Khi mở cửa đón ông nơi 190 Phó Đức Chính, tất cả chị em chúng tôi đều sửng sốt như được gặp lại bố. Thật không thể tin được lại có sự tái hiện kỳ lạ vậy! Chúng tôi như bị sốc điện, không thể nói điều gì cho đến khi ông cười, ôm từng người, vỗ vai; “Chú đây! Trần Đĩnh đây!”
|
Trong những ngày ở lại nhà tôi, Uẩn, em trai tôi, đưa ông đến những nơi bố thường qua ăn sáng hay cà phê. Bà chủ quán bún đang bẻo lẻo cười buôn với khách, dẻo tay múc nước dùng bỗng trợn mắt, buông rơi cái muôi khi thấy ông. Ông vội lên tiếng trong tiếng cười xòa: “Xin lỗi... xin lỗi... Tôi là em ông Đạt đây.” Bà chủ quán vuốt ngực, thở phào: “Thảo nào... giống thế. Tôi lại cứ tưởng ông Đạt hiện về!” Và ông kể trong tiếng cười: “Sau đó, đến đâu có người quen bố cháu, chú cũng chủ động giới thiệu ‘Tôi là em ông Đạt’ để mọi người đỡ sốc, nhỡ đau tim thì chết!”
Đêm đầu, ông đề nghị được ngủ trong phòng bố, nơi gia đình đặt ban thờ. Ông đã dành gần như suốt đêm để đọc di cảo của bố, ngay cả cuốn lịch nhỏ xíu, cũ rách bố dùng để ghi các số điện thoại ông cũng đọc, thậm chí còn chú thêm “đã đọc” và ký tên.
Đọc di cảo của bố, nhất là Hậu ký vào XXI, (mà bản thân bố tự hỏi không biết vì sao lại viết?) ông đứng lặng rất lâu trước bàn thờ: “Chú có lỗi với bố cháu. Chú rất ân hận. Khi bố cháu hỏi và giục chú viết... Chú đã nói dối là chưa viết. Chú sợ bố mải vui khi được phục hồi... Mải vui với những mối quan hệ mới nên có thể sơ sẩy... Bố cháu đã thở dài và nghiêm túc nói: Cậu mà không viết thì sự có mặt của tụi mình trên đời này còn có ý nghĩa gì nữa.”
... Rồi ông nghiêm giọng nói với tôi: “Chú có mấy điều cần nói với cháu.”
- Điều thứ nhất: Khi viết về bố, cháu đừng bao giờ viết kiểu: “Cha tôi, nhà thơ Lê Đạt...” Thấy tôi chực tranh luận, ông giơ tay ngăn, nói tiếp: “Đừng bắt chước mọi người viết cái kiểu cha tôi, nhà nọ nhà kia X, Y, Z... Có khác gì tên hề trong chiếu chèo, mỗi khi xuất hiện lại vỗ ngực: “Như ta đây...” thật lố bịch! Hãy viết để làm sao người đọc thấy được bố Đạt, ra được chất bố Đạt!
Thấy tôi gật đầu nói đồng ý, ông tiếp tục:
- Điều nữa: Chú rất thích vẻ tự tin này của cháu...
Tôi vội phản ứng trong nước mắt:
- Chú nhầm rồi! Cháu là kẻ đầy mặc cảm... không sắc sảo, không thành công trong sự nghiệp... không đem lại được niềm vui cho bố... cháu không biết bố là ai... lại hay hỏi những câu ngớ ngẩn, thậm chí còn làm bố cháu bị tổn thương...
Ông vỗ vai tôi:
- Biết đâu bố lại mong cháu sống một cuộc đời như vậy, một cuộc đời bình thường... mà những câu hỏi tưởng ngớ ngẩn ấy giờ giúp cháu có những câu chuyện để kể đấy thôi.
Điều ông nói phần nào trấn an được nỗi tủi thân, giúp tôi tiếp tục những câu hỏi không giống ai của mình.
...
- Khi tiếng còi rú báo động trận bom B-52 đầu tiên, chú, bố cháu cùng chú CY đang đi dạo ở Bờ Hồ. Ngang qua báo Nhân Dân, chú CY rẽ về báo, vào hầm trú ẩn. Còn chú, đưa bố cháu về tận nhà.
- Chết, nguy hiểm thế? Sao chú không vào hầm trú ẩn giống chú CY?
- Bố cháu cũng “xua” chú về báo. Chú trả lời: Tớ đã suýt mất cậu một lần rồi. Nay tớ không dám mạo hiểm một lần nữa.
- Là sao ạ?
- Hồi đó chú đang học ở Trung Quốc. Nghe tin bố cháu “sảy chân”, đi ngược lại lý tưởng Cách mạng, chú giận lắm. Chú quyết không chơi với bố cháu nữa. Và chú đã làm những câu thơ kiểu: Ánh sáng không đi đường gấp khúc... để thể hiện thái độ.
Một chiều muộn của năm 1959, lúc chú đang loay hoay mở cửa nhà bà chị chú ở phố Hàng Đào, bố cháu đi qua. Bố bịt mắt chú, hỏi: “Đố cậu đoán được là ai?” rồi cười ha ha trách: “Sao cậu về mà không qua tớ?”... May mà bố cháu vô tư, không nhận ra vẻ lạnh lùng, xa cách của chú.
- Một chiều chú cùng bố cháu đi dạo, đến khúc đường Phùng Hưng cắt Trần Phú. Đúng lúc chặn đường để tàu hỏa đi qua. Đó là chuyến tàu chở thanh niên xung phong ra tiền tuyến. Các cô gái đều nhô đầu qua cửa sổ, vẫy những chiếc khăn tay và hào hứng hét to: “Xin chào!” “Tạm biệt!” Trong số đó có một cô gái vung chiếc khăn voan màu đỏ, chú chỉ và nói với bố cháu: “kìa, trông như cánh buồm đỏ thắm chở đầy hy vọng của Alexander Grin”.
Ngay chiều hôm sau, bố cháu khoe với chú bài thơ mới:
Chim ức lửa
Rouge gorge! Rouge gorge!
Dân ca Pháp
“Em vụt đến như mảnh tinh cầu vỡ
Ơi con chim ức lửa môi đòng
Thả đỏ đốt xứ đồng không anh nhớ
Một thoáng đào
nhen mấy độ hồng
Sương khói Bích Câu chiều
ai có giáng.”
(Trích trong tập Bóng chữ)
- Bố cháu còn kể chú nghe chuyện đêm Noel năm 1972, lúc B-52 ào đến, bố cháu nhảy xuống một chiếc hầm cá nhân ở phố Hàng Đào, chưa kịp kéo nắp thì một cô gái nhảy xuống. Cô gái xoa tay, nói trong tiếng thở gấp: “May quá! Không có ai!” còn bố cháu thì cố nép người vào thành hầm cố trở thành người vô hình, nhắm mắt, nhớ đến mẹ cháu đang lưu diễn ở Lạc Đạo để tránh bộ ngực nảy nở, cứ phập phồng lên xuống của cô gái.
Và những câu thơ cứ thế trào ra:
“Còi ủ
một cô gái… tuổi nước đầy tràn
vào ngực
sóng sáng nói trống không
May quá
Hầm dưới không có người
Cô gái về từ Lạc Đạo… Nô-en…
Giáng sinh… Mùa X hẹn
Nô-en B-52
Đất dữ ngoài xa bom nổ
Xanh độ đầu thuở bòng thơm em thở
Trời đạn hầm dạ hương
Chim đôi Nô-en mỏ hạt mầm trầm
Lạy Chúa
em ngậm xinh
Gió
thả đồng trinh phố ngỡ
Từ biệt Giáng sinh về nhà
Điện bỗng rực sáng… Fiat lux
Mở chiếc quay đĩa Nga bài
Xônát Xuân
Bê-tô-ven đĩa Mêlôđia rè cũ
Cặp viôlông-pianô (có phải Ôixtrắc và
Ôborin không) rời nhau khắc khoải
đêm bom… Tiếng lứa đòi tình
Nước mắt ròng ròng hệt cô gái vào thì lần
đầu xem tuồng Rômêo - Juyliét
Xa xa tàu bom ầm ì.”
(Trích di cảo Bước ký vào XXI - Lê Đạt)