Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số đang tạo ra những biến chuyển sâu rộng đối với các ngành công nghiệp sáng tạo trên toàn cầu, điện ảnh Việt Nam đứng trước một bước ngoặt quan trọng: vừa tận dụng cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa phải xây dựng cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với môi trường sáng tạo mới.
Đó là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp trong nước, quốc tế trao đổi tại Hội thảo "Trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong điện ảnh", diễn ra chiều 30/6 tại Đà Nẵng, trong khuôn khổ Liên hoan Phim châu Á Đà Nẵng lần thứ IV (DANAFF IV).
![]() |
| Tiến sĩ Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, Giám đốc DANAFF IV phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: TTXVN. |
Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, Giám đốc DANAFF IV, cho rằng các chủ trương lớn của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia cũng như phát triển văn hóa Việt Nam đã mở ra nền tảng quan trọng để thúc đẩy công nghiệp điện ảnh theo hướng hiện đại.
Theo bà, điện ảnh Việt Nam đang có cơ hội trở thành một ngành công nghiệp văn hóa quan trọng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của AI là yêu cầu phải đổi mới mô hình sản xuất, quản trị, khai thác tác phẩm và bảo vệ tài sản trí tuệ. Việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, ứng dụng công nghệ hiện đại và xây dựng hệ sinh thái điện ảnh chuyên nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đặt mục tiêu đến năm 2030 lĩnh vực này đóng góp khoảng 7% GDP. Cùng với đó, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025–2035 cũng dành nguồn lực đáng kể cho văn hóa.
Theo Thứ trưởng, điều đó cho thấy văn hóa không chỉ là lĩnh vực phục vụ đời sống tinh thần mà đã trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, điện ảnh giữ vai trò đặc biệt bởi vừa là ngành sáng tạo, vừa góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra thế giới.
Ông cho biết, năm 2025 doanh thu phòng vé Việt Nam đạt gần 5.600 tỷ đồng với hơn 70 triệu lượt vé bán ra; phim Việt chiếm khoảng 62% thị phần và hơn 50 phim trong nước được phát hành trong năm. Những con số này cho thấy điện ảnh đã hình thành một thị trường có quy mô, có khán giả và có tiềm năng tăng trưởng, dù số lượt xem phim bình quân đầu người vẫn còn thấp so với một số quốc gia trong khu vực.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng phát biểu tại hội thảo. Ảnh: BVHTTDL. |
Các chuyên gia tại hội thảo đều thống nhất rằng AI đang làm thay đổi gần như toàn bộ chuỗi giá trị của ngành điện ảnh, từ phát triển kịch bản, thiết kế hình ảnh, tiền kỳ, hậu kỳ đến phát hành, quảng bá và phân phối tác phẩm.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, điện ảnh đang chuyển từ "thời đại khan hiếm công cụ" sang "thời đại dồi dào năng lực sáng tạo". AI có thể giúp rút ngắn thời gian sản xuất, giảm chi phí, hỗ trợ phục chế phim, tự động hóa phụ đề, lồng tiếng, phân tích dữ liệu khán giả và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh AI chỉ là công cụ mở rộng năng lực sáng tạo chứ không thể thay thế con người.
"AI không thể thay chúng ta kể câu chuyện Việt Nam. Nhưng AI có thể giúp chúng ta kể câu chuyện ấy tốt hơn, nhanh hơn, rộng hơn và xa hơn nếu chúng ta làm chủ được công nghệ và bảo vệ được giá trị sáng tạo", Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng khẳng định.
Theo ông, trong môi trường AI, bốn nguyên tắc cần được bảo đảm gồm: sự đồng thuận của người sáng tạo, tính minh bạch, chế độ thù lao hợp lý và trách nhiệm giải trình khi khai thác hình ảnh, giọng nói hay dữ liệu sáng tạo của con người.
Một trong những vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm là những thách thức mới đối với quyền tác giả khi AI tham gia ngày càng sâu vào quá trình sáng tạo.
Theo các chuyên gia, quyền sở hữu đối với tác phẩm có sử dụng AI, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể liên quan cũng như cơ chế bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo đang trở thành những vấn đề cấp thiết.
Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho rằng quyền sở hữu trí tuệ không nên chỉ được xử lý ở giai đoạn cuối của quá trình sản xuất mà cần được thiết kế ngay từ đầu dự án. Các hợp đồng trong bối cảnh AI cần xác định rõ nguồn dữ liệu, phạm vi sử dụng hình ảnh, giọng nói, dữ liệu huấn luyện, quyền khai thác và phân chia lợi ích.
Ông cũng đề xuất chuyển từ tư duy xử lý từng vụ vi phạm sang xây dựng một hệ thống quản trị bản quyền có khả năng vận hành thường xuyên, dựa trên dữ liệu và công nghệ, giúp việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm diễn ra nhanh chóng, hiệu quả hơn.
Một định hướng quan trọng được đưa ra tại hội thảo là xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ cho điện ảnh Việt Nam.
Theo đó, ngành điện ảnh cần từng bước hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về phim, bản quyền, phòng vé, bối cảnh quay, kho phim, dữ liệu vi phạm và các tiêu chuẩn kết nối dùng chung. Việc số hóa và quản trị dữ liệu không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn tạo nền tảng để phát triển các dịch vụ mới, hỗ trợ sản xuất, quảng bá và khai thác giá trị lâu dài của tác phẩm.
Các diễn giả quốc tế cũng chia sẻ kinh nghiệm từ Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác trong việc ứng dụng AI để xây dựng hệ sinh thái sáng tạo bền vững, đồng thời bảo vệ quyền tác giả trong môi trường số.
Ở góc độ doanh nghiệp, đại diện nền tảng TV360 nhận định AI mang đến nhiều cơ hội cho ngành điện ảnh nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ xâm phạm quyền tác giả, quyền dữ liệu và tính nguyên bản của tác phẩm. Vì vậy, các nền tảng số cần tham gia tích cực hơn vào việc xây dựng môi trường khai thác nội dung có bản quyền.
Các ý kiến tại hội thảo đều cho rằng AI sẽ tiếp tục làm thay đổi diện mạo ngành điện ảnh trong những năm tới. Vấn đề đặt ra không phải là công nghệ có thay đổi điện ảnh hay không, mà là xây dựng được một hệ sinh thái sáng tạo trong đó công nghệ, pháp luật và quyền của người sáng tạo cùng phát triển hài hòa, tạo nền tảng để điện ảnh Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số.