Nhưng dám đẩy người nữ đến tận cùng nghịch cảnh, can qua, bể dâu trên cõi trần gian thì không ai/ở đâu bằng Thùy Dương trong Hồi sinh. Ở đó có vẻ như ngòi bút nhà văn khách quan, lạnh lùng, đôi khi không nương tay. Nhưng đọc và ngẫm ngợi, rồi tỉnh trí, mới thấy trái lại, nhân vật và người “đẻ” ra nó lại như cùng “đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu”. Mỗi trang văn như đều phập phồng những tiếng thở dài và thấm đẫm cả những giọt nước mắt được giấu kín. Bộ ba nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồi sinh là Phượng, Tuệ, Cầm “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Nhưng Phượng là khối nam châm lớn nhất, có từ trường lớn và mạnh nhất đủ sức thu hút vào mình nhiều xung lực, điều phi lí, thậm chí nhiều đỏng đảnh và trớ trêu của số phận đúng như những câu thơ đầy ám ảnh của Lermotov: “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên.”
|
Phượng về làm dâu trong một gia đình Hà Nội gốc, gia phong nề nếp, kinh tế đủ đầy, không lo cảnh chạy ăn bữa sáng lo bữa tối như tình cảnh gieo neo chung của toàn xã hội lúc bấy giờ. Nhìn bề ngoài, Phượng khiến người khác phải so đo, phân bì vì sự viên mãn do run rủi may mắn hay ơn trời ban phát. Tuy nhiên mấy ai có thể cân đo, đong đếm được bao nhiêu nước mắt, nhiều khi phải nuốt vào trong của cô khi buộc phải chấp nhận chồng mình từ chỗ lén lút dan díu sau công khai ăn ở, sống với em dâu (vì em trai chồng không phải... đàn ông đích thực). Một “khổ nạn đích lịch trình” đang chờ đón Phượng ở phía trước.
Theo lí bình thường giữa Phượng và cô em dâu chỉ có thể tồn tại mối thù “bất cộng đới thiên”. Ấy thế mà sự đời nước mắt soi gương, lại rẽ sang lối khác. Người đàn bà đau khổ như cây sậy yếu đuối ấy sau cùng lại có những hành động cảm thông, thứ tha cho người em dâu cướp chồng của mình. Phượng đã sống khác với tất cả định kiến, rào cản, hành động mà mọi người đều nghĩ tới nếu ở trong hoàn cảnh của cô. Sau cuộc tan đàn xẻ nghé, Phượng nhận nuôi con trai, bằng mọi cách đưa con sang Mĩ du học, chăm sóc bố chồng già yếu bệnh tật... với một tâm trạng nhẹ nhõm. Và cô đã có những phút giây ngắn ngủi được sống là chính mình với một người đàn ông ngoại quốc kém tuổi, theo kiểu “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Trước đây, nhà văn chúng ta thường ít khi nghĩ đến phương pháp/cách thức điển hình hóa nghệ thuật những cái cá biệt (có thể dị biệt theo phép grotesque). Phượng là một “ca” (trường hợp) dị biệt nhưng có ý nghĩa điển hình cho trạng thái tinh thần “Tình thương cứu rỗi thế giới”, sát thực và hữu dụng hơn triết luận thấm đậm chất không tưởng “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Quá trình chuyển hóa tình cảm và hành xử của Phượng với cô em dâu, có thể nói dưới ánh sáng của triết lí Phật giáo - là diệu pháp tu thân tích đức.
Một kết thúc bi thương không ai mong muốn khi bạo bệnh đã cướp đi mạng sống của cô em dâu và dịch bệnh (Covid-19) đã cướp đi sự sống của người chồng cũ ở xứ người. Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí khi cả mẹ chồng và bố chồng cũng ra đi vì tuổi già sức yếu, đẩy Phượng vào cảnh tang gia bối rối, thân cô thế cô. Cơ hồ như Phượng đã gục ngã. Tưởng như thần chết chỉ mang lại sự hủy diệt hoàn toàn sự sống của Phượng và gia đình. Nhưng kì lạ thay, có những cái chết gieo mầm sự sống. Phượng từ trong đau khổ lại quật khởi vùng đứng lên. Từ trong hủy diệt lại tái sinh và hồi sinh nhân tính theo quy luật “nhân chi sơ tính bản thiện”. Ai đó nói không phải không có lí và thuyết phục rằng, Hồi sinh là một biểu trưng của nghệ thuật ngôn từ hướng tới, vì “nhân vị”. Nó khích lệ con người sống đẹp hơn, sống tốt hơn. Cái nhìn viễn kiến của nhà văn qua hình tượng Phượng là một cuộc đối thoại bằng nghệ thuật ngôn từ về xu hướng phát triển của con người cuối cùng hướng tới chân - thiện - mĩ, thay vì lời than thở đầy bi quan và lo lắng rằng con người đang xấu đi, đang trở nên độc ác hơn (?!). Đúng như những câu thơ của thi sĩ Lưu Quang Vũ: “Nếu tất cả là điều xấu xa/ Vì sao cây táo vẫn nở hoa” (Phố ta).
Trong Hồi sinh, người kể chuyện không độc quyền đứng ở vị trí hay ngôi duy nhất nào (cái tôi chủ quan hoặc khách quan toàn tri). Câu chuyện được kể lại trong một “giao diện”, “biên độ” lớn với sự tham gia của nhiều nhân vật định vị từ nhiều góc độ khác nhau: Ba cô bạn ruột Phượng, Cầm, Tuệ luân phiên cầm trịch, chiếm diễn đàn tự sự, đã đành. Nhưng không thể thiếu tự sự của bố mẹ chồng, chồng và em trai chồng, con trai của Phượng với chồng cũ, cô em dâu, chị giúp việc, vị bác sĩ, người tình ngoại quốc của Phượng... Như thế, đối thoại thay cho độc thoại, đa thanh thay cho đơn thanh. Trong âm nhạc, đó là cách thức của dàn nhạc hợp xướng gồm nhiều bè, nhiều tone. Dĩ nhiên thì Phượng vẫn đóng vai trò “chủ âm”. Phương pháp viết của Thùy Dương trong Hồi sinh, tôi tạm gọi là phương pháp “soi gương” - người khác là gương soi của người này và ngược lại. Hơn thế, có thể mường tượng ra trong mỗi ngôi nhà, thậm chí từng căn phòng đều gắn gương, mỗi bước đi hay động thái, phát ngôn của một người đều hiển hiện tư thế, kể cả tâm trạng. Tôi gọi đó là “phương pháp lập thể” khi đối tượng được soi chiếu, tái hiện từ nhiều phía (góc độ). Do đó mỗi con người/nhân vật đều mang tính chất “đa nhân cách”. Không phân tuyến xấu - tốt, thiện - ác, tích cực - tiêu cực. Con người thực sự là sự tổng hòa các quan hệ xã hội và cũng là tổng hòa các quan hệ tự nhiên. Thậm chí, con người/nhân vật (nhất là nữ giới) còn được tiếp cận từ bản thể và bản năng gốc (điển hình là vợ chồng cô em dâu của Phượng).
Câu chuyện được kể trong Hồi sinh là một câu chuyện buồn. Tất nhiên. Nhưng là nỗi buồn mang gương mặt đẹp. Cái đẹp trong tái sinh, phục sinh, hồi sinh. Hồi sinh tính bản thiện. Hồi sinh lòng nhân ái, vị tha, cứu rỗi, hi sinh, dâng hiến. Niềm vui có thể là không thật. Nhưng nỗi buồn thì luôn luôn thật. Câu chuyện của Phượng đúng là ứng với tiên tri của đại thi hào Nguyễn Du: “Đời là bể khổ tình là dây oan.” Tuy nhiên, buồn không phải là giọng điệu bao trùm chi phối mọi cảnh ngộ, tâm trạng, kết cục của con người/nhân vật. Bi kịch xen lẫn hài kịch, chính kịch. Lối viết cực tả xen với chất giọng trữ tình - lo âu khiến cho văn phong của tác phẩm có sự hòa âm các sắc màu thẩm mĩ. Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết dễ đọc nhưng không hề dễ quên. Bởi nó để lại nhiều ấn tượng và dư ba về một nỗi niềm cháy lên thành khát vọng muôn thuở “Tình thương cứu rỗi thế giới”.