![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Trong 5 ngày làm việc liên tục, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã mang đến một tư duy phát triển mới trong điều hành phát triển nền kinh tế. Đó là, từ điều hành theo yêu cầu của từng lĩnh vực sang kiến tạo một mô hình phát triển quốc gia đồng bộ, hiện đại và thích ứng với những biến động của thời đại. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và những thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, Việt Nam không thể tiếp tục phát triển theo mô hình cũ mà cần một hệ thống thể chế đủ mạnh để mở đường cho các động lực tăng trưởng mới.
Tại Hội nghị lần thứ ba, điều nhận thấy đầu tiên thể hiện quyết tâm của Trung ương chính là quyết định tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy định thi hành Điều lệ Đảng và ban hành quy định mới về những điều đảng viên không được làm. Đây không đơn thuần là sửa đổi kỹ thuật mà là bước hoàn thiện thể chế nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng Đảng cầm quyền trong điều kiện chuyển đổi số và tổ chức bộ máy mới.
| Trung ương thống nhất cao về 13 nội dung trình Hội nghị; quyết định ban hành Quy định sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng, nhấn mạnh đây là văn bản đặc biệt quan trọng để thi hành Điều lệ Đảng; ban hành quy định mới về những điều đảng viên không được làm, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và đồng bộ với các quy định của Đảng… Trung ương thông qua chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh; thống nhất ban hành Kết luận về sơ kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và các quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai, các luật có liên quan… |
Trong một chừng mực cụ thể, việc bổ sung các quy định liên quan đến hành vi trên không gian mạng, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cho thấy thể chế của Đảng đang được cập nhật theo những vấn đề mới của thực tiễn. Quan điểm kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy phòng ngừa, tự soi, tự sửa làm trọng tâm tiếp tục được khẳng định như một nguyên tắc xuyên suốt trong công tác xây dựng Đảng. Đây là vấn đề cốt lõi, phản ánh yêu cầu xây dựng một Đảng không chỉ trong sạch, vững mạnh mà còn có năng lực thích ứng với môi trường quản trị hiện đại, nơi dữ liệu, công nghệ và không gian số đang làm thay đổi phương thức lãnh đạo và quản lý.
Song song với công tác xây dựng Đảng nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, đổi mới mô hình phát triển đất nước hướng đến hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 là nội dung trọng tâm thứ hai của Hội nghị.
Tính đến thời điểm hiện tại, sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử về quy mô nền kinh tế, vị thế quốc tế và chất lượng đời sống nhân dân. Tuy nhiên, tại Hội nghị, Trung ương cũng nhìn nhận quá trình đổi mới mô hình phát triển còn chậm, trong khi đất nước đang đứng trước yêu cầu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030 và mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045. Do đó, việc thông qua Nghị quyết riêng về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam với tầm nhìn đến năm 2130 được xem là cần thiết và có ý nghĩa chiến lược quan trọng cho mô hình phát triển tổng thể của đất nước. Có thể nói, đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược, thể hiện tư duy phát triển dài hạn thay vì trước nay chỉ giải quyết các mục tiêu theo từng giai đoạn cụ thể.
Nghị quyết riêng cho phép hình thành mô hình phát triển mới hướng tới một nền kinh tế xanh, sáng tạo, dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất thông minh của châu Á, đồng thời phát triển con người toàn diện, giữ gìn bản sắc văn hóa và nâng cao năng lực thích ứng trước những biến động toàn cầu. Đây là sự chuyển dịch từ tăng trưởng dựa vào nguồn lực truyền thống sang tăng trưởng dựa vào tri thức, công nghệ và chất lượng thể chế.
Cũng tại Hội nghị, các nghị quyết được Trung ương đưa ra không được xây dựng riêng rẽ mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất giữa phát triển và bảo vệ. Cụ thể, Chiến lược an ninh quốc gia được xác định không chỉ nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền mà còn tạo môi trường ổn định cho phát triển nhanh và bền vững. Tư duy an ninh được mở rộng sang các không gian mới, các thách thức phi truyền thống và yêu cầu chủ động phòng ngừa rủi ro trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Cùng với đó, định hướng sửa đổi Luật Đất đai tiếp tục khẳng định đất đai là nguồn lực chiến lược của quốc gia. Điểm mới mang tính nhân văn là chuyển từ tư duy “bồi thường khi thu hồi đất” sang “tái thiết cuộc sống cho người dân”, bảo đảm người dân có điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Đây không chỉ là thay đổi chính sách mà còn phản ánh quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm.
Trung ương cũng xác định phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, gắn phát triển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đồng thời thông qua Nghị quyết xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa và phát triển, coi con người, văn hóa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng của phát triển bền vững.
Nếu giai đoạn trước trọng tâm là tinh gọn tổ chức bộ máy thì Hội nghị Trung ương 3 đặt ra yêu cầu cao hơn: Nâng cao chất lượng vận hành của cả hệ thống chính trị.
Trung ương khẳng định việc sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn là đúng đắn, nhưng mục tiêu cuối cùng không chỉ là giảm đầu mối mà phải nâng cao năng lực quản trị quốc gia, năng lực kiến tạo phát triển và hiệu quả phục vụ nhân dân. Đây là bước chuyển từ cải cách tổ chức sang cải cách chất lượng quản trị.
Quan điểm này cho thấy cải cách bộ máy chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra một nền hành chính hiện đại, minh bạch, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Song song với đó, Trung ương tiếp tục hoàn thiện các chủ trương về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Điều này khẳng định phát triển kinh tế không thể tách rời bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của nhân dân.
Nhìn tổng thể, các quyết sách của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đều hướng tới một mục tiêu thống nhất: Hoàn thiện thể chế để giải phóng mọi nguồn lực phát triển, đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản trị quốc gia.
Như vậy có thể thấy, tư duy điều hành đã chuyển mạnh từ giải quyết từng vấn đề riêng lẻ sang kiến tạo hệ thống phát triển đồng bộ; từ tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo; từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại; từ bảo đảm an ninh đơn thuần sang kiến tạo môi trường ổn định cho phát triển lâu dài.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “thành công của Hội nghị mới là bước đầu. Tình hình thế giới sẽ còn diễn biến nhanh, phức tạp, thời cơ và thách thức đan xen. Càng trong hoàn cảnh đó, càng phải kiên định mục tiêu, giữ vững nguyên tắc, đoàn kết, kỷ cương; chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.”
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu cao hơn và yêu cầu khắt khe hơn, các quyết sách của Hội nghị Trung ương 3 không chỉ giải quyết những vấn đề hiện tại mà còn mở ra không gian phát triển mới cho Việt Nam. Đó là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng, phát triển nhanh và bền vững vào giữa thế kỷ XXI.