Thế kỷ XX đã khép lại được 26 năm. Đó là thế kỷ mà trí năng không phải lúc nào cũng kiểm soát được đời sống. Một thế kỷ mà loài người tiếp tục đối diện với nghèo đói, bạo lực, ô nhiễm môi trường và cô đơn tập thể trong sự bất khả kháng đang trở thành trạng thái phổ biến của thế giới. Một thế kỷ mà trật tự thế giới luôn được điều chỉnh trước những biến động chính trị và sự phân cực của các hệ thống quyền lực, nhưng con người thì vẫn bị lãng quên ngay trong chính những việc mà người ta thực hiện nhân danh lợi ích của con người. Một thế kỷ mà loài người vẫn chưa tìm ra chìa khoá đích thực mở đường cho tiến bộ xã hội, và bản thân đời sống hiện đại, về một phương diện nào đó, vẫn chỉ là sự kéo dài của những giá trị thời Trung cổ, trong những hình thức mới của nó mà thôi! Con người chuyển từ trạng thái bất khả kháng sang trạng thái không số phận (tên một tác phẩm văn học đoạt giải Nobel của Kertész Imre) - một hình thức mới của sự tha hoá, hệ quả của sự cưỡng đoạt số phận cá thể.
![]() |
| Nhà thơ Trương Đăng Dung |
Trong bối cảnh đó, không phải chỉ có tiểu thuyết cần phải khám phá những khía cạnh mới, phức tạp và bí ẩn hơn của đời sống. Và cũng không phải chỉ có tiểu thuyết đang đứng trước nguy cơ bất lực trong việc khám phá cái bản thể của tồn tại người, vốn đã bị tư duy giáo điều với các hệ thống quy ước đầy tính thực dụng của thời hiện đại bỏ quên, mà ngay cả thơ hiện đại cũng đang ở trong tình thế đó.
Để hiểu được tình thế của thơ hiện đại, nhất là quá trình tạo lập phẩm giá của thơ, tham luận này muốn tiếp cận ba vấn đề sau trong cái nhìn kết nối giữa hai phương pháp nội quan và ngoại quan.
Chúng ta biết rằng, “thơ ca tồn tại trong môi trường ngôn ngữ, qua đó, tất cả mọi nội dung đều được nắm bắt như là những biểu tượng” (Karl Jaspers). Khi lí luận văn học hiện đại nhận thức được văn bản văn học là một hệ thống kí hiệu, là trung tâm tạo nghĩa và tính chất mở của văn bản văn học có từ đặc trưng bản thể của kí hiệu ngôn ngữ, thì nhiều vấn đề liên quan đến phương thức tồn tại của tác phẩm văn học đã được nhìn nhận lại. Khi M. Heidegger cho rằng lời nói không chỉ hoàn toàn là các kí hiệu, lời nói vừa hướng đến người nghe vừa đặt điều kiện cho người đó phải nỗ lực hướng về sự hiểu, chính là ông đã gợi ra những ý tưởng quan trọng trong việc nghiên cứu vấn đề nghĩa và sự tạo nghĩa của văn bản văn học thông qua hoạt động tiếp nhận.
Theo M. Heidegger, ngôn ngữ có khả năng tạo lập một đời sống riêng trong quan hệ với người nghe, độc lập với chủ ý của người phát ngôn. Như vậy, điều mà nhà thơ chủ ý gửi gắm qua bài thơ không phải lúc nào người đọc cũng nhận ra, hoặc điều người đọc nhận ra không phải lúc nào cũng trùng khớp với điều mà tác giả gửi gắm. Những khám phá về bản chất của ngôn ngữ, giúp chúng ta tiếp cận với bản chất của cái chất liệu làm nên văn bản văn học, từ đó hiểu được bản chất của quá trình tạo nghĩa một bài thơ qua tiếp nhận. Trên cơ sở những thành tựu của lí luận văn học hậu hiện đại (giải cấu trúc), chúng ta hiểu rằng nghĩa của một văn bản thơ không ổn định, nó mang tính quan hệ và được tạo nên do một quá trình. Tiếp theo khái niệm nghĩa tồn tại của lí luận văn học hiện đại là khái niệm nghĩa được thiết lập của lí luận văn học hậu hiện đại. Câu hỏi về một bài thơ được hình thành như thế nào sau khi nhà thơ viết ra, cho xuất bản, sẽ liên quan đến vấn đề phương thức tồn tại của tác phẩm văn học. Có hai vấn đề đặt ra ở đây: Một là tính chất ngôn ngữ, cái quyết định đặc trưng văn học của văn bản; hai là khả năng tạo lập một đời sống cụ thể của văn bản văn học trong quan hệ với người đọc. Vậy là, để có được phẩm giá cao quý, bài thơ cần được một người đọc có phẩm giá đọc, hiểu và nhận ra giá trị của nó. Bài thơ dù được sáng tạo theo thi pháp tất yếu nào thì cũng đều phải mở theo các kiểu đọc, “mỗi kiểu đọc mang tới cho tác phẩm một đời sống mới từ một triển vọng nào đó theo thị hiếu cá nhân của người đọc” (Umberto Eco). Chính vì lẽ đó, có thể nói rằng chưa bao giờ trên thế giới có sự phân hoá sâu sắc giữa các tầng lớp trong xã hội trước các giá trị văn học như hiện nay, với các nhóm độc giả có thị hiếu thẩm mỹ khác nhau, lựa chọn và tiếp nhận các tác phẩm văn học cũng khác nhau. Các nhà thơ cần chấp nhận thực tế là mỗi nhà thơ có một cộng đồng diễn giải riêng, với những khả năng và giới hạn riêng. Nhà thơ không lựa chọn được người đọc, mà người đọc lựa chọn nhà thơ. Mới hay, phẩm giá của thơ hình thành từ nhiều yếu tố, trong quá trình tương tác giữa bài thơ và hồn thơ người đọc.
Thơ không thể tiếp cận được bản chất của tồn tại người ở một bình diện duy nhất, bởi vì đời sống không chỉ có một bề mặt, nơi các sự việc xảy ra tiếp nối nhau. Thơ tiếp tục bước đi từ nơi mà khoa học, triết học và tôn giáo dừng lại. Nói thơ khám phá và giãi bày bản thể một cách tự nguyện là vì vậy. Nghịch lý là ở chỗ thơ không thể tiếp cận các sự kiện của đời sống bằng quy luật nhân quả hay bằng sự quy chiếu nào đó thông qua việc mô tả mà chúng ta đã thấy ở tư duy nghệ thuật tiền hiện đại, nhất là ở mô hình phản ánh nghệ thuật, vì đời sống không chỉ có các sự việc xảy ra liên tục, được ẩn dấu nơi bề mặt. Thơ hiện đại luôn phải đối diện với cái bên trong và cái bên ngoài; giữa tự do và thực tại; giữa ấn tượng và lí trí; giữa giới hạn và khát vọng.
Thi sĩ hiện đại muốn hiểu và xác lập chính mình thông qua tác phẩm, khám phá những bí ẩn của thế giới trong những bí ẩn của bản thân mình. Thơ ngày càng đi sâu khám phá cái tôi bản thể một cách tự nguyện, khám phá thế giới bên ngoài thông qua thế giới bên trong của cái tôi. “Thơ trữ tình hiện đại thường xuyên bóp méo cấu trúc của hiện thực để giữ lại cấu trúc của cái tôi” (Ch. Caudwell). Các nhà thơ nhận ra rằng cần phải để cho tồn tại cá nhân trở thành cái phổ quát. Chúng tôi đồng ý với nhận định của nhà phê bình Nguyễn Thanh Tâm, khi anh cho rằng cần phải có vẻ đẹp nghiêm khắc của sự tồn sinh cá nhân, cái phổ quát mới thực sự có ý nghĩa. Đây là cách để thi sĩ nói ra một điều gì đó, không dừng lại ở việc chỉ nói về một điều gì đó (chữ dùng của Berdyaev) bằng những mô tả, kể lể.
Văn học nói chung, thơ nói riêng, không phát triển theo một tiến trình liên tục, bình yên với sự thay thế của các xu hướng sáng tác có đẳng cấp cao hơn vào vị trí của những xu hướng sáng tác thấp hơn, mà thực chất đó là quá trình phá vỡ quyền bá chủ của các nguyên tắc và hình thức đã được chấp nhận và quy phạm hoá trong nghệ thuật. Chúng ta không nên chỉ nói về cái mới trong văn học với sự vượt trội của nó trước cái cũ, vì cái mới không chỉ là phạm trù mỹ học, nó đồng thời là phạm trù lịch sử, nếu chúng ta ý thức được yếu tố lịch sử nào đã làm cho một hiện tượng văn học lạ trở thành cái mới, cũng như thiết chế văn hoá, xã hội nào đã kìm hãm hay ủng hộ nó. Bản chất của sự đổi mới văn học là sự điều chỉnh những chuẩn mực thẩm mỹ của một cộng đồng sáng tạo và tiếp nhận, thậm chí đó là sự phá vỡ những chuẩn mực của nhà văn, vì cái mới luôn là thước đo của chất lượng thẩm mỹ trong sáng tạo nghệ thuật. Và bản chất của chuẩn thẩm mỹ là nó phải bị phá vỡ, bị vượt lên, chính trong sự phá vỡ thường xuyên các chuẩn mực (bao gồm cả hình thức và tư tưởng nghệ thuật) đã có mà văn học có được sức mạnh đổi mới liên tục.
Trong một bài viết cách đây nhiều năm, tôi có đặt ra những câu hỏi rằng bước vào thế kỷ XXI, con người có thể làm gì trong một thế giới mà đến nỗi đau cũng cũ? Con người có thể làm gì để vượt lên những ngộ nhận và giới hạn nhục nhã do chính con người tạo ra? Chúng ta đã chứng kiến những ngộ nhận và giới hạn trong quan hệ giữa các quốc gia, tôn giáo và những cộng đồng người khác nhau, đã, đang huỷ hoại công cuộc làm người bình thường nhất. Những ngộ nhận và giới hạn trong các thành tựu khoa học, công nghệ và cách mà con người vận dụng chúng đang gây nên những hậu quả khôn lường ở nhiều lĩnh vực đời sống. Chúng ta có thể nói một cách khái quát rằng lịch sử loài người là lịch sử của nỗi lo âu, sợ hãi. Xã hội loài người phát triển đồng thời với nỗi lo âu mới, sau nỗi lo sợ có nguồn gốc tự nhiên là nỗi lo sợ có nguồn gốc tôn giáo và bây giờ là nỗi lo sợ có nguồn gốc xã hội. Con người đi từ nỗi sợ Thiên nhiên, sợ Thượng đế đến sợ con người. Sau Dostoyevski, các tác phẩm của Franz Kafka đã cho thấy nguyên nhân bị lưu đày và tình thế của con người trong thế giới hiện đại: Con người bị tước mất khả năng tìm hiểu và thiết lập quan hệ với thế giới một cách bình thường, vì con người không phải là chủ nhân mà là nạn nhân của thế giới. Thơ có thể làm được gì trong một thế giới mà con người tiếp tục bị lãng quên? Thơ có thể và cần phải nói được nhiều hơn về con người, theo cách của thơ, với nỗ lực đánh thức tình thương và sự cảm thông nhân loại. Xin miễn cho thơ sự thần thánh hoá, cấp cho nó những chức năng, nhiệm vụ cao cả đến mức thơ không thể và không bao giờ thực hiện được! Xin đừng lôi kéo thơ vào mục đích xa lạ, làm sơ lược hoá thơ và sơ lược hoá con người! Để kết thúc, tôi xin chia sẻ ý kiến của nhà thơ Tô Thuỳ Yên: “Thơ là con đường trải dài của thời gian, nối liền quá khứ và hiện tại nhằm hướng đến tương lai, không gián đoạn, trong nỗ lực xác nhận sự đồng nhất của hồn người toàn vẹn. Nếu lịch sử là nỗ lực mô tả những diễn biến cụ thể của thời gian thì thơ, một cách khái quát, là lịch sử trừu tượng của thời gian, là phần hồn thiêng của lịch sử”. [1]
[1] Tô Thuỳ Yên, Tạp chí Quán Văn, số 81, tháng 5/2021
- Tham luận tại hội thảo "Phẩm giá của Thơ ca"