nguyên mời ông trở ra Nghệ An, làm việc với Tỉnh đội. Chỉ một ngày sau, ông vội vã quay vào cùng xe của Trung đoàn pháo cao xạ. Tới lúc này, các đồng chí chỉ huy Trung đoàn pháo mới ngỡ ngàng trước một trường hợp ngoài dự kiến. Cùng đi còn có một thanh niên, thân hình gầy gò nhưng đôi mắt tinh nhanh và giọng nói ào ạt như sóng biển.
Đoàn xe theo đường 30 (tên gọi khác của đường 15A) gian nan vượt Truông Bồn. Địch đánh đêm đánh ngày, bom nổ chậm nhan nhản, bộ đội công binh tháo gỡ không kịp. Đến phía Bắc núi Trọ Voi, đoàn xe nhận tín hiệu tắc đường do địch đánh bom ở Ngã ba Đồng Lộc, thanh niên xung phong đang khẩn trương san lấp.
Tiếng máy bay địch rền rĩ, bầu trời Đồng Lộc lơ lửng từng chùm pháo sáng. Không thể để xe pháo dồn lại tại trọng điểm đánh phá của chúng. Một cô gái tay cầm cờ trắng, đu lên thành cabin xe chỉ huy, vừa phất cờ làm hiệu cho những chiếc xe phía sau, vừa dõng dạc hô “sang phải”, “sang trái”. Người cầm lái nhận biết và đi vào đường tránh hố bom đang san lấp. Bỗng một loạt bom trút xuống phía trước, trong ánh lửa nhoáng nhoàng, hơi ép của bom như con quái vật túm lấy cô gái vứt xuống mặt đất lổn nhổn. Chiếc xe dừng lại, Trần Văn Khởi nhảy xuống sơ cứu cho cô gái. Cô gái nằm ngửa, tay cầm chặt lá cờ, dòng máu đỏ tươi ri rỉ chảy ra ở cả hai tai và miệng. Anh rút từ túi mình chiếc mùi soa, lau khô dòng máu. Sực nhớ điều gì, cô gái cho tay vào túi quần lính đã bạc màu, lấy ra chiếc khăn mỏng trao cho anh. Trần Văn Khởi vội dùng chiếc khăn ấy, lau sạch các vết máu ứa ra từ mũi, vành tai, khóe miệng và trên mặt cô. Trong một thoáng bần thần, không hiểu sao, cô gái nhét vội chiếc khăn dính máu của mình vào túi áo người ra trận. Vừa lúc, các đồng đội của cô có mặt trên tuyến đường ào tới. Họ không kịp chào nhau, Trần Văn Khởi lên xe rời tọa độ lửa bên núi Trọ Voi.
Vào đến đơn vị của cha - Binh trạm 32 trên đường Trường Sơn, thuộc tỉnh Savannakhet Lào, anh vẫn chưa hết bàng hoàng. Ngay tối hôm đó, nguồn cảm xúc dâng lên, khiến anh không thể không viết. Và bài thơ Lấp hố bom đã ra đời, để tặng các cô gái thanh niên xung phong, đang bám trụ kiên cường tại Ngã ba Đồng Lộc. Bài thơ có đoạn:
“Ơi em gái mới tròn mười tám tuổi
Mỗi nhát xẻng đưa em lớn dậy với con đường
Đất đá trở mình như máu hồng thắm lại
Em làm gì?
- Em đánh Mỹ giữ quê hương!”
Bài thơ được đồng chí Chính ủy Binh trạm gửi cho Báo Đoàn 559. Vài ngày sau, bài thơ được đăng cùng với ký họa chân dung và bài trả lời phỏng vấn. Thời gian sau, bài thơ lần lượt xuất hiện nhiều trên báo chí, đài phát thanh. Sau sự kiện này, Phòng Chính trị Đoàn 559 có ý định rút anh lên đó công tác. Anh trả lời, tui không đi mô cả! Tui ở cao điểm Văng Mu thôi!
Nhờ tham gia một lớp học ngắn ngày, do Bộ Tư lệnh Công binh tổ chức, anh được phân công phá bom, mở đường cho xe ra trận và trở thành kiện tướng đánh mìn trên cao điểm Văng Mu. Nhưng ước mơ của anh là “ra mặt trận”, là được trực tiếp đánh Mỹ. Một năm sau, Trần Văn Khởi quyết định một việc, mà không phải người lính nào cũng dám làm. Viết cho cha mấy dòng trước khi rời đơn vị, anh theo đoàn quân vào địa bàn Khu 5 ác liệt. Tại đây, anh nhanh chóng trở thành chiến sĩ quân báo, trinh sát kỹ thuật Sư đoàn 3 Sao Vàng; liên tiếp đoạt hai Danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3 và cấp 2. Việc anh “trốn” cha và đơn vị có hai lý do. Anh không muốn dựa dẫm vào cha, nếu anh còn ở Binh trạm, mọi người sẽ nghĩ như vậy. Hai là, đã quyết đi chiến đấu là phải ra chiến trường. Có lần anh tâm sự, đêm đêm nhìn những binh đoàn rầm rập ra trận, tim tôi như lửa đốt.
*
Những năm tháng lặn lội khắp chiến trường Quảng Ngãi, Bình Định, chiếc khăn vẫn hiện diện trong ba lô người chiến sĩ quân báo. Song anh không thể ngờ rằng, gần một năm sau ngày đi qua Đồng Lộc, vào một chiều tháng bảy, cả mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc đã hy sinh anh dũng. Ở chiến trường, khi nghe tin này anh rất xót xa, nén xúc động và lòng căm hờn lên đầu súng. Mỗi lần nghĩ đến chuyện cũ, anh lục tìm chiếc khăn chứa đầy ký ức, như muốn gửi gắm điều gì...
Chiến dịch ngày một thọc sâu vào phía Nam. Chính lúc này, Trần Văn Khởi bị thương khá nặng tại ngã ba Xuân Lộc, xương đùi anh bị giập nát, dù trước đó anh đã bị thương không dưới chục lần. Không để lỡ thời cơ, toàn đơn vị xông lên. Anh mê man giữa rừng cao su khét lẹt khói súng, miệng mấp máy “Mẹ ơi!”. Gió phương Nam vô tình xào xạc trên những tán cây cao su, một cô gái mang quân phục xuất hiện, băng bó cho anh và thông tin cho y tế đưa anh về tuyến sau chữa trị. Người con gái đó là chiến sĩ văn công của Sư đoàn.
Nhận ra tình trạng của mình, anh vô cùng thất vọng... Công lao truy kích địch từ Bình Định vào cửa ngõ Sài Gòn, mà không được tham gia trận cuối thì thật là vô tích sự. Những ngày nằm điều trị, ba lô của anh đã được giặt giũ, phơi phóng lại. Gần tám năm trải qua nhiều vùng khói lửa, nắng gió chiến trường, chiếc khăn tự sờn rách lỗ chỗ, buộc chị em phải bỏ đi. Có lẽ một phần do các chị chưa hiểu tường tận, xuất xứ của chiếc khăn mộc mạc, bình dị ấy.
Những năm tháng lặn lội chiến trường Khu 5, trong con người Trần Văn Khởi như luôn có một lực tương hỗ, khiến anh lúc nào cũng lạc quan. Là chiến sĩ trinh sát kỹ thuật, một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, trinh sát sơ suất hậu quả sẽ khôn lường. Anh vẫn xông xáo khắp các thôn làng, các địa chỉ quan trọng trong sơ đồ tác chiến. Nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành xuất sắc, kể cả làm lính văn nghệ, tổ chức mừng xuân mới, mừng sinh nhật Bác, kỷ niệm ngày thành lập Quân đội. Đặc biệt, anh có trí nhớ rất tốt, khái quát toàn bộ diễn biến của từng trận đánh, từng mối quan hệ giữa ta với dân, giữa ta với địch, để sau này xuất bản hai tập truyện ký dày dặn, trong đó cuốn Cha và con lính trận được trao giải A, giải thưởng Lưu Trọng Lư; gần đây là tập Rừng đói, được giới văn chương và đồng đội phấn khởi tiếp nhận. Giữa lằn ranh sinh tử, nếu không có một tác động vô hình nào đó, làm sao người lính có thể sống sôi nổi đến vậy?
Năm 1976, Trần Văn Khởi hưởng chế độ phục viên, với đôi nạng gỗ. Về quê ít lâu, anh thi vào Trường Sư phạm rồi công tác trong ngành Giáo dục. Lúc nghỉ hưu, anh viết văn, viết nhạc, viết thư pháp và làm thơ. Năm 2014, nhân kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh tổ chức cho hội viên là cựu chiến binh, đi thực tế sáng tác tại các địa chỉ đỏ. Trở lại Đồng Lộc, đứng lặng trước phần mộ mười liệt sĩ, mắt anh nhòe lệ, lòng xốn xang cảm xúc. Chưa biết cô gái ngày ấy tên gì, làm sao anh có thể gửi gắm điều gì khi âm dương cách trở. Suốt bao năm qua, trên mảnh đất từng chịu quá nhiều đau thương này, màu xanh ngày càng sinh sôi, nhưng trong lòng người lính ấy, vẫn canh cánh một câu hỏi chưa có lời giải đáp. Người con gái chủ nhân của chiếc khăn là ai, tên gì, phần mộ cô ở đâu trong mười ngôi mộ của các cô gái hy sinh ở Ngã ba Đồng Lộc? Chiều cuối năm, làn khói hương run rẩy, lan trong hơi lạnh ngày Đông chí bao phủ dãy núi Trọ Voi, Trần Văn Khởi bâng khuâng đưa đôi bàn tay lạnh buốt, xoa lên từng ngôi mộ, thầm thì: “Các em ơi! Em nào hôm bị thương, rồi nhét chiếc khăn vào túi áo anh? Tên em là chi? Quê em ở mô, cho anh biết với?” Có lẽ cô gái còn muốn “thử thách” ân nhân của mình, nên lặng im để anh băn khoăn chưa biết đến bao giờ, nếu như không có chuyến thực tế gần đây của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị.
*
Khi tuổi tác ngày càng dày lên, sức mòn trí đoản là quy luật nhưng anh vẫn dẻo dai với cây bút và chiếc máy ảnh. Căn nhà anh ở xã Lệ Thủy luôn đông đúc bạn bè văn chương, trận mạc. Anh vừa là tác giả của nhiều ca khúc, cây bút thư pháp của anh tíu tít mỗi dịp Tết đến xuân về... Tuy nhiên, anh vẫn nuôi hy vọng, sẽ có một dịp lý giải được điều còn đau đáu bên lòng. Nhận được thông tin, Hội Văn nghệ sẽ tổ chức cho các cựu chiến binh đi thực tế hai ngày, anh rất vui, nhất là khi được biết, chương trình có điểm đến là Ngã ba Đồng Lộc. Từng ngày anh mong cho đôi mắt của mình sớm ổn, để tham gia chuyến đi. Rủi thay, sau phẫu thuật, tình trạng đau đáy mắt vẫn chưa thuyên giảm, anh phải nhập viện để kiểm tra lại.
Vậy là anh không có mặt trong chuyến đi, lòng nặng trĩu nỗi buồn. Liệu những lần sau, anh còn có điều kiện để tham gia hay không, rồi cuộc đi tìm chủ nhân chiếc khăn bao giờ mới thực hiện được. Trong đêm đó anh mơ thấy người con gái năm nào, tay nắm cửa cabin, gào lên trong tiếng gầm của máy bay và tiếng rít của bom đạn. Vẫn ánh mắt có lửa, bàn tay cô nhét vội chiếc khăn đầy máu của mình vào túi áo người chiến sĩ...
Bật dậy trong đêm, người anh thừ ra vì câu chuyện trong giấc mơ. Sáng sớm hôm sau anh gọi cho tôi, người em mà anh thân thiết, nhờ đọc hộ bài thơ Lấp hố bom trước phần mộ mười cô gái. Với lời nhắn, cô gái nào là chủ nhân của chiếc khăn lúc đó, xin báo mộng cho anh. Dù chưa biết hành trình cụ thể của đoàn sẽ như thế nào, tôi vẫn nhận lời giúp anh toại nguyện.
Rời các địa danh lịch sử vùng Tây Bắc Quảng Trị, chúng tôi đến Ngã ba Đồng Lộc lúc chiều muộn ngày 23/7/2026. Khu di tích ngan ngát khói hương, không khí linh thiêng hiện rõ trên từng ánh mắt của du khách, đang nườm nượp chảy vào các điểm tâm linh và phần mộ mười liệt sĩ. Anh chị em nhân viên Khu di tích rất bận rộn, họ đang chuẩn bị cho đại lễ kỷ niệm 58 năm ngày Chiến thắng Đồng Lộc (24/7/1968 - 24/7/2026), cũng là 58 năm ngày mười nữ thanh niên xung phong hy sinh. Dù vậy, đơn vị vẫn bố trí người làm công tác tổ chức, tiếp đón chu đáo. Chúng tôi cùng các đoàn bạn xếp hàng, lần lượt vào địa điểm hành lễ. Tại Nhà bia tưởng niệm Liệt sĩ Thanh niên xung phong toàn quốc, loa phóng thanh xướng tên “Đoàn của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị, do nhà văn Nguyễn Thị Lê Na - Chủ tịch Hội làm Trưởng đoàn…” Từng nén hương được kính cẩn cắm lên chiếc lư hương lớn, trong khi ngọn lửa bùng lên hóa sạch toàn bộ chân hương. Ngọn lửa cháy một cách bình thản, trong không gian linh thiêng, trong mạch cảm xúc tâm linh của những người có mặt.
Chúng tôi tiếp tục đến với phần mộ của mười liệt sĩ. Hoa cúc trắng nở tươi trên những ngôi mộ màu trắng, trở thành màu chủ đạo của không gian linh thiêng này. Bởi chưa thể biết người mình cần tìm là ai, an nghỉ ở vị trí nào, tôi chọn một vị trí trung tâm để thưa cùng các liệt nữ. Trước đó tôi đã soạn sẵn lời dẫn trong điện thoại, trình bày cùng các chị lý do vì sao tôi được hân hạnh làm việc này. Sau khi kết thúc lời dẫn, tôi vái chung ba lần rồi kính cẩn đọc bài thơ của anh. Nhấn nhá từng câu giữa hàng chục camera đang hướng vào, khiến tôi càng xúc động, nghẹn ngào dưới nắng chiều Đồng Lộc.
![]() |
| Lực lượng dân công hỏa tuyến lấp hố bom, mở đường cho xe ra chiến trường tại khu vực Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh). Ảnh: TTXVN |
Lấp hố bom sâu cho đường ta lại phẳng
Lấp vết đau thương bằng nhát xẻng căm thù
Chính ở nơi đây chúng ta đang chiến thắng
Trong tiếng bom rền đường rộn lời ca
Ơi em gái mới tròn mười tám tuổi
Mỗi nhát xẻng đưa em lớn dậy với con đường
Đất đá trở mình như máu hồng thắm lại
Em làm gì?
- Em đánh Mỹ giữ quê hương
Chia tay trên một chặng đường
Chào em gái nhỏ thân thương quê nhà
Đêm nay lửa rực trời xa
Chắc môi em kết muôn hoa đón chào
Rộn ràng giữa cảnh trời sao
Thoảng trong cơn gió ngọt ngào hương quê.
Đồng Lộc, tháng 8/1967
Trần Văn Khởi
Có ai ngờ, một điều khó giải thích, trong đêm ấy, anh mơ thấy một giọng nói con gái, nửa như trách móc, nửa như vui mừng. Cô nói “Tên em vần X, em nằm ở vị trí thứ 5”. Lập tức anh choàng dậy, gọi điện cho tôi. Mở máy ảnh vừa chụp chiều nay, tôi nhận ra tấm ảnh và dòng tên liệt sĩ ở ngôi mộ số 5, đúng có vần X.
Tôi trả lời anh bằng tin nhắn, anh gọi lại cám ơn tôi và òa khóc nức nở. Tôi muốn để yên cho anh khóc, bởi tiếng khóc lúc này sẽ giúp anh trút bỏ được nỗi niềm dồn nén bấy lâu. Chợt nhớ, anh đang điều trị mắt, tôi an ủi anh, không quá xúc động dễ làm tổn thương thị giác. Lâu nay còn mò mẫm, bây giờ đã rõ sự tình, sau này khi bình phục, anh có thể trở lại thăm Đồng Lộc, trút trao những tâm sự từ nỗi lòng mình tới mười liệt nữ, nhất là với cô gái có cái tên vần X.
Miên man với câu chuyện về người lính Trần Văn Khởi, chiếc xe County đã tới hầm đường bộ qua đèo Ngang. Tôi thấy mình cần gấp gáp chấp bút, về hành trình giúp người lính ấy, đi tìm chủ nhân một chiếc khăn từng nhuốm máu của người con gái, đã hóa thân cho bầu trời xanh đất Việt mãi mãi yên bình.
Đồng Lộc, 23/7/2026