Diễn đàn lý luận

Thế giới mại dâm và phóng sự Việt Nam thời kỳ thuộc địa

Trần Ngọc Hiếu
Tác phẩm và dư luận 08:24 | 07/05/2026
Baovannghe.vn - Bộ ba tác phẩm của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng và Ngọc Giao không chỉ giúp công chúng hiểu được những góc khuất của đời sống trong quá khứ mà còn có giá trị tham chiếu, để chúng ta có thể thúc đẩy những cách can thiệp hợp lý hơn, bớt gây tổn thương hơn và trên hết, nhân bản hơn, vào những vấn đề của xã hội hiện tại.
aa

Phóng sự ở Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX là thể loại sinh thành trong xã hội thuộc địa. Những nhân tố mới trong cơ sở hạ tầng của nền văn hóa thời kỳ thuộc địa như xuất bản, báo chí cùng sự trỗi dậy của tầng lớp thị dân đã nuôi dưỡng thể loại này, thúc đẩy sự phát triển mau lẹ của nó. Phóng sự trở thành thể loại năng động của khuynh hướng hiện thực trong văn học giai đoạn này với những tác giả tạo được sức ảnh hưởng lớn lên dư luận như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Trọng Lang... Không thỏa hiệp với thực tại, không ngần ngại dấn vào những ngóc ngách khuất lấp nhất của đời sống, không dè dặt phơi bày “những điều trông thấy” trong xã hội, phân tích những khía cạnh gai góc nhất, phức tạp nhất của nó với ý thức phê phán sắc sảo, phóng sự, quả thật, là một thể loại bất tuân về cả phương diện chính trị và văn hóa trong bối cảnh thuộc địa.

Thế giới mại dâm và phóng sự Việt Nam thời kỳ thuộc địa
Bộ ba tác phẩm trên thể hiện rõ nét tinh thần bất tuân của thể loại phóng sự đầu thế kỷ XX

Bộ ba tác phẩm Lục xì (Vũ Trọng Phụng, 1937); Đêm sông Hương (Tam Lang, 1938); và Xóm Rá (Ngọc Giao, 1957) - thể hiện rõ nét tinh thần bất tuân ấy của thể loại phóng sự khi những nhà văn - ký giả này xông vào một đề tài thời sự nhức nhối, bức xúc: thế giới mại dâm trong xã hội thuộc địa. Nghề mại dâm, thực ra, không phải là hiện tượng mới nảy sinh trong xã hội thuộc địa Việt Nam. Nhưng như nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nhận xét, cuộc sống của những thân phận làm công việc này hầu như không trở thành đối tượng miêu tả của văn học cổ điển, ngoại trừ Truyện Kiều của Nguyễn Du. Có nhiều lý do để giải thích cho sự thiếu vắng của mảng đề tài này mà Vương Trí Nhàn đã chỉ ra khá thuyết phục: định kiến đối với đời sống bản năng của con người cũng như những việc phản ánh những đề tài được xem là nhạy cảm về đạo đức; tư duy cổ điển vốn quen với nếp sống điền viên hơn là thành thị, ưa những gì trong sáng, thơ mộng, quen dừng lại ở tình trạng nửa vời mà không bao giờ đi tới tận cùng(1). Sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây cùng với sự hình thành các đô thị thuộc địa là những yếu tố quan trọng kích thích các nhà văn - ký giả giải phóng tư duy của mình, thúc đẩy họ phát triển kỹ năng miêu tả và phân tích để xông pha vào vùng hiện thực đầy thách thức của thế giới mại dâm, một thế giới mà sự tồn tại của nó như là sự mỉa mai chua chát đối với câu châm ngôn nổi tiếng: “Cái gì tồn tại, cái ấy có lý.”

Sự hấp dẫn của thể loại phóng sự, trước hết, nằm ở tính sống động và chân xác của những “sự thực ở đời” (chữ dùng của Vũ Trọng Phụng) mà để đưa chúng lên trang viết, những nhà văn - ký giả này đã phải rất can đảm, táo bạo, thậm chí liều lĩnh để quan sát, phản ánh và phân tích. Thế giới mại dâm thời thuộc địa được quan sát ở ba tiêu điểm: những nhà săm được ngụy trang trong những con thuyền trôi nổi trên sông Hương, nhà lục xì - một phúc đường được chính quyền thuộc địa lập ra để chữa bệnh hoa liễu cho gái mại dâm ở Hà thành và một khu nhà thổ nơi ngoại ô Sài Gòn nổi tiếng với món “thịt người” thỏa mãn nhu cầu hành lạc của đàn ông. Ðể tiếp cận thế giới này, các nhà văn - ký giả đều phải thâm nhập thực tế và lựa chọn góc nhìn sao cho thuyết phục được công chúng về độ chân thực và sự công tâm trong cách nhìn nhận, đánh giá. Câu chuyện về cách làm nghề báo, về việc theo đuổi đề tài về thế giới mại dâm này được cài vào trong cả ba thiên phóng sự. Tam Lang vào vai một người khách viễn phương muốn khám phá cách vận hành của hoạt động mua bán dâm ngay trong lòng kinh đô Huế. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng mở đầu bằng câu chuyện ký giả đề đạt với giám đốc nhà lục xì - bác sĩ Joyeux, về nguyện vọng muốn được thâm nhập vào cái nơi vốn bị coi là chỗ ô uế, cặn bã, đối lập với một hình dung về Hà thành hào hoa, thanh lịch mà văn chương lãng mạn vẽ ra: “Được phép vào nhà lục xì nào có phải việc dễ! Từ khi nước Việt Nam có nghề viết báo, và từ khi nghề viết báo có cái mục phóng sự, trong số các bậc tiền bối của tôi hoặc những ông bạn đồng nghiệp thiếu đầu đề của tôi, đã bao nhiêu ông muốn khám phá cho ra những cái bí mật trong nhà lục xì?” Còn Ngọc Giao, sau gần nửa thế kỷ, vẫn còn giữ nguyên những ấn tượng khi phải lăn lộn ở cõi địa ngục trần gian này: “Năm 1949, tôi đã thâm nhập vào cái XÓM RÁ này của Sài Gòn. Đó là một cõi địa ngục, có mặt hầu hết tướng ta, bộ trưởng, ngoại giao, lẫn lộn với bầy đĩ bợm thượng trung lưu. Tôi đã có hai tháng sống với lũ ma quỷ ấy. Tôi hiểu họ, thấy họ đến tận xương tận tủy. Có lẽ bởi coi là ghê tởm, là thiếu đạo đức, là ký giả nhà chứa, là văn chương sa đọa, là tác phẩm mãi dâm mà các nhà văn nhà báo miền Nam đỏ mặt và đỏ bút khi nghĩ đến một vấn đề xã hội, một vấn đề nhân loại như thế...” Nói như Ngọc Giao, để viết về thế giới ấy, người viết không thể lựa chọn một góc nhìn chỉ ở “mon men”, “đứng ngoài ngưỡng cửa nhòm vào”.

Dưới con mắt của các nhà văn - ký giả này, sự bùng nổ của nghề mại dâm ở cả ba miền đất nước là một hiện tình suy đồi về đạo đức cần báo động. Dù khoảng thời gian lưu lại ở Huế để thực hiện phóng sự Đêm sông Hương không dài nhưng với sự nhạy cảm trong cách quan sát đời sống, nắm bắt thông tin, Tam Lang đã phát lộ sự lung lay của những giá trị đạo đức nền tảng ở mảnh đất đế đô này. Đằng sau bề mặt tưởng chừng tôn nghiêm của kinh thành Huế là cả một thế giới mại dâm vận hành trơn tru, dù lén lút, lặng lẽ. Thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng ngay từ những dòng đầu tiên đã nêu ra những thông tin giật mình về con số phụ nữ ở Hà thành hành nghề mại dâm có thể thống kê được. Những câu hỏi được xem như động cơ thôi thúc Vũ Trọng Phụng theo đuổi đề tài dễ bị coi “nhơ nhớp” này cũng toát lên giọng điệu bức xúc trước một hiện thực xuống cấp về đạo đức: “Vậy thì vì những lẽ gì mà đến nỗi tại chốn nghìn năm văn vật này, cứ ba mươi lăm người tử tế thì lại có một người làm đĩ?... Vì những lẽ gì, nhà lục xì không những chỉ là sự khủng bố cho bọn gái mại dâm, mà lại còn là sự khủng bố cho cả đám phụ nữ lương thiện?” Tác phẩm Xóm Rá của Ngọc Giao mở đầu bằng những trang văn miêu tả theo kỹ thuật tiểu thuyết của Balzac, xoáy cận cảnh vào những chi tiết có thể gây buồn nôn về khu nhà thổ xóm Rá, nơi ban ngày “buồn như bãi tha ma”, đến buổi tối, chị em gái điếm lại “cố bốc thịt xương lên, cố bôi son trát phấn, cố cười cố nói, chờ đón khách”. Bệnh hoa liễu được khai thác như một ẩn dụ ở những phóng sự này để gọi tên tình trạng mục rữa về đạo đức trong một xã hội loạn chuẩn.

Có thể ghi nhận đây là những tác phẩm mang âm hưởng nữ quyền nếu hiểu một trong những mục tiêu quan trọng và đầy khó khăn của nữ quyền là đấu tranh cho quyền sống và nhân phẩm của phụ nữ.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại như vậy, những tác phẩm của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng và Ngọc Giao có đi xa hơn diễn ngôn phổ biến trong văn hóa nhân loại kết án những phụ nữ hành nghề mại dâm như là hiện thân và nguyên nhân của mọi sự đồi bại trong xã hội - một diễn ngôn đặc trưng của thiết chế phụ quyền? Ở thời điểm hiện tại, sau hơn nửa thế kỷ, đọc lại Lục xì, Đêm sông Hương Xóm Rá, có thể thấy tâm điểm phê phán của những nhà văn - ký giả này không phải là những phụ nữ phải buôn phấn bán hương. Thậm chí, có thể ghi nhận đây là những tác phẩm mang âm hưởng nữ quyền nếu hiểu một trong những mục tiêu quan trọng và đầy khó khăn của nữ quyền là đấu tranh cho quyền sống và nhân phẩm của phụ nữ.

Trong phần kết loạt bài về nghề mại dâm ở kinh thành Huế, Tam Lang có chia sẻ về lý do khiến ông thực hiện phóng sự Đêm sông Hương. Theo đó, có thể xem phóng sự này như là hành động đáp trả của Tam Lang trước một thái độ trịch thượng, trưởng giả về văn hóa được thể hiện qua lời giễu cợt của một người đàn ông xứ Huế về Hà Nội. Trong cái nhìn của người đàn ông ấy, Hà Nội thời thuộc địa là “một nhà chứa”, đàn bà con gái ở đây đã “hư hỏng”, chạy theo những cám dỗ vật chất, vứt bỏ sĩ diện, phẩm hạnh. Chỉ trên đất đế đô, nơi tập trung phần lớn tầng lớp quý tộc phong kiến, nơi những khuôn thức đạo đức truyền thống còn được duy trì bền vững, mới không xảy ra tệ nạn xã hội nhơ nhuốc này. Bức tranh xã hội mà Tam Lang mô tả đã làm lộ ra sự thất thế của mảnh đất đế đô này. Nhưng điều gây sốc lớn nhất cho công chúng đương thời không hẳn chỉ nằm ở chuyện có những phụ nữ diện mạo đoan trang, điệu hạnh cũng phải làm công việc bán thân thảm hại này. Họ phải mưu sinh bằng thân xác của mình, bất kể việc họ đã có gia đình và thậm chí người chồng, dù mang danh trí thức, cũng “bảo kê” để vợ mình hành nghề. Phóng sự của Tam Lang ngay trong lời đề từ đã gợi ra một sự cảm thương đối với những thân phận phụ nữ phải làm công việc luôn bị miệng đời khinh miệt - một lời đề từ không khỏi làm người ta liên hệ đến câu chữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều: Những cánh hoa trôi trên dòng Tiêu Kim Thủy.

Trong Lục xì, Vũ Trọng Phụng cũng dùng chữ của Nguyễn Du để gọi thân phận của những người phụ nữ làm điếm ở Hà thành - “bọn gái của sổ đoạn trường”. Thiên phóng sự của ông không giấu giếm sự mỉa mai đối với cách mà nghệ thuật lãng mạn thi vị hóa hình tượng những nàng kỹ nữ, làm giảm đau những cay cực, ê chề mà họ phải chịu đựng. Nhà lục xì, trong sự quan sát của Vũ Trọng Phụng, là hình ảnh thu nhỏ của những bất công và trấn áp trong xã hội thuộc địa. Bằng lối viết điều tra cùng tư duy phân tích sắc bén, Vũ Trọng Phụng đã nhìn ra bản chất thật sự của phúc đường mà chính quyền thuộc địa lập ra với ảo tưởng về sứ mệnh “làm vệ sinh cho cả Hà thành” này. Nó mang đầy đủ tính chất của một nhà tù tròn - mô hình mà triết gia người Pháp Michel Foucault sau này đã kiến giải như một cơ chế giám sát đầy tinh vi của xã hội hiện đại. Nhà lục xì trở thành nơi mà gái điếm bị đánh dấu, bị phân loại, chịu sự kỳ thị như là những kẻ gieo rắc bệnh hoạn cho cả xã hội. Nó không chỉ là một nơi chốn cụ thể mà là một mạng lưới bủa vây đến nỗi thay vì thấy nó như một nơi chữa trị bệnh hoa liễu, những phụ nữ hành nghề mại dâm ở Hà thành lại hoảng sợ xem nó như một “chỗ khủng bố”. Mục tiêu phê phán lớn nhất của Lục xì chính là niềm tự đắc của chủ nghĩa thực dân về sự tiến bộ, sự cải cách, văn minh mà nó có thể mang lại cho xứ thuộc địa. Nếu quả như xã hội thuộc địa đang mắc bệnh thì giải pháp cho nó không phải chỉ là một nhà lục xì mà quan trọng hơn, phải thay đổi não trạng của chủ nghĩa thực dân.

Alain Corbin, sử gia người Pháp, từng viết: “Gái điếm, nói tóm lại, không viết về bản thân mình... Chúng ta hầu như chẳng biết gì về ngôn ngữ của họ.”(2) Trong cả ba phóng sự này, các nhà văn - ký giả đều cố gắng để những người phụ nữ vốn thường xuyên bị câm giọng trong xã hội cất lời, dù có khi chỉ là đôi lời trò chuyện. Với Xóm Rá, Ngọc Giao có lẽ ý thức rõ sự cần thiết của việc để những nhân vật nữ phải cất lời. Muốn đi sâu hơn vào thế giới bên trong của những thân phận nhục nhằn này, ngòi bút của ông đã chuyển từ lối viết phóng sự (mà ta có thể thấy rõ ở những trang đầu tiên của cuốn sách, nơi kỹ thuật tả chân của Ngọc Giao hoàn toàn có thể đặt bên cạnh những bậc thầy của thể loại phóng sự đương thời) sang lối viết tiểu thuyết. Bởi thế, tên gọi phù hợp hơn về thể loại của Xóm Rá nên là tiểu thuyết - phóng sự. Những cô gái điếm ở xóm Rá được khắc họa như là những số phận, những cá tính có sự tự ý thức về nhân phẩm của mình. Họ đấu tranh trong tuyệt vọng để giữ lấy nhân phẩm ấy, đối chọi với sự tàn nhẫn của một xã hội đọa lạc nhưng lại luôn tỏ ra cảnh vẻ, sang cả, ném về phía họ những sự khinh miệt, nhục mạ. Họ không chỉ ngậm ngùi cho số kiếp. Họ thách thức xã hội.

Thế giới mại dâm và phóng sự Việt Nam thời kỳ thuộc địa
Trong cả ba phóng sự này, các tác giả đều cố gắng để những người phụ nữ vốn thường xuyên bị câm giọng trong xã hội cất lời... - Ảnh minh họa: Tranh của họa sĩ Joseph Inguimberty

Ngọc Giao viết Xóm Rá trong một bối cảnh thế giới đang có những biến động lớn, nơi những con người cùng khổ có thể đứng dậy để tạo ra lay chuyển phi thường. Mượn lời của nhân vật Vũ Linh - một trí thức có sự cảm thông với những cô gái điếm trong truyện, Ngọc Giao đã vẽ ra một viễn cảnh nơi những thân phận đàn bà tủi nhục có thể trỗi dậy để không chỉ đòi quyền sống cho mình mà còn lập nên một thế giới mới, đáng sống hơn: “Đàn bà làm cho nhà băng nổ, làm cho vũ đài chính trị lung lay, làm cho hăm bốn tiếng đồng hồ lập nội các, làm cho thằng đầu cơ chính sự chỉ chờ bạn đồng nghiệp nhấc đít lên là ôm ghế chạy rao bán kín ở chợ đen...” Những cô gái điếm trong Xóm Rá chưa thể hay chẳng thể “trả thù đời” theo cách mà Vũ Linh muốn. Nhưng ít nhất họ dám “cởi truồng đi giữa châu thành xa hoa lộng lẫy”, “gí vào tận mặt bàn dân thiên hạ”, để kháng cự, khiêu khích một xã hội đạo đức tàn nhẫn đạo đức giả. Họ khiêu chiến với xã hội bằng cách thức sỗ sàng nhất, nổi loạn nhất với tất cả những gì họ còn lại như một lựa chọn không thể khác.

Sau hơn nửa thế kỷ, những thiên phóng sự này không chỉ có giá trị về mặt tư liệu mà còn giữ nguyên tính thời sự. Tính thời sự của phóng sự, xét đến cùng, không đơn thuần nằm ở khả năng nắm bắt nhanh chóng những điểm nóng của thời cuộc. Nó phải đặt ra những vấn đề lúc nào cũng bắt công chúng phải suy nghĩ, nhận thức lại, hay dùng chữ của Ngọc Giao, nó phải phơi bày được một hiện thực chứa đựng “những vấn đề nhân loại”. Trong bối cảnh của những thảo luận về nữ quyền được dấy lên ở Việt Nam thời gian gần đây, bộ ba tác phẩm của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng và Ngọc Giao xứng đáng được đón nhận trở lại bởi chúng không chỉ giúp công chúng hiểu được những góc khuất của đời sống trong quá khứ mà còn có giá trị tham chiếu, để chúng ta có thể thúc đẩy những cách can thiệp hợp lý hơn, bớt gây tổn thương hơn và trên hết, nhân bản hơn, vào những vấn đề của xã hội hiện tại.


1. Vương Trí Nhàn (biên soạn), Văn chương và kỹ nữ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005, trang 220.

2. Alain Corbin, Le Temps, le Désir et l’Horreur: Essais sur le Dix-Neuvième Siècle, Paris: Aubier, 1991, trang 107.

Tổ chức Festival Thăng Long - Hà Nội 2026 vào tháng 9

Tổ chức Festival Thăng Long - Hà Nội 2026 vào tháng 9

Baovannghe.vn - Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 có chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” sẽ được tổ chức tại nhiều không gian văn hóa - di sản tiêu biểu của Thủ đô vào tháng 9/2026.
Lễ hội Làng Sen 2026: Tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở ra không gian trải nghiệm văn hóa, lịch sử

Lễ hội Làng Sen 2026: Tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở ra không gian trải nghiệm văn hóa, lịch sử

Baovannghe.vn - Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), tỉnh Nghệ An tổ chức Lễ hội Làng Sen năm 2026 và Công bố Quyết định Khu du lịch quốc gia Khu Di tích Kim Liên.
Nhiều hoạt động kỷ niệm 72 năm ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ

Nhiều hoạt động kỷ niệm 72 năm ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ

Baovannghe.vn - Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Điện Biên vừa tổ chức họp báo tuyên truyền Đại hội Thể dục thể thao lần thứ XII và Hội nghị Xúc tiến đầu tư năm 2026. Trong đó, Đại hội Thể dục thể thao lần thứ XII nhằm hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.
Công bố kế hoạch hợp tác sản xuất phim về Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo

Công bố kế hoạch hợp tác sản xuất phim về Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo

Baovannghe.vn - Với kinh phí dự kiến khoảng 30 tỷ won (khoảng hơn 500 tỷ đồng), các nhà làm phim Việt Nam và Hàn Quốc đã chính thức công bố kế hoạch hợp tác sản xuất phim về Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo.
Lan tỏa tình hữu nghị Việt Nam - Ba Lan qua âm nhạc

Lan tỏa tình hữu nghị Việt Nam - Ba Lan qua âm nhạc

Baovannghe.vn - Vào 20h ngày 31/5, tại Nhà hát Hồ Gươm (40 Hàng Bài, phường Cửa Nam, Hà Nội), Hội Nhạc cổ điển Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Ba Lan tổ chức chương trình hòa nhạc đặc biệt mang tên The Flow of Music - Dòng chảy âm nhạc.