|
Ông sinh năm 1945 trong một gia đình thuộc bộ tộc Pyrenees, gần thành phố Taza ở vùng đông bắc Maroc. Ông bắt đầu con đường học vấn tại các trường dạy kinh Qur’an trước khi theo học tại Đại học Al Qarawiyyin ở Fez. Ông đã đạt được các bằng cấp cao về văn học Arab và từng giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Maroc. Ông là tác giả của một số tập truyện ngắn. Năm 2004, Bouzfour đã từ chối nhận Giải thưởng Nhà văn Maroc - một giải thưởng cấp nhà nước do Bộ Văn hóa Maroc trao tặng. |
Nắng gắt, và đôi bông tai lớn của cô ấy sáng lóa đến chói mắt. Tôi có nên chào cô ấy không? Tôi hôn lên tay cô ấy, và cô ấy hôn lên trán tôi. Tôi hôn lên má cô ấy, đôi má ửng đỏ như sắc nắng chiều tà. “Hãy để cháu làm con trai của cô nhé,” tôi nói. “Và hãy cõng cháu như cái bọc trên lưng cô vậy.” Marzouka đã đến rất gần, và tôi chẳng biết phải làm sao. Tôi có nên bỏ chạy? Tại sao chứ? Cô ấy là quái vật ư? Nhưng cô ấy cứ tiến lại gần hơn. Giá mà cô ấy cứ mãi ở đó... không bao giờ đến hẳn mà cũng chẳng bao giờ rời đi, Marzouka, Marzouka, Marz...
- Cháu là con trai nhà ai thế, cháu yêu?
- Hamdash ạ.
- À, con trai của Rahma - thề có Chúa là ta không nhận ra cháu đấy. Mẹ cháu dạo này thế nào?
- Mẹ cháu vẫn khỏe ạ.
Marzouka ghé sát mặt vào tôi. Tiếng leng keng của đôi bông tai, mùi gỗ của que chải răng miswak... những hàng liễu... những bó lúa mì... tiếng cười... nhịp đập sự sống...
- Kỳ lạ thật. Gương mặt thằng bé y hệt mẹ nó.
Rồi cô dùng ngón trỏ nâng cằm tôi lên và đặt một nụ hôn lên môi tôi. Bất chấp cái nóng oi ả buổi chiều, đôi môi cô ấy vẫn ướt át, và tôi đã phải lòng cô ấy.
Hajj Al-Mahdi là một người đàn ông không ai sánh bằng. Ông cai quản vùng đất này, cưới nhiều người vợ, và có thể chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Ông đã trải qua đủ mọi cung bậc cuộc đời, từ những khoảnh khắc huy hoàng nhất đến những thời khắc tăm tối nhất, nhiều hơn bất cứ ai khác.
Vào thời kỳ Siba chưa bị thực dân đô hộ, ông từng dùng súng trường nổ súng vào tất cả các bộ lạc lân cận. Danh tiếng của ông vang xa đến tận các thành phố, và khi quân thực dân giành chiến thắng rồi tước bỏ vũ khí của mọi người, ông đã chuyển sang dùng gươm. Ông đã sát hại một người lính dưới quyền viên sĩ quan nọ, cướp lấy khẩu súng trường của người này rồi bỏ trốn lên vùng núi, tại đây, ông trở thành “chỉ huy một trăm quân” trong đội ngũ của Mohamed ibn Abdelkrim El-Khattabi, thủ lĩnh đầy uy lực của cuộc nổi dậy tại vùng Rif.
Thời ấy, một ngày sống cũng tựa như cả một đời người. Ông từng cùng chính Abdelkrim thưởng trà và đã tiêu diệt quân thực dân với số lượng gấp đôi số người Maroc mà ông từng hạ sát trong những ngày loạn lạc thời Siba, có khi còn nhiều hơn thế. Dù không thiện xạ ở cự ly xa, ông lại đủ can trường để nổ súng ở khoảng cách gần. Và khi đối mặt với bầy ngựa cùng những chiếc đai lưng vàng óng trong cái ngày gian khổ ấy, ông chẳng hề lùi bước. Ông nấp mình giữa hai tảng đá, quấn khẩu súng đang nóng rực trong chiếc khăn quấn đầu và liên tục nhả đạn cho đến khi viên đạn chết tiệt kia găm thẳng vào cột sống.
Kể từ ngày đó, cuộc đời đối với Al-Mahdi chẳng còn chút sắc màu, và quân thực dân đã khuất phục được ông cũng như bao người khác. Ông sống sót với viên đạn nằm trong cơ thể suốt bốn mươi năm ròng trước khi qua đời. Nhưng tấm lưng ông đã còng xuống, buộc ông phải chống nạng và dựa vào người con trai Al-Mukhtar. Al-Mukhtar chẳng phải là một trang nam nhi; hắn chỉ là kẻ buôn bán. Hắn chỉ biết đến tiền bạc chứ chẳng màng chuyện súng đạn. Người xưa vẫn bảo, lửa tàn thì tro còn lại. Rồi thời thế đổi thay, nhường chỗ cho kỷ nguyên buôn bán và những tấm vải lanh rực rỡ sắc màu, khi đất nước đã giành độc lập và các khu chợ không còn bị đe dọa bởi loạn lạc. Thế là ngọn lửa năm nào dần tắt, chỉ còn lại lớp tro tàn lấp lánh.
Al-Mahdi đã hai lần hành hương về Thánh địa. Ông giao lại đất đai và gia súc cho con trai rồi lui về sống ẩn dật trong một căn phòng nhỏ, ở đó, ông chỉ ăn vài mẩu bánh mì, lần tràng hạt và kể chuyện - nếu có ai chịu lắng nghe - về cái thời mà đàn ông thực sự là những đấng nam nhi.
Al-Mukhtar không cưỡi ngựa; hắn đi bộ sau những con la thồ nặng nề các loại vải vóc buôn lậu, ngồi ăn cùng bọn thực dân, làm giả giấy tờ đất đai và cùng đám thương buôn đến nhà chế giễu sự già nua của cha mình.
Hajj Al-Mahdi nguyền rủa thời thế và mong mỏi thần chết mau chóng tìm đến. Chỉ đến khi nghe tiếng súng nổ và nhìn thấy những khẩu súng khoác trên vai các chiến sĩ quân giải phóng, ông mới bừng tỉnh và quyết định - một điều khiến ai nấy đều kinh ngạc - là kết hôn.
Al-Mukhtar chỉ thực sự nhận ra điều này khi bắt gặp Marzouka trong nhà và biết rằng cô ấy chính là người vợ mới của cha mình. Hắn vỗ hai tay vào nhau đầy vẻ kinh ngạc - “Chẳng có quyền năng hay sức mạnh nào ngoài Allah. Dạo này thế giới như phát điên cả rồi” - rồi lao vào một cuộc hiềm khích cay đắng với cha mình, nhưng mối bất hòa ấy chẳng kéo dài được bao lâu, bởi chẳng bao lâu sau thì Hajj Al-Mahdi qua đời. Ông già trút hơi thở cuối cùng giữa bầu không khí ồn ã của những lễ hội mừng độc lập. Chẳng ai để ý đến những lời thì thầm to nhỏ của đám phụ nữ về nguyên nhân cái chết của ông. Thế nhưng, trước khi qua đời, ông đã để Marzouka đang mang thai, và cô ấy đã hạ sinh Mohammadi. Sau đó, cô trở thành người giúp việc trong nhà Al-Mukhtar, con riêng của chồng, vừa lo toan việc nhà, gánh củi, gánh nước, vừa kể cho đứa con trai bé bỏng nghe về người cha quá cố và về cái thời mà đàn ông thực sự là những đấng nam nhi.
Marzouka đã ở độ tuổi bốn mươi, còn tôi khi ấy mới là đứa trẻ lên mười. Một hôm, khi thấy con chó bắt đầu thở hổn hển, tôi liền bật dậy và chạy vội ra ngoài. Tôi bắt gặp cô ấy đang dùng một cành cây mảnh để đe dọa con chó dữ nhà tôi.
- Dì Marzouka?
- Nếu không có cành cây này trên tay, nó đã nuốt chửng ta rồi. Chính vì nó mà ta chẳng mấy khi ghé qua đây. Mẹ cháu đang làm gì thế?
Mẹ tôi đang giặt giũ ngoài sân đầy nắng. Bà ôm chầm lấy Marzouka, hai người trao nhau những nụ hôn thắm thiết lên má, rồi mẹ tôi ngồi xuống giặt tiếp, còn Marzouka thì ngồi ngay bên cạnh. Tôi ôm đống quần áo sạch lên sân thượng để phơi. Khi quay xuống, tôi nghe thấy Marzouka đang nói chuyện về Mohammadi.
- Họ muốn bắt thằng bé đi chăn cừu, phải tập tễnh chạy theo đàn cừu suốt cả ngày để chúng được vắt sữa.
- Đợi đến khi Marzouka chết đã rồi hẵng tính.
Tôi đã nói. Trước khi cha thằng bé qua đời, ông muốn con mình được đến nhà thờ Hồi giáo để học hành, vậy sao giờ lại bắt nó nghỉ học? Nó còn nhỏ dại, lại chẳng còn cha, bạn tôi. Chân nó thì chỉ có một bên lành lặn - làm sao mà chăn cừu được chứ?
- Mohammadi đi chăn cừu ư? - Mẹ tôi nói.
- Trong khi con trai Al-Mukhtar thì ngồi nhà ăn uống no nê toàn bơ với thịt.
- Cô biết đấy, con trai hắn đã bắt đầu mọc ria mép rồi, nhưng chẳng bao giờ thấy mặt trời: Abdelsalam, rót đầy ly đi con; Abdelsalam, ăn miếng đùi gà này đi; Abdelsalam đang ngủ đấy.
- Im lặng nào.
- Phải rồi. Đúng là kiểu con trai của một tộc trưởng mà.
- Và nếu tôi không để mắt đến Mohammadi ngày đêm, thì có lẽ chúng đã giết chết và thủ tiêu thằng bé rồi.
- Chúng dám làm thế lắm chứ, thậm chí còn hơn thế nữa. Chẳng phải chúng từng xô ngã thằng bé tội nghiệp ấy từ trên sân thượng xuống khiến nó bị gãy chân hay sao?
- Tại sao họ lại xô ngã em ấy hả dì?
Tôi hỏi Marzouka.
- Vì thằng bé là trẻ mồ côi mà, con trai tôi. Cầu xin Allah che chở cho cha mẹ con. Nói ta nghe xem, vị giáo sĩ có hay đánh Mohammadi ở nhà thờ Hồi giáo không?
- Ông ta đánh tất cả chúng cháu. - Tôi nói với cô ấy.
- Cháu muốn đi chăn cừu?
- Không đâu con trai. Đừng nói thế. Bị vị giáo sĩ đánh vẫn còn hơn là phải chịu cái nắng, gai góc và cả cảnh đói khát. Để ta giúp cháu nhé, cháu yêu. Cháu cứ nghỉ ngơi đi, để ta giặt nốt chỗ quần áo này.
Cô ấy kẹp cái chậu lớn vào giữa hai chân rồi bắt đầu vò chiếc áo bẩn trong nước ấm cho đến khi bọt xà phòng nổi lên. Chiếc quần sirwal rộng thùng thình của cô ấy may bằng vải xanh có họa tiết hoa hồng nhỏ màu đỏ và vàng, còn đôi đùi cô ấy thì rất đẫy đà. Mẹ tôi đứng dậy đi rán vài quả trứng. Tôi thấy hơi ngượng ngùng khi gối đầu lên đùi Marzouka ấm áp và nhắm mắt lại.
Marzouka cười.
- Đồ quỷ nhỏ này. Lại muốn ngủ cả ban ngày à.
Cô ấy đung đưa cái đùi đang đỡ lấy đầu tôi và bắt đầu hát:
“Ngủ đi con, chờ bữa tối dọn xong.
Ngủ đi con, kẻo hàng xóm ăn mất phần.”
- Cô đâu rồi?
Cha tôi hét lên khi bước vào nhà.
- Em ở đây, có chuyện gì thế?
Mẹ tôi đáp lại từ phía trong nhà.
Tôi bật dậy còn Marzouka đứng lên chào cha tôi, nhưng ông cau mày và quay về phía lối vào tối tăm của ngôi nhà. Trong khi cô ấy cố hôn lên bàn tay đang vội vã rút lại của ông, ông lại quát tháo mẹ tôi.
- Xà phòng, xà phòng, xà phòng! Tôi lấy đâu ra lắm xà phòng thế này? Cô chỉ biết giặt giũ thôi sao? Có phải tôi đang ném tiền qua cửa sổ không hả?
Ông thậm chí chẳng thèm liếc nhìn Marzouka mà bước vào trong, miệng lẩm bẩm một mình. Marzouka co người lại như một con mèo. Tại sao cha tôi lại không thích cô ấy nhỉ? Dường như chỉ có phụ nữ và trẻ con mới quý mến Marzouka. Đàn ông thì thường cau mày và phớt lờ cô ấy. Tôi nhặt một hòn đá ném về phía con gà gần đó, nó bắt đầu kêu quang quác ầm ĩ giữa bầu không khí căng thẳng và im ắng, rồi chạy vụt ra khỏi nhà, và tôi cũng chạy theo.
Đã ba ngày rồi Mohammadi không đến nhà thờ Hồi giáo, và vị giáo sĩ cứ hỏi chúng tôi về cậu ấy.
- Thằng què đâu rồi?
Chúng tôi bảo là không biết. Lũ trẻ đều gọi cậu ấy là “thằng què”, y như cách vị giáo sĩ gọi, nhưng tôi thì vừa ngại vừa sợ không dám làm thế. Sau một lần lỡ gọi là “Mohammadi”, tôi tự nhủ phải nhớ lấy cái tên đó và luôn gọi cậu ấy là “Mohammadi”. Cậu ấy thường vung chân trái ra trước khi đặt nó xuống đất; rồi cậu ấy nghiêng người, dồn trọng lượng cơ thể xuống bằng cách dùng vai làm điểm tựa. Sau đó, cậu ấy nhấc chân phải lên và đứng thẳng người dậy. “Thằng què, thằng què, thằng què.” Còn tôi thì nói: “Mohammadi.” Khác với mẹ mình, cậu ấy có chiếc mũi nhỏ và khuôn mặt cũng nhỏ nhắn như mặt chuột. Nếu ai gọi là “thằng què”, cậu ấy sẽ đáp lại, “Đồ ngốc.” Cậu ấy không bao giờ chịu nhịn đâu. Tôi cũng thấy sợ hãi y như mấy đứa trẻ khác vậy. Cậu ấy nhỏ thó như hạt đậu gà nhưng lại sắc bén như một chiếc gai nhọn. Mẹ cậu ấy thì cư xử nhã nhặn hơn. Nhưng đã ba ngày rồi cậu ấy không đến nhà thờ, nên vị giáo sĩ cứ hỏi mãi: “Thằng què đâu rồi?” Và chúng tôi trả lời: “Chúng con không biết.”
Buổi chiều, sau khi rời nhà thờ Hồi giáo, tôi bắt gặp Abdelsalam - con trai Al-Mukhtar - đang trên đường đi chợ về. Cậu ta cưỡi con la của cha mình, và tôi nhìn thấy một quả dưa hấu đen, to tướng nằm trong túi yên ngựa. Tôi thừa sức bắt cậu ta phải đưa chỗ kẹo cho mình. Cậu ta tưởng mình là người lớn lắm sao? Dù đã bắt đầu mọc ria mép, nhưng xét cho cùng thì cậu ta cũng chỉ là một đứa trẻ, dẫu có lớn hơn tôi vài tuổi.
- Mohammadi đâu?
Tôi hỏi.
- Mohammadi á? Thằng què ấy hả? Nó đang ngồi trong lòng mẹ nó đấy. Chắc lại đang giả vờ ốm để được mẹ cho ăn bơ với trứng thôi.
- Mày có kẹo không?
- Kẹo ư? Mày là con nít hay sao mà lại đi đòi kẹo của tao?
Thế rồi cậu ta lên đường trên lưng con la. Hệt như gã lính đến nhà vị trưởng lão, nhìn người khác bằng nửa con mắt và nói:
- Tao hơn mày. Và nếu mày không tin, tao sẽ cho mày một trận nhừ tử.
Giá mà Abdelsalam chịu đi học kinh Qur’an, thì vị giáo sĩ đã đánh cho cậu ta từ khuôn mặt hồng hào chuyển sang tím tái rồi.
- Cứ đợi đến khi tao lớn hơn xem...
Thế ra Mohammadi bị ốm ư? Thằng què ấy đang ốm đấy! Thằng què quặt ấy đang được ăn bơ và trứng.
Hôm sau, khi tôi vừa bước ra khỏi nhà, tôi thấy cha đang đi phía trước, tay cầm một chiếc rìu. Khi tôi đuổi kịp, ông nắm lấy tay tôi và hai cha con cùng bước đi. Đó là một buổi sáng lạnh giá, sương mù bao trùm khắp nơi. Làn sương lặng lẽ lùi lại phía trước khi chúng tôi tiến về phía nó. Chúng tôi dừng lại gần nghĩa trang. Tôi thấy vài người đàn ông đang đào đất. Cha cài lại chiếc cúc áo trên cùng cho tôi rồi hôn lên trán tôi.
- Đi đi, đến nhà thờ Hồi giáo.
- Ai qua đời vậy cha? - Tôi hỏi.
- Cha bảo con đến nhà thờ Hồi giáo.
- Hãy nói cho con biết ai đã mất trước đã.
Ông nhìn tôi, rồi buột miệng nói:
- Con trai của Marzouka.
Sau đó, ông quay về phía những người đàn ông kia.
![]() |
| “Sao mình lại phải trốn tránh cô ấy nhỉ?” Tôi tự hỏi. Ảnh minh họa. Nguồn pinterest.com |
- Mukhtar này, Marzouka là vợ của cha anh đấy. Anh định đuổi cô ta đi đâu?
Cứ mỗi thứ sáu, Marzouka lại mang khay bánh fiteer ra mộ. Lúc đầu, cô ấy thường gào khóc, rắc đất lên đầu và gọi tên Mohammadi. Về sau, cô ấy chỉ ngồi im lặng trong bộ áo choàng trắng dài, cứng đờ như một tấm bia mộ.
- Hãy đến ăn chút đồ bố thí này.
Cô ấy cất tiếng gọi nếu có ai đi ngang qua con đường gần đó. Và họ cứ thế vội vã bước đi mà chẳng nói lời nào.
- Mukhtar, con trai cô ta đã mất rồi. Hãy kiên nhẫn với cô ta một chút.
Nhưng Mukhtar vẫn khăng khăng muốn đuổi cô ấy ra khỏi nhà. Hắn muốn cho con trai mình là Abdelsalam kết hôn và dọn vào căn phòng của cô ấy. Vả lại, Marzouka giờ cũng chẳng còn làm được việc gì nữa. Ban ngày, cô ấy thường lang thang quanh những cánh đồng đã cày xới và ngồi trên những tảng đá dọc theo bờ ruộng. Đêm đến, cô ấy lại thu mình trong căn phòng nhỏ tại nhà Mukhtar. Và cứ mỗi thứ sáu, cô ấy lại mang chiếc bánh fiteer ra mộ.
- Lại đây ăn chút đồ cúng đi.
“Sao mình lại phải trốn tránh cô ấy nhỉ?” Tôi tự hỏi. “Cô ấy có phải là quái vật đâu?” Rồi tôi bước về phía nghĩa trang. Tôi tiến lại gần thật chậm và cô ấy không hề hay biết. Cô ấy đang mân mê những viên sỏi trên nấm mộ. Mộ của Mohammadi bé xíu, nằm lọt thỏm giữa tấm bia đầu và bia chân mộ. Làm sao mà đủ dài cho cậu ấy nằm chứ? Khi bóng tôi đổ xuống nấm mộ, Marzouka ngước lên và nhìn thấy tôi. Cô ấy bối rối, vội tìm chiếc bánh fiteer rồi đưa cho tôi:
- Lại đây cháu, ăn chút đồ cúng đi.
Tôi định nói. “Cháu no rồi.” Nhưng... chẳng hiểu sao... tôi lại không thể thốt nên lời. Cô ấy bẻ một miếng bánh nhỏ rồi chìa ra:
- Ăn miếng này thôi.
Thế là tôi nhận lấy và ngồi xuống cạnh cô ấy, mắt đăm đăm nhìn nấm mộ, lặng lẽ nhai miếng bánh mằn mặn. Cô ấy đưa tay về phía nấm mộ:
- Cháu có thấy không? Mùa xuân đang nở hoa trên mộ thằng bé đấy.
Tôi bắt đầu nức nở.
- Có phải ta làm cháu sợ không? Đừng khóc. Ta đâu có ăn thịt trẻ con. Con có nghe thấy không, Mohammadi? Mẹ làm bọn trẻ khóc đấy. Mẹ chúng thường dọa chúng để tránh xa mẹ. Con bỏ mặc mẹ mình cho ai đây, đứa con vô ơn? Con thậm chí còn bỏ chạy và để mẹ lại một mình. Quay lại đi con yêu, hoặc đưa ta đi cùng với. Mohammadi, con có nghe mẹ nói không? Mohammadi, chúng đã giết con rồi, con yêu. Chúng đã giết con.
Cô ấy nói khẽ đến mức gần như chỉ là tiếng thì thầm.
“Cháu không khóc vì sợ đâu,” tôi muốn nói với cô ấy như vậy. Nhưng… tôi không biết nữa… tôi không thể thốt nên lời. Và khi tôi đứng dậy, cô ấy không hề nhìn về phía tôi. Tôi rón rén bước đi mà không để cô ấy phát hiện. Khi đã đi xa, tôi tự nhủ: “Cái chết tựa như chữ haa, Abdelsalam tựa như người lính, bánh fiteer thì mặn chát, còn Marzouka chẳng còn thương tôi nữa.”
- Mukhtar này, con trai cô ta qua đời rồi.
Nhưng với bất kỳ ai, Mukhtar cũng đáp lại:
- Thằng què chết thôi mà. Đâu phải tiên tri qua đời? Nó cũng là em trai tôi, và chính tôi đã tự bỏ tiền túi lo liệu tang lễ cũng như tiền bố thí. Người chết thì được an nghỉ, chứ người sống thì lúc nào cũng đói khát.
- Mukhtar, hãy nghĩ đến miệng lưỡi thế gian xem.
- Ít ra cô ta còn dọn dẹp nhà cửa, buộc bò, gánh nước. Cô ta tự làm để nuôi thân mà.
- Anh có muốn quỷ dữ xui khiến cô ta kiện tụng anh ra tòa không?
- Tôi cũng là quỷ dữ đây. Và chính luật pháp đã làm tóc tôi bạc trắng. Cứ để họ kiện tôi đi.
- Mukhtar, khéo léo một chút sẽ đỡ nhức đầu hơn đấy.
- Ông tưởng tôi không thích khéo léo sao? Tôi đang lo đám cưới cho con trai, mà nhà thì chật chội. Sao chẳng ai trong số họ chịu đón cô ta về nuôi nhỉ?
Cái chết tựa như chữ haa, và bánh fiteer thì mặn chát. Tôi chực trào nước mắt, nhưng rồi cơn đói ập đến, thế là tôi vội vã chạy về nhà.
Tôi không hề hay biết chuyện gì đã xảy ra cho đến tận sáng hôm sau. Đêm đó, tôi không ngủ lại nhà đôi vợ chồng mới cưới. Mẹ tôi bảo tôi:
- Giờ con về nhà với cha đi. Rồi mai tan lễ ở nhà thờ Hồi giáo, nhớ ghé đây ăn trưa với mẹ nhé.
Thế là tôi về nhà cùng cha và đi ngủ. Tôi chẳng hề hay biết chuyện gì đã xảy ra cho đến tận sáng hôm sau.
Tôi nhìn thấy họ từ phía sân nhà và chạy theo cho đến khi bắt kịp tốp người đi cuối đám đông. Có hơn mười người đàn ông đang đi theo vị giáo sĩ, mấy viên cảnh sát và Marzouka, họ lẩm bẩm: “Chuyện bắt đầu từ ngày con trai cô ấy qua đời. Tội nghiệp thật. Con cái khiến người ta phát điên. Còn người phụ nữ kia nữa, cô ấy đã làm gì mà phải chịu cảnh này chứ? Thật không thể tin nổi...” Cổ tay Marzouka bị còng lại, và một viên cảnh sát đang nắm chặt lấy cánh tay cô ấy. Tôi chẳng thể hỏi han gì cả. Khi sự tò mò bắt đầu thôi thúc tôi mạnh mẽ, lúc ấy chúng tôi đã tới nghĩa trang, tôi thấy Marzouka thoát khỏi đám đông và chạy về phía mộ của Mohammadi. Trước khi những người đàn ông kịp hoàn hồn sau cú sốc, Marzouka đã giật ra - tôi chẳng biết bằng cách nào hay lấy từ đâu - một mảnh vải trắng dính đầy máu rồi ném nó lên ngôi mộ nhỏ bé, miệng gào thét và hú vang như một kẻ điên dại:
- Chúc mừng Mohammadi... chúc mừng chú rể, yoyoyooo. Cô dâu vẫn còn trinh trắng. Hãy nhìn vệt máu đỏ trên chiếc quần sirwal kìa. Chúc mừng chú rể, yoyoyooo.
Đám đàn ông chạy lại và giữ chặt lấy cô ấy.
- Cô ta mất trí rồi... mụ đàn bà ngu ngốc... Cầu xin Allah giúp cô ta.
Mấy viên cảnh sát lại lôi cô ấy ra đường:
- Cô ta điên rồi, điên thực sự rồi.
- Để xem cô ta ngu ngốc thật hay đang định lừa chúng ta đây?
Một viên cảnh sát nói. Trẻ con đã tụ tập lại; phụ nữ đứng nhìn từ xa và thì thầm to nhỏ. Tôi nghe thấy một thanh niên nói:
- Chú rể còn chưa kịp thâm nhập vào trong mà.
- Marzouka đã làm gì vậy?
Tôi hỏi. Chẳng ai trả lời.
- Marzouka đã làm gì?
- Cậu không biết sao?
Một đứa trẻ đáp lại.
- Cô ấy đã giết cô dâu của Abdelsalam bằng một con dao.
Mạnh Hào
Dịch từ bản tiếng Anh