Là Tràng An với những dãy đá vôi soi xuống mặt nước, Tam Cốc mùa lúa, cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, rừng Cúc Phương hay vùng đất ngập nước Vân Long. Hình ảnh ấy đã quá quen thuộc, đến mức ngay cả khi nhìn trên bản đồ, ít người hình dung Ninh Bình như một tỉnh có biển.
Sau cuộc hợp nhất Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình, cách nhìn ấy buộc phải thay đổi.
Ninh Bình mới có khoảng 92 km bờ biển, kéo dài qua một không gian cửa sông và duyên hải rộng lớn, với những địa danh như Thịnh Long, vùng biển Hải Thịnh, Giao Ninh, Giao Minh, rồi Vườn quốc gia Xuân Thủy ở cửa Ba Lạt. Năm con sông lớn gồm sông Hồng, sông Sò, sông Ninh Cơ, sông Đáy và sông Càn cùng đổ ra vùng biển này, tạo nên một địa hình đặc trưng của châu thổ Bắc Bộ: bãi bồi, cửa sông, rừng ngập mặn, vùng nuôi trồng thủy sản, làng chài và những dải dân cư bám biển.
Đó là một phần lãnh thổ mới trên bản đồ du lịch Ninh Bình. Ninh Bình sẽ làm gì với đường bờ biển ấy?
![]() |
| Một thoáng Ninh Bình. Ảnh: Ruslan Bardash |
Ngày 11/3/2026, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 75/KH-UBND về phát triển du lịch biển giai đoạn 2026-2030. Trong kế hoạch, Thịnh Long và Quất Lâm được xác định cần nghiên cứu định vị lại thương hiệu; các khu vực Hải Thịnh, Giao Ninh, Giao Minh được định hướng hình thành mô hình nghỉ dưỡng biển gắn với cộng đồng, làng nghề. Danh mục sản phẩm được tính đến cũng không dừng ở tắm biển mà mở sang sinh thái, ẩm thực, du lịch đêm, trải nghiệm làng nghề và những hành trình nối biển với di sản, tâm linh.
Cách tiếp cận ấy có lẽ hợp lý hơn việc cố biến vùng biển Ninh Bình thành một bản sao của Sầm Sơn, Hạ Long hay Cát Bà.
Sầm Sơn có lợi thế của một đô thị biển hình thành lâu năm. Hạ Long có vịnh. Cát Bà có đảo, rừng và một thương hiệu nghỉ dưỡng đã được định vị khá rõ. Biển Ninh Bình, nếu chỉ đặt lên bàn cân bằng bãi cát, hệ thống khách sạn hay mùa tắm biển, rất khó tìm được một ưu thế tuyệt đối. Nhưng dải duyên hải này lại có một thứ khác.
Đi từ biển vào đất liền không xa là làng muối, làng nghề, những xóm đạo, hệ thống nhà thờ, những vùng nuôi thủy sản và một đời sống nông nghiệp – ngư nghiệp vẫn còn hiện hữu. Đi theo các cửa sông lại gặp một hệ sinh thái ngập mặn rộng, nơi đất và nước chưa bao giờ thực sự phân chia rạch ròi.
Có lẽ vì thế, sản phẩm đáng chú ý nhất ở đây không phải một chuyến “đi tắm biển”, mà là một chuyến đi về vùng biển. Hai cách nói chỉ lệch nhau vài chữ, nhưng cách tổ chức du lịch lại rất khác.
Một buổi tắm biển có thể kết thúc trong vài giờ. Một vùng duyên hải có câu chuyện, có đời sống, có cảnh quan và có ẩm thực đủ sức níu chân người ta lâu hơn.
Thịnh Long không phải cái tên mới trên bản đồ du lịch miền Bắc. Khu du lịch này đã được khai thác từ nhiều năm trước, nhưng trong bối cảnh mới, nó đang được đặt vào một vị trí khác.
Ngày 28/4/2026, lễ khai mạc Mùa du lịch biển Ninh Bình được tổ chức tại Thịnh Long với chủ đề “Ninh Bình – Từ non thiêng đến biển rộng”. Trước đó, ngành du lịch tỉnh cũng tổ chức khảo sát điều kiện hạ tầng, dịch vụ và khả năng đón khách tại khu vực này.
Trong kỳ nghỉ từ 25/4 đến 3/5/2026, theo số liệu của Sở Du lịch Ninh Bình, riêng khu du lịch biển Thịnh Long đón hơn 329.000 lượt khách.
Một kỳ nghỉ lễ dài chưa đủ để chứng minh sức hút ổn định của một điểm đến. Nhưng ít nhất con số ấy cho thấy biển đã bắt đầu có một vị trí rõ hơn trong cách Ninh Bình giới thiệu chính mình. Vấn đề tiếp theo sẽ khó hơn: sau một mùa hè đông khách, Thịnh Long có gì để giữ chân du khách vào mùa thu, mùa đông hay đầu xuân? Câu trả lời có lẽ không nằm trên bãi cát.
![]() |
| Cảnh quan rừng ngập mặn Vườn quốc gia Xuân Thủy là vùng phòng hộ xung yếu của cửa Sông Hồng. Ảnh: CCD. |
Ở phía cửa Ba Lạt, Vườn quốc gia Xuân Thủy mở ra một thế giới hoàn toàn khác với hình dung thông thường về du lịch biển.
Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á. Tháng 9/2025, nơi đây tiếp tục được công nhận là Vườn Di sản ASEAN. Theo Trung tâm Đa dạng sinh học ASEAN, khu vực này ghi nhận 222 loài chim cùng nhiều dạng sinh cảnh đặc trưng như rừng ngập mặn, bãi triều, cồn cát, đầm nuôi thủy sản và vùng nước lợ cửa sông.
Người ta đến đây không phải để tìm một bãi tắm đẹp. Một buổi sáng ở Xuân Thủy có thể bắt đầu bằng chiếc thuyền nhỏ chạy theo con nước, qua những bãi bồi còn loang dấu phù sa. Mùa chim di trú, khách tìm đến với ống nhòm và máy ảnh. Những ngày khác, chuyến đi có thể men theo rừng ngập mặn, ghé vùng đệm, đi vào những làng quê sống dựa vào biển và cửa sông. Đó là một kiểu du lịch chậm hơn, ít ồn ào hơn. Và cũng khó làm hơn.
Bởi tài nguyên quan trọng nhất ở đây chính là sự nguyên vẹn của tự nhiên. Chỉ cần quy hoạch quá tay, xây dựng quá dày hoặc để du lịch đại trà lấn sâu vào những sinh cảnh nhạy cảm, phần hấp dẫn nhất của Xuân Thủy có thể mất trước cả khi nó kịp trở thành một sản phẩm du lịch có giá trị.
Bởi vậy, nếu Thịnh Long và Quất Lâm cần những khu lưu trú, dịch vụ tốt hơn, thì Xuân Thủy lại cần một thái độ khác: tiết chế hơn, chọn lọc hơn, lấy quan sát thiên nhiên và trải nghiệm cộng đồng làm trọng tâm. Không phải nơi nào có biển cũng cần một dãy khách sạn hướng biển.
Rời Xuân Thủy, đi sâu vào những làng ven biển, cảnh quan thay đổi khá nhanh. Có làng muối Bạch Long, nơi nghề làm muối còn gắn với nhịp sống của cư dân duyên hải. Có nghề kèn đồng Phạm Pháo. Có những vùng cây cảnh, làng nghề và một hệ thống nhà thờ tạo nên cảnh quan rất riêng của vùng Nam Định cũ.
Trong chương trình Mùa du lịch biển 2026, Ninh Bình đã chủ động đưa những yếu tố ấy vào cùng câu chuyện quảng bá biển. Đây là một chi tiết đáng chú ý.
Du lịch biển thường dễ bị thu hẹp vào bãi tắm và hải sản. Nhưng ở dải duyên hải Ninh Bình, biển đi vào trong đất khá sâu, không chỉ bằng nước mặn mà bằng cả cách sống. Những làng nghề, những xóm đạo, cánh đồng muối, bến cá hay món ăn đều hình thành từ mối quan hệ lâu dài giữa con người với biển. Nếu kể được câu chuyện ấy, một chuyến đi sẽ không còn gói trong vài giờ tắm biển.
Khách có thể sáng đi rừng ngập mặn, trưa ăn sản vật cửa biển, chiều ghé làng muối, làng nghề hoặc một xóm đạo, tối nghỉ ở Thịnh Long. Ngày hôm sau lại đi tiếp vào vùng đồng bằng, Thành Nam, Phủ Dầy, Đền Trần hoặc ngược lên những vùng di sản phía trong.
Đường đi ấy không hề xa lạ với cư dân địa phương. Cái mới là biến nó thành một hành trình đủ hấp dẫn.
Ẩm thực có lẽ là phần dễ tiếp cận nhất trong câu chuyện này. Hải sản thì vùng biển nào cũng có. Nhưng mỗi vùng lại có cách đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và ăn uống khác nhau. Nếu chỉ dựng lên những dãy nhà hàng cùng một thực đơn quen thuộc, Ninh Bình khó tạo được lý do để khách nhớ đến mình.
Kế hoạch phát triển du lịch biển 2026-2030 đã đưa ẩm thực vào nhóm sản phẩm cần được xây dựng. Trong Mùa du lịch biển 2026, các hoạt động giới thiệu sản phẩm OCOP, đặc sản và ẩm thực địa phương cũng được tổ chức song song với các chương trình khảo sát dành cho doanh nghiệp lữ hành. Đằng sau những gian hàng ấy là một câu chuyện lớn hơn.
Một món ăn có thể dẫn người ta trở lại nơi con nguyên liệu được nuôi hoặc đánh bắt. Một bữa cơm có thể nối với chợ cá, làng chài, ao đầm, mùa vụ và cả những tập quán ăn uống đã tồn tại nhiều đời. Khi ấy, ẩm thực không còn là dịch vụ sau chuyến tham quan. Nó trở thành chính chuyến tham quan. Với vùng duyên hải Ninh Bình, nơi nuôi trồng thủy sản, nghề muối, làng chài và nông nghiệp cùng tồn tại trong một không gian khá gần nhau, đây là một lợi thế không nhỏ.
![]() |
| Bãi tắm Giao Ninh |
Sự hấp dẫn của biển luôn kéo theo áp lực xây dựng. Khách đến đông, nhu cầu lưu trú tăng, rồi đường sá, nhà hàng, khu vui chơi và bất động sản du lịch nhanh chóng tìm đến. Đó là câu chuyện đã xảy ra ở nhiều vùng biển. Ninh Bình hiện vẫn còn một khoảng thời gian để lựa chọn cách đi khác.
Kế hoạch phát triển du lịch biển của tỉnh đặt các nhiệm vụ về điều tra tài nguyên, quản lý rác thải, đánh giá chất lượng bãi tắm và quy hoạch các không gian sinh thái triều, rừng ngập mặn ngay từ giai đoạn đầu.
Những việc ấy nghe có vẻ kỹ thuật, nhưng thực chất quyết định diện mạo của vùng biển sau này.
Thịnh Long, Giao Ninh có thể cần được chỉnh trang, nâng cấp dịch vụ và cơ sở lưu trú. Những vùng cửa sông, bãi bồi, rừng ngập mặn lại cần một giới hạn khác. Ở đó, đôi khi giá trị nằm chính ở khoảng trống, ở đường chân trời thấp, ở một bãi bồi chưa bị chia cắt bởi bê tông. Giữ được những khoảng ấy cũng là giữ vốn cho du lịch.
Biển Ninh Bình có một lợi thế mà nhiều địa phương ven biển khác không dễ có: phía sau nó là một vùng di sản rộng. Từ Thịnh Long hay Xuân Thủy, du khách có thể đi vào không gian Thành Nam, tới Đền Trần, Phủ Dầy, những làng nghề, những công trình Công giáo; xa hơn nữa là Hoa Lư, Tràng An, Tam Cốc, Bái Đính, Tam Chúc.
Không phải tour nào cũng cần đi hết những điểm ấy. Nhưng bản thân khả năng nối chúng với nhau đã tạo nên một lựa chọn mới. Khách du lịch có thể đến Ninh Bình vì Tràng An rồi kết thúc chuyến đi ở biển. Hoặc đến biển trước, đi dọc vùng cửa sông, qua những làng quê đồng bằng rồi tiến dần về vùng núi đá phía tây. Đó là một hành trình có nhiều lớp cảnh quan mà không cần rời khỏi địa giới một tỉnh.
Năm 2026, Ninh Bình chọn câu “Từ non thiêng đến biển rộng” để gọi tên mùa du lịch biển. Nếu nhìn rộng hơn, đó cũng có thể là một cách hình dung về bản đồ du lịch mới: núi không đứng tách khỏi đồng bằng, đồng bằng không dừng lại trước cửa biển.
Vấn đề không phải làm cho tất cả những nơi ấy giống nhau. Ngược lại, Thịnh Long cần giữ nét của Thịnh Long, Xuân Thủy phải vẫn là Xuân Thủy, những làng muối, làng chài, xóm đạo cũng cần giữ đời sống riêng của mình. Du lịch chỉ thực sự có chiều sâu khi khách đi qua nhiều nơi mà vẫn nhận ra mỗi nơi một khuôn mặt.
Khi ấy, gần 92 km bờ biển sẽ không chỉ là phần lãnh thổ mới được cộng thêm trên bản đồ Ninh Bình. Nó có thể trở thành một cánh cửa khác của vùng đất này: mở từ phù sa, rừng ngập mặn, làng chài và những xóm làng duyên hải ra biển.
Một Ninh Bình hướng ra biển, nhưng không bỏ lại phía sau những lớp văn hóa đã làm nên vùng đất.