Sự kiện & Bình luận

Những người lính trẻ quân “chủ lực”. Bút ký của Lê Ngọc Sơn

Lê Ngọc Sơn
Bút ký phóng sự 12:02 | 08/11/2026
Baovannghe.vn- Chia tay chúng tôi ở nút giao giữa thành phố Yên Bái cũ với cao tốc Nội Bài - Lào Cai, Trung tá Nguyễn Khắc Đào, Trưởng phòng Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lào Cai, không quên dặn dò: “Các anh đến thăm đơn vị bộ đội chủ lực mới biết chủ lực là khác biệt thế nào.
aa
Những người lính trẻ quân “chủ lực”. Bút ký của Lê Ngọc Sơn
Chặng đường hành quân của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 trải qua nhiều cung đường quanh co, khúc khuỷu. Ảnh: Báo Quân đội nhân dân

Chứ bộ đội địa phương chúng tôi còn ‘thua’ xa”. Câu nói nửa đùa nửa thật ấy khiến tôi không khỏi tò mò và có chút lo lắng. Chỉ riêng hai chữ “chủ lực” thôi cũng đủ để tôi hình dung về Trung đoàn Bộ binh 174, Sư đoàn 316, Quân khu 2 với ít nhiều sự cứng rắn, kỷ cương và quy củ.

Xe đoàn công tác tới nhà chỉ huy Trung đoàn bộ thì dừng lại. Những tòa nhà màu vàng với nước sơn còn mới, những con đường rải nhựa thẳng tắp, những hàng cây và cờ cắm dọc các lối đi tạo ấn tượng ban đầu về một doanh trại quân đội khang trang, quy củ. Nhưng đập vào mắt tôi ngay sau đó lại là mấy chú bộ đội đang lom khom dọn rửa gì đó ở lối dẫn lên sảnh nhà chỉ huy. Ai cũng mặc áo phông, quần dài, đi dép rọ, tay cầm cái bay để cọ một thứ gì đó. Nước từ trên sàn gạch chảy xuống nền xi măng bên dưới. Bốn người lính cứ tẩn mẩn với công việc của mình. Tôi chợt nghĩ: “Không lẽ các chiến sĩ này đang… cọ rêu chân tường? ‘Chủ lực’ đúng là nghiêm thật!” Tò mò, tôi tiến lại gần, hỏi một đồng chí đang làm nhiệm vụ. Một đồng chí trẻ măng ngẩng lên bảo: “Bọn cháu đang cọ… sơn chú ạ!” Ấy, không phải thế, nhưng cũng gần như thế. Thượng úy Hà Văn Sơn, sĩ quan tuyên huấn của Trung đoàn, đón chúng tôi tại xe và giải thích: “Trung đoàn đang thực hiện chỉnh trang doanh trại để tham gia hội thi ‘Doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp’ Trung đoàn bộ binh đủ quân năm 2026. Thế nên các tòa nhà, khuôn viên, từng cây cột đều được sơn lại, chỉnh trang chi li từng chút một. Từng giọt sơn bắn ra đều phải được cọ rửa cẩn thận”. Tôi không khỏi nghĩ tới những người lính trẻ măng kia, có vẻ như là các tân binh. Không biết ở nhà họ có chăm chỉ dọn dẹp từng góc nhà như thế này không, chứ ở đây, việc cọ rửa tưởng như vụn vặt ấy cũng là một cách rèn quân: cẩn thận, tỉ mỉ từ những việc nhỏ nhất.

Ngay lối vào khu vườn đối diện, nhà thơ Nguyễn Ngọc Trìu và nhà văn Nguyễn Quốc Hùng đang đứng nhìn hơn chục chiến sĩ loay hoay đưa hai khối trang trí mang dải cờ ba sắc vàng, đỏ, xanh, ở giữa là hình trống đồng, vào hai bệ cổng khu vườn nằm trong khuôn viên trước tòa nhà chỉ huy Trung đoàn. Cạnh đó, một chiến sĩ vẫn cặm cụi tưới cây cho từng bụi hoa. Trời đã về chiều muộn, hơn 6 giờ 30, vậy mà các chiến sĩ vẫn chưa ngơi tay.

Dọc lối đi, một đoàn chiến sĩ vừa từ đâu đó lao động trở về. Người chiến sĩ đi đầu đeo chéo chiếc đài trên vai, có lẽ là chỉ huy tiểu đội, phát một bài hát sôi nổi. Đoàn chiến sĩ theo sau, dù chân đất, quần áo đẫm mồ hôi sau buổi lao động, vẫn đi đều theo hàng ngũ. Khi đi qua chỗ mấy nhà văn, nhà thơ chúng tôi đang đứng, ai cũng lễ phép chào: “Chào chú, chào bác!” Tôi không khỏi mỉm cười, thấy vui lây với niềm vui cuối ngày của những người lính trẻ. Thế nhưng, ở một góc khác của Trung đoàn, nơi vườn rau tăng gia sản xuất, trời đã bắt đầu buông xuống ánh sáng nhạt cuối ngày mà các chiến sĩ vẫn mình trần, chân đất, hai tay xách hai can nước 50 lít, đi dọc những lối bê tông, tưới đẫm các luống rau. Nước được lấy từ một ao ngay cạnh đó, cũng là ao thả cá.

Ngay quả đồi thấp phía sau vườn rau xanh mướt là dòng chữ cao màu trắng được dựng thành khẩu hiệu: “HUẤN LUYỆN GIỎI - ĐOÀN KẾT TỐT - KỶ LUẬT NGHIÊM - SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU CAO”. Gặp một người lính gần đó, tôi tò mò hỏi tại sao những luống rau muống lại có thể được trồng chẳng khác gì một hàng quân xếp hàng, đều tăm tắp và thẳng lối. Em bảo tôi: “Mỗi luống rau được gieo hạt cách nhau đúng 20 phân, giữa các luống với nhau cũng đều được gióng thẳng hàng”. Tôi hỏi nửa đùa nửa thật: “Thế rau muống này có sâu thì sao? Không lẽ phải bắt bằng tay hết à?” Em thật thà trả lời: “Rau ở đây hoàn toàn không phun thuốc. Nếu có sâu là phải bắt bằng tay, mà còn giao chỉ tiêu cho mỗi đồng chí phải bắt được bao nhiêu con sâu. Bắt cả vào ban đêm nữa chú ạ”. Chà, bắt sâu bằng tay cả một vườn rau rộng lớn thế này thì quả là một… kỳ công.

Trời đã nhá nhem tối, tôi thong thả đi ra góc dưới, nhìn về phía xa của doanh trại rộng lớn này. Xa xa, những khu nhà của các tiểu đoàn đã sáng đèn. Giữa vùng núi trung du, nơi Trung đoàn 174 đứng chân và huấn luyện bộ đội, tôi chợt nghĩ về bao người lính đến từ những địa phương khác nhau. Trung đoàn 174 được Đảng và Nhà nước hai lần phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng những điều ấy không bắt nguồn từ đâu xa. Nó bắt đầu từ những con người nhỏ bé như những chiến sĩ tôi đã gặp hôm nay. Họ rèn luyện từng ngày, làm những công việc tưởng như rất đỗi bình thường, rồi kết lại thành sức mạnh của một tập thể và đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc. Tôi đang đứng đây và được nhìn thấy một đơn vị anh hùng.

Buổi tối hôm đó, Trung đoàn tạo điều kiện để đoàn văn nghệ sĩ chúng tôi được tiếp xúc trực tiếp với các chiến sĩ trẻ tại nhà sinh hoạt của Tiểu đoàn. Khi chúng tôi tới, các chiến sĩ đã ngồi ngay ngắn vào những hàng ghế. Nhìn những khuôn mặt trẻ măng chăm chú lắng nghe nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, nguyên chiến sĩ của mặt trận Vị Xuyên, nói chuyện, tôi chợt nhận ra ở đây có một sự trao truyền. Là người lính từng trực tiếp chiến đấu ở mặt trận Vị Xuyên, giờ đây lại là một nhà văn cầm bút, những câu chuyện bác Hùng kể cho các chiến sĩ trẻ vừa qua ba tháng huấn luyện tân binh giống như một sự tiếp nối giữa các thế hệ. Bác kể về những gian khó trong chiến trận, khi ngay cả việc rời khỏi hầm trú ẩn để đi vệ sinh cũng là một điều không dễ dàng bởi đạn pháo bắn rát liên tục. Rồi chuyện xuống suối lấy nước uống mà không biết ngay bên dưới bè nứa, rất gần nơi mình đang lấy nước, là thi thể một chiến sĩ ta đã hy sinh trôi dạt, mắc lại ở đó. Chiến trường thực tế khốc liệt hơn rất nhiều so với những gian khổ trong huấn luyện, nên bác mong các chiến sĩ trẻ phải cố gắng hơn nữa, hoàn thành tốt nhiệm vụ để sau này, khi ra quân, mỗi người vẫn luôn nhớ về những năm tháng ở Trung đoàn 174 như những năm tháng không thể nào quên của đời lính, đời người. Tôi nhìn thấy trong ánh mắt người lính Vị Xuyên ấy sự bồi hồi khi nhớ lại những câu chuyện xưa để kể cho các chiến sĩ trẻ. Đó là ký ức của một cuộc chiến khốc liệt, là những gì người lính đã từng trải qua và giờ đây muốn trao lại cho thế hệ sau. Có lẽ vì thế mà những chiến sĩ trẻ ngồi im lặng, chăm chú, ánh mắt không rời người kể chuyện.

Khi về từng tổ, từng đội để trao đổi cùng từng nhà văn trong đoàn, tôi quan tâm nhiều hơn tới sự đổi thay trong cuộc sống của những người lính trẻ sau ba tháng tân binh. Đó là cuộc sống của những thanh niên mới mười tám, đôi mươi, có người vừa rời ghế nhà trường đã bước vào con đường quân ngũ. Điều đổi thay lớn nhất có lẽ là… chiếc điện thoại. Ở đây không có những chiếc điện thoại màn hình màu để chơi game, gọi video, lướt internet hay chat chít. Ở đây chỉ có những chiếc điện thoại “cục gạch” trắng đen. Tôi hỏi vui một nhóm chiến sĩ trẻ: “Các bạn ở đây không có điện thoại màn hình màu để chat hay gọi video cho người yêu à?” Các chiến sĩ bảo chỉ có điện thoại đen trắng thôi và đó là điện thoại dùng chung của đại đội. Đến giờ nghỉ mới được gọi điện về nhà.

Những cái tên lần lượt được tôi nhớ lại: Vàng Minh Ngọc, người H’Mông; Lý Toàn Liều, người Dao; Ngân Nhân Thành, người Thái; Hà Văn Trường, người Kinh. Tôi hỏi vui: “Bên mình quân số người dân tộc thiểu số đông nhỉ?” Một chiến sĩ cười bảo: “Dân tộc thiểu số ở đây là đa số thế nên người Kinh thành thiểu số chú ạ.” Nhưng rồi câu chuyện quay về với chuyện rèn luyện. Sau thời gian huấn luyện, Trung đoàn 174 tổ chức Lễ tuyên thệ chiến sĩ mới. Sáu trăm chiến sĩ mới thuộc hai tỉnh Lào Cai và Sơn La, trong không khí trang nghiêm, đã thực hiện nghi thức tuyên thệ dưới cờ Tổ quốc, Quân kỳ Quyết thắng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tôi tin rằng các em ở đây sẽ có một đoạn đời thật khác, nhưng đáng nhớ vô cùng. Và sau này, khi được hỏi đã từng ở đơn vị nào, các em sẽ có thể tự hào mà nói rằng: mình là “chủ lực”, là bộ đội của Trung đoàn 174 anh hùng.

Sáng hôm sau, Thượng úy Hà Văn Sơn đưa chúng tôi đi thăm các khu doanh trại của Trung đoàn. Khi đi ngang qua khu nhà Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Hà Văn Sơn nói với tôi: “Đây là đại đội được phong tặng danh hiệu Anh hùng. Đại đội anh hùng bởi toàn bộ đại đội đã hy sinh trong một trận đánh”. Trong trận chiến ngày 12/7/1984, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 174 đã chịu tổn thất rất nặng nề. Đại úy Hoàng Hữu Chuyên khi ấy là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, được giao nhiệm vụ tiến công cao điểm 233. Trong trận chiến ấy, ông đã anh dũng hy sinh. Khi ấy, ông mới 32 tuổi, để lại vợ và hai con thơ. Tôi đứng bên khu nhà Đại đội 3, nhìn những người lính trẻ hôm nay đi qua, bất giác nghĩ về người Tiểu đoàn trưởng đã nằm lại ở tuổi 32. Hai chữ “anh hùng”, vì thế, không chỉ đơn giản là một danh hiệu, mà đằng sau nó là những cái tên, những tuổi đời còn rất trẻ và những người đã không trở về.

Chúng tôi tới thăm doanh trại Tiểu đoàn 3 sau khi đã vòng qua hết các tiểu đoàn khác. Những căn nhà cũ rồi sẽ được thay thế, những dãy nhà mới sẽ mọc lên, nhưng có một thứ chắc chắn được giữ lại: cây đa cổ thụ giữa sân Tiểu đoàn. Khi lập thiết kế xây dựng khu nhà mới, Trung đoàn đã tính toán để không đụng chạm gì đến “cụ đa” ấy.

Bên bàn uống nước cạnh khuôn viên, trong câu chuyện với chúng tôi, Trung tá Đỗ Thanh Tùng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, không khỏi lo lắng khi cho biết cả Trung đoàn đang dõi theo tình hình sức khỏe của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu. Ông khi đó đang hôn mê sâu, nằm tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Trong trận Đông Khê thuộc Chiến dịch Biên giới năm 1950, La Văn Cầu là chỉ huy tổ bộc phá có nhiệm vụ phá hàng rào, mở đường cho đơn vị phía sau tiến công đồn. Khi bị trúng đạn, cánh tay phải bị dập nát, ông nghiến răng chịu đau, nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay bị thương rồi tiếp tục chiến đấu. Câu chuyện về người anh hùng đã đi qua khói lửa chiến tranh, đến lúc này, bỗng hiện ra rất gần. Chỉ đúng một tuần sau chuyến thăm của chúng tôi, anh hùng La Văn Cầu từ trần, hưởng thọ 94 tuổi.

Tôi dậy sớm, dạo quanh một vòng để xem các hoạt động buổi sáng của những người lính. Một nhóm bộ đội đang “xử lý” hai đống cát khá to. Cạnh đó là hai bao xi măng đặt trên chiếc xe thồ tay. Những người lính “thợ xây” đang đánh hồ để xây lại đoạn kênh thoát nước bằng gạch. Bất chợt từ đằng xa, tôi thấy một “đoàn quân” tay cuốc, tay xẻng đang đi thành một hàng dài, bước qua con đường nằm giữa hai ao nuôi cá. Đoàn quân màu xanh lá ấy bước đều, bước đều, làm tôi chợt liên tưởng tới những đoàn quân của Trung đoàn 174 năm nào hành quân vào Nam đánh giặc. Có lẽ năm xưa, họ cũng là những người lính trẻ tuổi như thế, mang trong mình bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, băng qua giới tuyến hai miền Nam - Bắc vì sự nghiệp thống nhất nước nhà. Có khác chăng, người lính thời bình hôm nay tay cuốc, tay xẻng, xây dựng doanh trại, còn người lính năm xưa trong tay là khẩu AK, vượt dãy Trường Sơn vào Nam chiến đấu.

Những người lính trẻ quân “chủ lực”. Bút ký của Lê Ngọc Sơn
Một người lính trẻ đang tưới rau dưới ráng chiều tại khu vườn của Trung đoàn 174. Ảnh: NVCC

Tháng 3/1967, Trung đoàn 174 với hơn 7.000 người tách khỏi đội hình Sư đoàn 316, mang bí danh Đoàn A1, hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu chống Mỹ. Trung đoàn 174 đã đứng chân trên chiến trường B3, miền Trung - Tây Nguyên, và để lại dấu ấn qua nhiều trận đánh khốc liệt. Trong đó có trận đồi 875, nơi những người lính Trung đoàn 174 đã khiến Lữ đoàn dù 173 của quân đội Mỹ chịu những tổn thất nặng nề. Trung đoàn 174 còn tham gia nhiều trận đánh ở Lộc Ninh, An Lộc, Long Khốt, Tân An, rồi những năm tháng dằng dặc trên chiến trường biên giới Tây Nam và đất nước Campuchia. Những địa danh ấy, nghe qua tưởng như đã lùi rất xa vào quá khứ, nhưng sáng hôm đó, giữa doanh trại Trung đoàn 174, nhìn những người lính trẻ tay cuốc, tay xẻng bước đều trên con đường giữa hai ao cá, tôi bỗng thấy quá khứ và hiện tại dường như chỉ cách nhau một bước chân. Ngày trước, họ đi vào chiến trường với súng trên vai. Hôm nay, những người lính trẻ cũng bước đều như thế, nhưng trên tay là cuốc, là xẻng. Một bên là chiến đấu để bảo vệ đất nước, một bên là xây dựng nơi ăn ở, rèn luyện của chính những người đang tiếp tục đứng trong hàng ngũ ấy.

Chúng tôi được Thượng úy Hà Văn Sơn cùng cán bộ đơn vị dẫn đi thăm doanh trại của các tiểu đoàn. Khu nhà ở của các đơn vị là những dãy nhà hai tầng, lợp mái Thái, khang trang, sạch đẹp. Trong mỗi phòng là những dãy giường hai tầng. Chăn, gối nội vụ được gấp vuông vắn, mũ kê-pi đặt ngay ngắn phía sau, bên cạnh là áo chiến sĩ và ba lô. Mỗi giường đều có ghi tên người nằm. Hành lang phía sau mỗi phòng là giá treo quân tư trang, những chiếc mũ cối được xếp thẳng hàng. Bên ngoài là bảng tin thi đua cán bộ, chiến sĩ của đại đội. Tại bảng tin thi đua của Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, mọi thứ được ghi rõ ràng, từ kết quả chấm điểm đến xếp loại. Bên cạnh những dòng biểu dương là phần nhận xét rất cụ thể về điểm mạnh, điểm yếu. Điểm mạnh: đơn vị chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp; nội vụ, vệ sinh gọn gàng, thống nhất; gác đêm bảo đảm an toàn, nhớ mật khẩu. Điểm yếu cũng được ghi thẳng thắn: “Nhà bẩn B5”, “Ba lô thò” của một số chiến sĩ. Các thông tin đều được viết tay trên mặt kính, còn những dòng tiêu đề và khung bảng được in sẵn, kẻ ngay ngắn phía dưới. Nhà thơ Lý Hữu Lương đứng bên cạnh nhìn một lúc rồi cười: “Này là hơn hẳn thời của anh. Ngày trước mỗi lần viết bảng tin là phải bò ra kẻ vẽ, trang trí từng chút một”.

Tại khuôn viên doanh trại Trung đoàn, tôi bắt gặp một hình ảnh khác của những người lính thời bình. Trong khuôn viên, hơn 1.000 cây hoa hồng cổ Sa Pa đang nở những bông hoa thắm, tỏa hương. Thượng úy Hà Văn Sơn ngồi trò chuyện với chúng tôi thêm một lát rồi xin phép ra ca trực gác cổng doanh trại. Ở cổng Trung đoàn, người làm nhiệm vụ gác không chỉ có chiến sĩ mà còn có cả sĩ quan. Buổi trưa hôm đó, khi tôi ra tiễn nhà văn Trần Ngọc Mỹ đón xe trở về, tôi lại gặp Thượng úy Hà Văn Sơn. Anh tươi cười chào chúng tôi.

Chỉ với hai ngày ở Trung đoàn 174, tôi không thể ghi lại hết những câu chuyện của những người lính trẻ, cũng không thể kể hết những chia sẻ của các cán bộ, sĩ quan mà mình đã gặp. Nhưng hai ngày ấy đủ để tôi hiểu thêm hai chữ “chủ lực”. “Chủ lực” là những tân binh sau những tháng miệt mài luyện rèn, là những người lính bắt sâu bằng tay trong vườn rau, cầm cuốc cầm xẻng đi thành hàng dài trên con đường giữa hai ao cá, là những người “thợ xây” lúi húi bên đống cát và bao xi măng, là người lính đang dọn dẹp bên vệ đường, thấy chúng tôi đi qua thì nghỉ tay, đứng lại chào. “Chủ lực” cũng là những dãy nhà mang màu áo mới, những chiếc giường được xếp ngay ngắn, những chiếc ba lô có tên từng người, và cả một “cụ đa” được giữ lại giữa một công trình mới.

Nhưng trên tất cả, “chủ lực” còn là một dòng chảy không đứt đoạn từ những người lính năm xưa đến những người lính hôm nay. Là những người đã nằm lại, những người trở về, những người kể lại câu chuyện của mình cho thế hệ sau. Và hôm nay, là những khuôn mặt trẻ măng đang ngồi chăm chú nghe chuyện Vị Xuyên, là những người lính vừa rời ghế nhà trường, đang học cách sống trong một tập thể, học cách kỷ luật mình, học cách hoàn thành nhiệm vụ và sẵn sàng bước tới khi Tổ quốc cần.

Tôi hiểu, hai chữ “chủ lực” mà Trung tá Nguyễn Khắc Đào nói với chúng tôi hôm chia tay, suy cho cùng, không chỉ để nói về một đơn vị lớn hay nhỏ. “Chủ lực” là những con người được rèn luyện để sống trong kỷ luật, trưởng thành trong tập thể và biết mình phải làm gì khi Tổ quốc cần. Ngày trước, những người lính Trung đoàn 174 bước vào chiến trường với súng trên vai. Hôm nay, những người lính trẻ vẫn bước đều trên những con đường trong doanh trại, có khi tay cầm cuốc, cầm xẻng, có khi đứng gác ở cổng đơn vị. Những bước chân ấy khác nhau về công việc của một thời đại, nhưng cùng gặp nhau ở một điều: Khi đất nước cần, họ biết mình phải bước lên phía trước...

Chuyển động mới của xiếc Việt

Chuyển động mới của xiếc Việt

Baovannghe.vn - Từ những màn diễn dựa trên kỹ thuật hình thể, xiếc Việt đang tìm cách mở rộng ngôn ngữ biểu đạt bằng công nghệ, câu chuyện và những cách tiếp cận mới với khán giả.
Cuộc đời và di sản nghệ thuật của nhà điêu khắc tài danh Điềm Phùng Thị

Cuộc đời và di sản nghệ thuật của nhà điêu khắc tài danh Điềm Phùng Thị

Baovannghe.vn - Với nhiều tư liệu, hình ảnh quý về cuộc đời và sự nghiệp của nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị, bộ phim tài liệu 7 quãng nhân sinh - Điềm Phùng Thị đưa khán giả nhìn lại hành trình sáng tạo và di sản nghệ thuật độc đáo của một trong những tên tuổi tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, người Việt Nam duy nhất được ghi danh trong từ điển Larousse - Nghệ thuật thế kỷ XX.
Hành trình trở về. Truyện ngắn của Việt Văn

Hành trình trở về. Truyện ngắn của Việt Văn

Baovannghe.vn- Hai giờ sáng. Cuối cùng tôi đã quyết định rời đi khỏi nơi tôi đang sống. Không còn một chút do dự.
Công bố thủ tục hành chính về bản quyền tác giả thuộc Bộ VHTTDL

Công bố thủ tục hành chính về bản quyền tác giả thuộc Bộ VHTTDL

Baovannghe.vn - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định 2949/QĐ-BVHTTDL về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực Bản quyền tác giả thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ.
Thông cáo báo chí số 20, Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI

Thông cáo báo chí số 20, Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI

Thứ Bảy, ngày 07/11/2026, ngày làm việc thứ hai mươi, Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI diễn ra tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội.