Diễn đàn lý luận

Văn học ứng dụng với đời sống đương đại - Từ lí luận tới thực tiễn

Phạm Phương Chi - Trần Thu Hòa
Lý luận phê bình 07:00 | 11/04/2026
Baovannghe.vn - Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kì mới nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác và sử dụng hiệu quả các sản phẩm văn học, nghệ thuật ở Việt Nam.
aa

Trong bối cảnh đó, hướng tiếp cận văn học ứng dụng có thể được xem như một nhu cầu tất yếu gắn với mục tiêu xây dựng và phát triển quốc gia. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, văn học ứng dụng với tư cách một hướng nghiên cứu và giảng dạy vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Bài viết này giới thiệu khái niệm văn học ứng dụng và cơ sở thực hành của lĩnh vực này, đồng thời điểm qua một số hoạt động nghiên cứu văn học ứng dụng ở Việt Nam và trên thế giới.

1. Khái niệm

Theo Behin, văn học ứng dụng là việc đưa văn học vào phục vụ các mục đích thực tiễn. Dù chưa có định nghĩa thống nhất, từ lâu, Howe đã xem văn học La Mã như một hình mẫu ứng dụng, khi văn học được sử dụng để giáo dục công dân và giá trị xã hội, khác với tính lí tưởng của văn học Hi Lạp. Thực tiễn này thể hiện qua việc sử thi Aeneid được dùng trong giảng dạy hùng biện. Ở góc nhìn khác, Maciejewski cho rằng văn học ứng dụng hình thành trong một “không gian thứ ba”, nằm ngoài phạm vi văn học theo nghĩa hẹp. Từ đó, có thể hiểu văn học ứng dụng chủ yếu nhấn mạnh việc sử dụng văn học một cách có mục đích trong các hoạt động như giáo dục và truyền thông.

Văn học thuần túy thường được coi là hình thức “bậc cao”. Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng văn học không thể tồn tại hoàn toàn vô mục đích và tách rời khỏi đời sống tiếp nhận. Trên thực tế, ngay cả khi tác giả không có chủ đích ứng dụng, độc giả vẫn có thể vận dụng văn học trong đời sống. Trường hợp nhân vật Dorian Gray cho thấy một tác phẩm mang tinh thần vị nghệ thuật vẫn có khả năng tạo ra những ảnh hưởng thực tiễn, tiêu biểu là sự hình thành khái niệm “Hội chứng Dorian Gray” trong nghiên cứu tâm lí học, liên quan đến nỗi sợ lão hóa và ám ảnh về hình ảnh bản thân. Điều này gợi ra rằng văn học khó có thể tách rời khỏi đời sống xã hội; ngay cả văn học thuần túy cũng luôn tiềm ẩn khả năng được tiếp nhận và ứng dụng theo những cách khác nhau.

Văn học ứng dụng (applied literature) thường được đặt cạnh các lĩnh vực như ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics) hay sự áp dụng văn học (literary application). Nếu ngôn ngữ học ứng dụng hướng tới giải quyết các vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội, thì văn học - với tư cách một hình thức diễn ngôn nghệ thuật - cung cấp những chất liệu quan trọng cho các thực hành này, trong khi ngôn ngữ học về văn học lại áp dụng các lí thuyết ngôn ngữ vào việc nghiên cứu văn bản văn học. Tuy vậy, ranh giới giữa các lĩnh vực này không thực sự rõ ràng do thiếu sự thống nhất trong định nghĩa. Pettersson cho rằng sự áp dụng văn học là quá trình người đọc liên hệ các yếu tố trong văn bản với đời sống thực tế. Tuy nhiên, cách hiểu này chủ yếu nhấn mạnh hoạt động tự phát của người đọc. Vì vậy, có thể thấy văn học ứng dụng có nội hàm rộng hơn: không chỉ bao gồm sự vận dụng trong quá trình tiếp nhận cá nhân, mà còn bao hàm những thực hành có chủ đích, được thiết kế trong các lĩnh vực như giáo dục, truyền thông và trị liệu.

2. Cơ sở thực hành

Người thực hành văn học ứng dụng không nhất thiết phải là một nhà nghiên cứu văn học. Với nền tảng tiếp cận liên ngành, văn học ứng dụng mở ra khả năng để các chủ thể đến từ nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau tham gia, từ đó phát triển và xây dựng những tri thức tích hợp giữa văn học và các ngành khoa học khác. Tùy theo bối cảnh, văn học ứng dụng có thể được triển khai trên những nền tảng khác nhau, trong đó nổi bật là giáo dục và trị liệu.

Văn học có thể được coi như là những tương tác xã hội, thông qua đó tác giả và độc giả cùng giao tiếp về những giá trị mà tác giả hướng tới trong văn bản của mình. Việc sử dụng văn học trong giáo dục có thể được xem như một hình thức tự phản chiếu. Khi đọc và suy ngẫm về tác phẩm, người đọc không chỉ tiếp nhận nội dung của văn bản mà còn đặt nó trong mối liên hệ với chính trải nghiệm và nhận thức của bản thân. Đồng thời, bản thân tác phẩm văn học cũng là sự phản ánh của bối cảnh xã hội nơi nó được hình thành. Thông qua quá trình tương tác này, việc đọc văn học góp phần nâng cao nhận thức xã hội và thúc đẩy sự hình thành, phát triển ý thức cá nhân.

Bên cạnh cơ sở lí thuyết từ nghiên cứu liên ngành (interdisciplinarity), chủ nghĩa nhân văn (humanism), lí thuyết tiếp nhận (reception theory), phê bình phân tâm (psychoanalytic criticism), văn học ứng dụng được thực hiện dựa trên nhu cầu về giáo dục khai phóng trong thời đại mới. Hiện nay, giáo dục khai phóng được xem là một định hướng quan trọng của các nền giáo dục tiên tiến, với mục tiêu phát triển người học một cách toàn diện, đặc biệt ở năng lực tư duy phản biện và kĩ năng giao tiếp. Trong bối cảnh đó, việc dạy và học văn học không chỉ dừng lại ở việc tiếp cận văn bản như một thế giới nghệ thuật khép kín, mà còn cần mở ra những liên hệ với các lĩnh vực tri thức khác. Vì vậy, nhiệm vụ của giáo viên ngữ văn là dẫn dắt học sinh vượt ra khỏi phạm vi đơn thuần của văn chương, để nhận ra giá trị và khả năng ứng dụng của văn học đối với những ngành học và những vấn đề của đời sống.

Các học giả theo chủ nghĩa nhân văn cho rằng việc ứng dụng văn học có một chức năng căn bản là truyền bá và củng cố hệ thống các giá trị nhân văn, trong đó nhấn mạnh rằng đạo đức và phẩm hạnh của con người giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Nói cách khác, văn học là công cụ để giáo dục nhân cách. Bên cạnh đó, phương pháp sư phạm ngữ văn (literary pedagogy) cho phép giáo viên sử dụng văn học để truyền tải tư duy phản biện, tư duy thẩm mĩ và bổ trợ cho các môn học khác. Mặt khác, phê bình phân tâm học và lí thuyết tiếp nhận cho phép chúng ta áp dụng văn học như là một phương pháp trị liệu tâm lí thông qua liệu pháp đọc sách (Bibliotherapy). Lí thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser cho rằng độc giả là trung tâm, người đọc “gia công văn bản” và tự diễn giải ý nghĩa của văn bản. Tiếp đó, lí thuyết độc giả phản hồi của Inge Wimmers là bước tiếp theo của quá trình đọc văn bản, là cơ chế cơ bản để các tác phẩm văn học có thể tạo nên những hiệu ứng mang tính chất chuyển đổi trong điều trị tâm lí. Liệu pháp đọc sách tạo không gian an toàn cho người cần trị liệu, trong đó họ có thể tìm kiếm sự tương đồng về trải nghiệm cảm xúc giữa mình và các nhân vật, nhận thức sâu sắc hơn về tình huống của cá nhân mình và đóng vai trò như là một sự vỗ về tinh thần. Khái niệm vô thức (the unconscious) trong lí thuyết phân tâm học của Sigmund Freud được sử dụng để lí giải cách mà bản năng, ham muốn và những tổn thương tâm lí của người đọc có thể được kích hoạt khi họ dường như hóa thân vào các nhân vật trong tác phẩm văn học. Trên thực tế, quá trình Freud phát triển lí thuyết phân tâm học cũng có mối liên hệ chặt chẽ với việc đọc và diễn giải văn học; trong đó, vở kịch Hamlet của William Shakespeare từng được Freud sử dụng như một trường hợp điển hình để suy tư về các xung đột vô thức và những ham muốn bị kìm nén của con người. Liệu pháp đọc sách hiện nay đang dần được triển khai rộng rãi cho quá trình phát triển trí tuệ cảm xúc và điều trị y học lâm sàng ở các bệnh nhân gặp vấn đề về tâm lí.

Văn học ứng dụng với đời sống đương đại - Từ lí luận tới thực tiễn

Một hình ảnh trong MV Đẩy xe bò - được sáng tác dựa trên tác phẩm Vợ nhặt của Phương Mỹ Chi.

Ảnh: Nhân vật cung cấp trên VnExpress

3. Văn học ứng dụng với các lĩnh vực bên ngoài văn học

Văn học ứng dụng là một lí thuyết văn học tương đối mới trên thế giới và Việt Nam nên số lượng các nghiên cứu hiện nay vẫn không nhiều. Phần lớn các công trình liên quan thực chất đều là của những nhà nghiên cứu trong từng lĩnh vực chuyên môn có ứng dụng văn học, mà vốn không phải do những người nghiên cứu văn học thực hiện. Điều này phản ánh rằng văn học ứng dụng là lĩnh vực còn xa lạ ngay cả với giới học giả về văn học dù cho thực hành văn học ứng dụng là một xu hướng dạy và học văn học đã và đang được triển khai trong nhiều chương trình đào tạo ở các trường đại học Âu - Mĩ.

Các công trình nghiên cứu về văn học ứng dụng bàn luận nhiều về mối quan hệ giữa văn học và giáo dục. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Trần Thị Nhung và Nguyễn Thị Minh Thu đã đánh giá quá trình sử dụng văn học dân gian để giáo dục năng lực cảm xúc-xã hội cho trẻ ở lứa tuổi mầm non. Theo đó, có bốn chức năng của văn học ứng dụng, đó là giáo dục ý thức về cảm xúc, tự tin, tự lực; giáo dục nhận biết cảm xúc của người khác và sự bày tỏ cảm xúc phù hợp; giáo dục về tình yêu với quê hương và đất nước; giáo dục về hành vi và qui tắc ứng xử. Bằng cách đưa ra một số kiến nghị trong áp dụng văn học để giáo dục năng lực cảm xúc-xã hội ở trẻ, nhóm tác giả đồng tình rằng văn học sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục hiệu quả.

Trong một công trình hết sức đồ sộ mang tên EDULITERATURE (Applied Literature in Language Education) được Pena Langit xuất bản năm 2024 của mình, Aang Fatihul Islam đã đưa góc nhìn tổng quan về văn học trong đào tạo ngôn ngữ. Mở đầu cuốn sách, Islam khái niệm hóa thuật ngữ eduliterature, được ghép lại từ education và literature, xin được tạm dịch là “văn học giáo dục”. Tác giả tiếp tục làm rõ mối quan hệ của văn học và giáo dục, những đóng góp của văn học vào giáo dục, ứng dụng văn học vào học tập ngôn ngữ, đặc biệt là văn học giáo dục trong thời đại số. Khái niệm về văn học giáo dục xóa nhòa ranh giới giữa những khám phá văn học và giáo dục ngôn ngữ, là cánh cổng dẫn tới sự thành thạo ngôn ngữ, vì văn học đưa ra động lực và sự kết nối tới trí tưởng tượng của người học, rèn luyện khả năng đọc hiểu, phân tích ngữ pháp, có hiểu biết về văn hóa, tăng cường cách sử dụng ngôn ngữ như cách người bản xứ thật sự sử dụng. Islam cho rằng văn học giáo dục còn có thể kết hợp liên ngành nhằm từng mục đích giáo dục chuyên môn, cụ thể như là văn học giáo dục nội trú Hồi giáo, văn học giáo dục triết học, văn học giáo dục xã hội, văn học giáo dục lịch sử…. Văn học nối liền khoảng cách giữa kiến thức lí thuyết và áp dụng thực tiễn, chỉ dẫn một hướng tiếp cận toàn diện để nuôi dưỡng tâm hồn của người học. Tương tự, trong nghiên cứu mang tên Teaching and Learning Literature in the English Language Curriculum in Vietnamese University Education: Problems and Solutions, tác giả Tran Thanh Du tiếp tục khẳng định vai trò của văn học trong ngành Ngôn ngữ Anh ở các lớp đại học. Tác giả trích dẫn lại các ý kiến và nhấn mạnh rằng văn học là một trong những môn học quan trọng nhất, giúp sinh viên mở rộng kiến thức về văn hóa, lịch sử, quốc gia, dân tộc.

Mặt khác, ứng dụng của văn học trên bình diện truyền thông càng có phần đa dạng hơn nữa, bao gồm cả các sáng tác âm nhạc, phim ảnh, các sản phẩm hữu hình, các nội dung quảng bá trên những phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Thực chất, ứng dụng văn học trong âm nhạc và sân khấu không hề mới, văn học và âm nhạc tồn tại trước cả khi khái niệm nghệ thuật được biết tới. Nghệ thuật sân khấu, mối quan hệ giữa văn học và âm nhạc được Nick Ceramella xem xét kĩ lưỡng thông qua các tác phẩm văn học Anh và Ireland, văn học Mĩ, văn học Đức, văn học Ý và Latinh, văn học thế giới nhằm đưa ra một khám phá sáng tạo về phương thức mà âm nhạc và văn học có thể kết hợp, làm mờ ranh giới lẫn nhau. Trong nhà trường hiện nay, học sinh được khuyến khích làm mới các tác phẩm văn học trong sách giáo khoa, có thể bằng cách diễn kịch, hát, rap. Trong bài báo Chuyển thể tác phẩm văn học trong nhà trường sang âm nhạc, tác giả Đỗ Thị Thạch đã nêu ra ví dụ về bài rap Chí Phèo và nhạc trên nền thơ Sóng của Xuân Quỳnh.

Một số nghệ sĩ trẻ hiện nay cũng tích cực lồng ghép các yếu tố văn học vào âm nhạc, vừa để thu hút người nghe mà đồng thời tạo nên một cảm hứng mới trong sáng tác. Có thể kể tới ca khúc Để Mị nói cho mà nghe phỏng theo tác phẩm Vợ chồng A Phủ của ca sĩ Hoàng Thùy Linh, hay Đẩy xe bò với chất liệu từ Vợ nhặt của nghệ sĩ Phương Mỹ Chi. Thậm chí, văn học còn được ứng dụng trong lĩnh vực du lịch một cách rất sáng tạo. Mới đây, Bảo tàng Văn học Việt Nam đã triển khai tour đêm văn học Chữ Tâm, Chữ Tài, trải nghiệm văn học Việt Nam qua ba giai đoạn cổ đại - trung đại - hiện đại với các tác phẩm kinh điển như Bình Ngô đại cáo, Nam quốc sơn hà, Chí Phèo. Những hiệu quả áp dụng văn học trong du lịch đã được chứng minh qua bài nghiên cứu mang tên Applying Classic Literature to Facilitate Cultural Heritage Tourism for Youth through Multimedia E-Book ở Thái Lan. Theo đó, tác giả đã khảo sát áp dụng truyện dân gian Thái Lan Khun Chang Khun Phaen để tạo sách điện tử quảng bá du lịch ở tỉnh Suphan Buri, trên thang điểm 5 cho thấy có 4,53 điểm cho sự hứng thú của giới trẻ với tác phẩm Khun Chang Khun Phaen và 4,56 cho du lịch di sản văn hóa.

Ở nhiều trường đại học hiện nay, văn học được ứng dụng rộng rãi trong giảng dạy viết sáng tạo (creative writing) để phục vụ cho truyền thông, marketing thương hiệu. Đại học Văn Lang là cơ sở đi đầu trong giảng dạy văn học ứng dụng với việc thành lập bộ môn Văn học ứng dụng, chuyên đào tạo sinh viên theo hướng ứng dụng văn học vào truyền thông, viết kịch bản. Đây có thể là một hướng đi tiềm năng cho văn học ứng dụng, khi thực tế cho thấy những ứng dụng của văn học trong truyền thông có những hiệu quả tích cực. Quảng cáo với cảm hứng từ Tấm Cám của Yahoo! năm 2007 hay quảng cáo của thương hiệu Diana với Truyện Kiều đã thu hút đông đảo sự thích thú của công chúng.

Nhân văn y khoa (medical humanities) là quá trình đưa văn học - nghệ thuật vào đào tạo và trị liệu y tế cho cả đội ngũ nhân viên y tế và người cần được điều trị. Văn học là nguồn chứa đựng thông tin, cảm xúc của con người, vì thế, việc tiếp xúc với hình ảnh bệnh nhân, cái chết, bệnh tật thông qua văn học sẽ giúp nhân viên y tế thấu hiểu và có sự nhạy cảm nhất định khi tiếp xúc với người bệnh thực tế. Điều này đặc biệt quan trọng vì bản thân các nhân viên y tế có thể chưa từng trực tiếp trải qua những quá trình cảm xúc của bệnh nhân. Công cụ để thực hiện nhân văn y khoa chính là mối liên hệ phức tạp giữa trạng thái vô thức, sự thấu cảm, khả năng diễn giải, quá trình mô phỏng và giải mã tâm lí. Xem xét văn bản của các nhà văn người Pháp là Marguerite Duras, Sarah Kofman và Robert Antelme, Dhavernas lập luận rằng văn học Pháp thời hậu chiến tranh mở ra những cách thức mới để suy nghĩ về cuộc sống, tường thuật và vị trí của bệnh nhân trong hệ thống chăm sóc y tế hiện đại. Bài nghiên cứu Applied Literature trên sách chuyên đề Health Humanities đã làm nổi bật tính ứng dụng của văn học trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là việc sử dụng văn học trong đào tạo y khoa cũng như sự phát triển của các hướng phân tích học thuật tập trung vào những văn bản liên quan đến y học, bệnh tật và các dạng chấn thương cụ thể. Văn học không chỉ cung cấp hiểu biết về y học hay về nghề bác sĩ, mà còn giúp chúng ta tiếp cận sâu hơn với trải nghiệm của con người về sức khỏe và bệnh tật. Thông qua các câu chuyện và hình tượng, văn học tái hiện những cuộc gặp gỡ giữa bệnh nhân và nhân viên y tế, phản ứng của những người xung quanh trước tình trạng của người bệnh, cũng như những hình thức hỗ trợ trong quá trình điều trị, phục hồi và trở lại với đời sống bình thường sau khi khỏi bệnh.

Mặt khác, liệu pháp đọc sách còn giúp trị liệu cho bệnh nhân tâm lí bằng cách thực hiện những trải nghiệm tương đồng. Biri Rottenberg trong A bibliotherapeutic reading of alice in wonder-mother-blogging land nghiên cứu liệu pháp đọc tiểu thuyết Alice in Wonderland của Lewis Carroll, tìm hiểu hiệu quả hỗ trợ những người làm mẹ đối phó với những nghịch lí hiện sinh trong cuộc sống hằng ngày và trải nghiệm cuộc sống mang tính chuyển tiếp của họ trong quá trình làm mẹ. Nhóm các tác giả của nghiên cứu Various Aspects of Using Bibliotherapy in the Field of Education and Rehabilitation đã sử dụng tiểu thuyết Majid’s Tales để trị liệu tâm lí cho các trẻ em cần chăm sóc đặc biệt. Cụ thể, Majid’s Tales kể về cậu bé mồ côi tên Majid và hành trình trưởng thành khó khăn, vất vả, nghèo đói của cậu, ở đó các đứa trẻ tìm thấy sự đồng cảm với hoàn cảnh và an ủi tinh thần từ nhân vật Majid, qua đó giúp các trẻ em cần chăm sóc đặc biệt được giải tỏa cảm xúc và bộc lộ nỗi lo lắng, mệt mỏi, căng thẳng, trầm cảm của bản thân. Qua đó, ta thấy rằng văn học ứng dụng đòi hỏi sự phối hợp từ nhiều chuyên ngành, người thực hiện văn học ứng dụng phải có hiểu biết sâu sắc về văn học và lĩnh vực cần ứng dụng.

4. Kiến nghị

Nghiên cứu về văn học ứng dụng là một yêu cầu khách quan của thời đại khi các cách thức văn học tương tác với cuộc sống không ngừng phát triển. Văn học không chỉ là vấn đề đọc và cảm nhận mà còn tham gia giải quyết các vấn đề đương đại, góp phần nâng cao nhận thức và khai phá nội tâm của con người đương đại.

Với bối cảnh cụ thể ở Việt Nam, nền giáo dục đang cải cách mạnh mẽ về phương thức giảng dạy ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. Văn học ứng dụng được quan tâm như là một công cụ quan trọng để xây dựng tư duy hình tượng, phát triển những xúc cảm tự nhiên và mở rộng trí tưởng tượng cho người học. Đối với ngành Văn học ở bậc đại học, việc đưa văn học ứng dụng vào chương trình đào tạo là một yêu cầu của đổi mới, giúp trang bị cho sinh viên những tri thức đa diện về xã hội đương đại như xuất bản, truyền thông, báo chí, sáng tạo nội dung. Việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm ở cấp quốc gia hay quốc tế về lí thuyết và thực hành văn học ứng dụng với tư cách là một khoa học nghiên cứu văn học cũng như xây dựng dự án nghiên cứu về vấn đề này là một yêu cầu đặt ra hiện nay.

Hoa xương rồng. Truyện ngắn của Nguyễn Thị Bích Vượng

Hoa xương rồng. Truyện ngắn của Nguyễn Thị Bích Vượng

Baovannghe.vn- Mới giữa tháng mười mà rét đã về. Cơn gió đầu mùa se sắt chạy dọc qua cánh đồng, cuốn theo mùi rơm rạ khét lẫn trong mùi đất ẩm.
Mong manh - Thơ Trần Nhuận Minh

Mong manh - Thơ Trần Nhuận Minh

Baovannghe.vn- Bất ngờ ánh trăng non/ Bay ngang qua cửa sổ
Đẻ thuê. Truyện ngắn của Vũ Thị Thanh Hòa

Đẻ thuê. Truyện ngắn của Vũ Thị Thanh Hòa

Baovannghe.vn - Bao trùm lên ngôi nhà là một không khí nặng nề đến ngột ngạt. Mọi người luôn canh cánh trong lòng một nỗi bất an.
Chuyện với cỏ lau - Thơ Nguyễn Thế Kiên

Chuyện với cỏ lau - Thơ Nguyễn Thế Kiên

Baovannghe.vn- Cờ lau từ phía Cố Đô/ Qua nghìn năm bỗng xuống đò sang sông.
Đổi từ xe xăng sang VinFast EC Van, tiểu thương lời 6-8 triệu đồng mỗi tháng

Đổi từ xe xăng sang VinFast EC Van, tiểu thương lời 6-8 triệu đồng mỗi tháng

Baovannghe.vn - VinFast EC Van đang được nhiều hộ kinh doanh, tiểu thương lựa chọn nhờ mức đầu tư ban đầu dễ tiếp cận, chi phí vận hành thấp và khả năng xoay xở linh hoạt trong đô thị.