Sáng tác

Hắc Bạch Vô Thường. Truyện ngắn của Vương Đình Khang

Vương Đình Khang
Truyện 07:59 | 05/05/2026
Baovannghe.vn- Nó là ngôi sao sáng trưng của gánh Viễn Phương này. Thằng nhỏ mặt trắng cao ráo, bảnh tỏn, bộ dạng thì lịch sự, ung dung.
aa
Hắc Bạch Vô Thường. Truyện ngắn của Vương Đình Khang
Minh họa Nguyễn Văn Đức

1.

Nó đi cũng đẹp, ngồi cũng đẹp, nằm lại càng đẹp. Mấy đoạn nó diễn cảnh Võ Đông Sơn té sấp trên sân khấu mà ở dưới đàn bà con gái ngửa cổ khóc rần. Cái giọng nó trầm bổng, nói một hồi khiến người nghe mê mẩn, nói chuyện tào lao bát xế mà y như là nói lối có hòa âm.

Ông Tám hậu đài đã ngồi dưới gầm bàn thờ Tổ gần nửa tiếng chưa chịu ra. Vóc dáng ông vốn mập lùn, vai bè, mặt mũi hong khói than năm này qua tháng nọ đã trở nên đen kịt, bây giờ co lại thành một cục thu lu rúm quéo. Cặp mắt kia trợn ngược, tròng trắng long lên, đẩy đôi chân mày sâu róm nhướn cao, nhăn nhăn rãnh trán. Hàm răng nghiến vào nhau ken két, nghe phát sợ. Cả gánh hát xúm xít quanh bàn thờ Tổ, ngó ông Tám hậu đài làm chuyện kì quái, ai nấy cũng hoang mang tột độ. Ổng bị cái gì? Tại sao hành động kì cục vậy? Tại sao như quỷ nhập vậy? Mấy người đàn bà nhìn cảnh đó mà mặt xám ngoét như tro, khép nép sau đám đàn ông cũng đang run lên bần bật vì sợ.

Ông Tám đang nhìn xoáy vô ông bầu, đặt tay lên môi ra dấu như người hút thuốc. Lại ngửa cổ, đưa tay như đang nốc một li rượu đế. Ông bầu bất giác rợn hết da gà, lạnh hết sống lưng. Hổng lẽ...? Ông bầu sai mấy thằng nhỏ tức tốc quấn thuốc rê thành cả chục điếu, lại tìm gấp mấy chai rượu mang ra. Đoạn đặt trước mặt ông Tám, thấy ổng ngậm một lúc năm, sáu điếu, đóm lửa đỏ rực, rồi nhả khói phun mây. Rượu kia không phải nhẹ, ông hậu đài tu một hơi hết nửa chai. Ông già thường ngày hiền như cục bột, lầm lầm lì lì, không bao giờ thấy nhậu nhẹt say xỉn. Tại sao hôm nay có thể uống mạnh như vậy? Cả gánh hát nhìn nhau, không ai dám cất lời. Ông bầu bấy giờ như đã hiểu ra chuyện gì, liền nhắm mắt nói thều thào: “Ông...về!”

Nhiều người sụp xuống vái lạy. Ông bầu cũng hành đại lễ, mới mở miệng tính khấn một câu để đêm diễn này trót lọt suôn sẻ. Ai mà dè, khi gối vừa chạm đất, liền nghe thằng nhắc tuồng chạy vô la hét um sùm:

“Thằng… thằng kép Bảy ôm thùng tiền trốn rồi ông bầu ơi! Má nó! Thằng khốn nạn!”

Tự nhiên khi ấy, tiếng trống mở màn bên ngoài rộn lên thình thình. Khán giả từ khắp xóm làng xung quanh hồ Trầm Vang đã tụ họp về đây đông nghẹt, đốt đuốc lá dừa sáng rực cả sân đình. Giờ mở màn đã tới!

2.

Ông Tám hậu đài, người trong gánh hát đã quen kêu như vậy, chẳng ai còn nhớ cái tên thật rõ ràng. Nhưng tên gì cũng vậy thôi, vô nghề này phải xưng hô bằng nghệ danh hết. Vậy thì nghệ danh của một ông sồn sồn, kéo màn, giặt đồ, dựng sân khấu, đốt đèn chiếu sáng, rồi chụm lửa nấu cơm, thì kêu Tám hậu đài là đúng rồi.

Tám hậu đài có mặt trong gánh cũng thâm niêm cỡ tấm màn màu đỏ căng ngang sân khấu. Mấy đứa đồng ấu sanh sau đẻ muộn trong đây chắc chắn là nhỏ hơn tuổi của tấm vải sờn mỏng te như cái lá lúa, phai màu lỗ chỗ kia. Nhưng khác với tấm màn, đào kép phải cúi đầu với nó. Còn ông già đen đúa, dị hình dị tướng đó thì gần giống như vô hình. Người nói chuyện với ông già Tám nhiều nhất chắc là bà bầu, tại bà phải thường xuyên la mắng ông tội chậm chạp. Còn ông bầu, câu giao đãi thường xuyên là: “Hỏng ấy anh nhận lương trễ vài bữa được không?” Tụi nhỏ tuổi thì đôi khi: “Giặt đồ con kĩ kĩ giùm!” hoặc “Mua giùm con xị rượu đế!” Còn đào chánh, kép chánh hả? Tụi nó đâu thèm nhìn ông.

Ví dụ như là thằng kép Bảy. Nó là ngôi sao sáng trưng của gánh Viễn Phương này. Thằng nhỏ mặt trắng cao ráo, bảnh tỏn, bộ dạng thì lịch sự, ung dung. Nó đi cũng đẹp, ngồi cũng đẹp, nằm lại càng đẹp. Mấy đoạn nó diễn cảnh Võ Đông Sơn té sấp trên sân khấu mà ở dưới đàn bà con gái ngửa cổ khóc rần. Cái giọng nó trầm bổng, nói một hồi khiến người nghe mê mẩn, nói chuyện tào lao bát xế mà y như là nói lối có hòa âm. Thiếu nó, gánh hát Viễn Phương chắc chỉ còn cái gánh, chứ rớt mất tiêu chữ hát. Có một điều, cái mũi khoằm của kép Bảy ngó thì giống người Tây, nhưng nó hơi vẹo sang một bên. Người đoàn không ai nói nhưng đều nghĩ thầm trong bụng, cái tướng đó trong hát bội là mặt của Trịnh Hâm, là kẻ phản diện, gian tà.

Gánh Viễn Phương cũng như bao đoàn hát khác ở xứ lục tỉnh này, cuốn mình theo bụi đỏ giang hồ mà đem lời ca tiếng hát đổi lấy chén cơm. Những người sống bám theo giề lục bình trôi khắp kì cùng đó chắc là mê lắm, coi cái nghề là cái nghiệp. Chứ không đâu ai bỏ đất bỏ ruộng làm chi, gánh hết đời mình lên ghe, rồi phiêu bạt khắp xứ? Người như kép Bảy không ít. Người như ông Tám hậu đài càng nhiều hơn. Vậy đoàn Viễn Phương chuyện có gì mà kể? Có chớ, có từ hồi sanh ra cái vở Hắc Bạch Vô Thường.

Nói nào ngay, trước đây đoàn Viễn Phương chỉ là tầm tầm bậc trung, xìu xìu ểnh ểnh. Một bữa đoàn tấp vô chợ Rạch Giá, tốt ngày đi coi cúng kì yên trong đình của người Hải Nam. Ông bầu coi tới đoạn Tống Ôn, thấy cảnh người ta hóa trang làm Hắc Bạch Vô Thường ra đuổi tà tróc quỷ, liền nảy ra ý tưởng viết nên vở hát này. Ông nhạy bén ở chỗ, mối làm ăn của mấy gánh hát bội với những hội quán người Hoa rất ngon lành, thường được thưởng rất nhiều tiền. Thậm chí may mắn còn có xì thẩu đứng ra mời riêng về nhà mà diễn nữa. Người ta diễn nhiều mấy tích San hậu hoặc Thần nữ dâng ngũ linh kì. Coi riết cũng nhàm. Bây giờ có vở mới mà còn dính tới thần thánh, tróc quỷ trừ ma, mang lại phước khí thì còn gì bằng? Hơn nữa, hai ông thần mặt trắng mặt đen đó là âm sai của Diêm Vương, chuyện về hai ổng mang màu sắc rùng rợn giật gân, đảm bảo ăn khách.

Nói là làm, ông bầu soạn nguyên vở đầy đủ tình tiết từ hồi hai ông Hắc Bạch Vô Thường còn là con người cho tới khi chết đi, được chọn làm quỷ sai, có đủ hỉ nộ ái ố, tình huynh đệ, tình yêu đôi lứa. Có múa võ, có hù ma dọa quỷ, có luôn nguyên màn Tống Ôn Chúc Phúc ở kết. Khỏi nói, không chỉ người Hải Nam mà người Phúc Kiến, Quảng Đông, thậm chí cả người Việt đều mê như điếu đổ. Chuyện nôm na vầy, ông Hắc tên là Phạm Vô Cứu, ông Bạch tên là Tạ Tất An. Hai ông lúc sinh thời làm nha sai cho quan phủ. Hai ông chơi thân, thương nhau như ruột thịt. Một bữa đi công cán, đột nhiên trời nổi giông tố. Tạ Tất An kêu bạn mình đứng lại gầm cầu mà trú, đợi quay về lấy dù ra đón. Ai mà ngờ, ấy là trời tạo nên thử thách. Phạm Vô Cứu vẫn kiên trì chờ bạn, quyết không trái lời. Cơn lũ bất thần làm rung chuyển thiên địa, cuốn phăng Phạm Vô Cứu đi. Tạ Tất An quay lại, thấy bạn mình đã bị chết đuối, liền sinh ra hối hận. Hắn treo cổ tự sát ngay chân cầu. Diêm Vương cảm động trước lòng trung nghĩa của hai người, liền giữ lại mà phong cho chức Hắc Bạch Vô Thường. Phạm Vô Cứu vì chết đuối mà mặt mũi đen sì, thân hình trương sình, to lớn cục mịch. Còn Tạ Tất An do treo cổ nên lưỡi thè ra dài sọc, mặt trắng như sáp. Cặp quỷ sai này là tượng trưng cho trừng phạt - khoan dung. Họ đi trấn áp quỷ yêu, cũng như dẫn dắt những linh hồn lương thiện về nơi siêu thoát.

Chỉ có điều... người đời coi trọng ông Bạch Vô Thường hơn. Có chỗ kêu ông là Bạch Thần Tài, chỉ vì trên cái nón cao trên đầu ông có bốn chữ: “Nhất Kiến Phát Tài”, ý nói gặp một lần là giàu có. Người ta thích thờ cúng ông để xin phúc trạch, khấn siêu độ, xua đuổi ác linh. Tréo ngoe, ý nghĩa thực sự của bốn chữ đó có nghĩa là người chết thì lập tức được đốt nhiều vàng mã, là làm giàu ở thế giới bên kia. Làm gì có ai gặp Hắc Bạch Vô Thường mà còn sống để hưởng nữa chớ?

Kép Bảy lập tức được phân vai Bạch Vô Thường. Cả đoàn mình hắn diễn được quỷ bộ, nghĩa là giả làm tướng đi của quỷ. Kĩ thuật này của Kinh kịch, kép Bảy hồi xưa đã khổ luyện mới có thể diễn rành rẽ. Hắn mặc cái áo dài chấm đất màu trắng toát, chân không cử động, dùng ngón chân nhích mà cả người cứ lướt đi trên sân khấu như du hồn dạ quỷ, coi rùng rợn mà thú vị dữ thần. Lúc thì hắn lướt nhanh, có khi hắn đi chậm. Có lúc hắn nhảy phắt bên này, vòng qua cánh gà, rồi phóc tới bên kia. Tụi ban nhạc đập trống cái đùng, nó phóng ra hú lên làm khán giả thót tim hết trọi. Người ta ái mộ cái màn bắt hồn của nó dữ lắm. Chỉ cần nó đội cái nón, ngậm cái lưỡi giả dài sọc đỏ choét bằng cây, lướt ra thôi là người ta đứng dậy vỗ tay rần trời. Giọng nói nó ém lại cho the thé, thêm cái lưỡi cây chắn ngay họng, khiến lời thoại rít rít nghe như gió hú qua hẻm núi, nổi hết da gà. Bạch Vô Thường tánh tình manh động, thích hù dọa, múa may. Tụi con nít đôi khi mê nét diễn của thằng Bảy còn hơn coi Tôn Ngộ Không múa thiết bảng.

Còn Hắc Vô Thường? Ông bầu một bữa ngó trúng ông Tám hậu đài. Sao mà hợp vai dữ vậy? Cái mặt ám khói đen thui thùi lùi, xấu xí, rầu rĩ. Dáng người mập lùn, tướng đi thì cà lủi. Ông Tám mà diễn ông quỷ mặt đen đó thì khỏi phải hóa trang luôn. Với lại, Hắc Vô Thường ít nói chuyện, gần như cả vở chỉ gầm gừ, bước tới bước lui giậm đùng đùng. Đoạn khó nhất cũng chỉ cần quăng sợi xích, trói quỷ ma mà lôi vô cánh gà là hết. Dễ quá, dễ quá mà! Ông Tám đóng Hắc Vô Thường, chỉ cần có mặt là được. Bao nhiêu thứ còn lại, tung hứng biểu diễn, kép Bảy có thể lo được hết! Như vậy, không ngờ ông Tám hậu đài đã có vai diễn đầu đời của mình. Đó là vai chánh hay là vai phụ, thật ra không ai quan tâm.

Gánh hát Viễn Phương từ ngày có vở Hắc Bạch Vô Thường phất lên như diều gặp gió. Hết diễn ở đình, miếu rồi tới phủ, dinh. Tới nỗi, hễ nghe Viễn Phương là người ta chắc mẻm rằng thế nào cũng được diện kiến ông Đen ông Trắng. Giống như coi Tây du ký người ta chỉ thích Tôn Ngộ Không, thì Hắc Bạch Vô Thường bà con cũng chỉ xúm xít quanh ông Trắng, coi ông là linh hồn của vở diễn. Trong mắt anh em nghệ sĩ trong đoàn, ông Tám hậu đài nhận cái vai đó là đúng. Phước đức lắm mới nhảy phắt từ một ông già hết thời lên làm nghệ sĩ, sướng quá trời còn đòi hỏi gì nữa? Nhưng thật ra, kêu họ diễn vai đó họ cũng không chịu. Vai gì mà không được nói một câu, đi ra đi vô, rồi đi xuống. Cái vai đó mang tiếng vai chánh chớ chỉ hơn thằng quân sĩ với con hầu một chút xíu. Chẳng thà đóng mấy vai phụ kia còn được làm người, còn mặc đồ đẹp, trưng nhan sắc ra cho bà con coi. Còn Hắc Vô Thường? Mặt đen thùi, có gì đâu mà nhớ?

Kép Bảy được Tổ đãi, sự nghiệp rỡ ràng, thu lại rất nhiều huê lợi. Tiền lương hắn tăng vọt, lại được ưu đãi từ các vị hương chức, xì thẩu. Người ta biết, diễn xong là hắn lại mang cái mã đó ra, qua lại với mấy cô gái nhà giàu, mấy bà sồn sồn chồng chết. Đoàn cuốn gói đi là bọc tiền trong túi hắn lại dày thêm một chút. Âu, đó cũng là kẻ thức thời. Dầu sao, quá trình khổ luyện ngày trẻ của hắn cũng không hề uổng phí.

Còn ông Tám hậu đài, người ta biết ổng cũng khoái làm kép hát lắm. Không vậy thì đã không nguyện suốt đời theo làm sai vặt cho cái đoàn này. Ông ta già, xấu, giọng lại ồm ồm. Rõ ràng sắc và thanh đều không có. Phước đức ông bà để lại, có được vai diễn trong một tuồng danh tiếng. Rồi người ta thấy ông già gần sáu chục tuổi rị mọ học nối lối, ra bộ. Ông ta bắt đầu thả hồn theo hò xự xang xê cống. Bữa ổng còn dám bắt chước kép Bảy đi quỷ bộ, vấp chân té sấp, trào máu mũi làm cả đoàn cười rần. Chắc tới lúc ông diễn được như kép Bảy thì tóc cũng phải bạc trắng cho mà coi. Thiệt là không tự lượng sức.

3.

Tưởng đời cứ vậy mà trôi, ai ngờ đâu hắc với bạch vốn dĩ vô thường. Đâu lối 1940, Nhựt Bổn bước chân vô Đông Dương, người Pháp tưởng bá chủ ai dè phải quăng súng mà rút đi hết. Dân Nhựt Bổn thấy cũng người Á Đông, tóc đen da vàng, tưởng sẽ tương thân tương ái, ai dè còn ghê gớm hơn người da trắng. Họ đứng trên cái thế phải chứng tỏ quyền lực, thiết lập trật tự ngay lập tức sau mấy chục năm thống trị của người Pháp, dẫn tới việc bung ra bắt bớ, trấn áp. Đã là chiến tranh, làm gì có phân biệt là người da màu gì, tóc màu gì? Nhân loại là như nhau, và chiến tranh thì không bao giờ thay đổi.

Bà con khi đó được sống đã là khó, huống hồ bày ra cúng kiếng? Người ta phải chiến đấu với miếng cơm manh áo, hơi đâu mà đi coi hát? Gánh Viễn Phương lay lắt, tan tác, kẻ đi người ở, tàn tạ tới không ngờ. Những người không còn đường lui vẫn ở lại bám trụ cùng nhau, dựa vào nhau mà sống. Họ cũng phải tỏa ra đi làm mướn, rồi chăn nuôi, đánh cá. Kép Bảy và ông Tám hậu đài cũng như vậy. Bây giờ, được diễn ngày nào là trân quý ngày đó, không hiềm nhau là vai gì đi nữa. Cái vai cuộc đời đóng miết còn chưa xong đây kìa. Rồi cứ vậy, người gánh Viễn Phương mỏi mòn, kiệt quệ. Ông bầu bắt đầu tính tới chuyện giải tán, chia của, mạnh ai nấy đi. Tất cả mấy chuyện trên xảy ra ồ ạt trong vòng chưa tới ba tháng.

Một bữa, gánh Viễn Phương xuôi theo kinh rạch, thả xuống miệt dưới. Những chiếc ghe bầu cứ nối đuôi nhau, uốn khúc thành chữ chi, rong ruổi với dòng sông. Gặp bận nước ròng, đoàn tấp vô bờ hồ Trầm Vang chờ con nước lớn. Người ta bước ra ngoài, thấy một vòm đìu hiu bủa xuống trên đầu. Chỗ đây buồn thắt thẻo, gió hiu hiu thổi qua mùi phèn khai ngấy. Chim cò dập dờn tung cánh, bay ngộp trời chẳng sợ mũi đá hòn tên. Lấp ló xa xa ngoài đồng có mấy chóp nón lá nhấp nhô. Nghe mênh mông hiu quạnh nó ăn lần vô trong khúc ruột. Nhưng cũng còn may, chỗ như vậy chiến tranh chưa kịp tới. Người Viễn Phương nhìn nhau, neo cọc lại cho đỡ một đoạn đời buồn.

Nửa đêm, có người địa phương cầm đuốc lá dừa tới hỏi thăm. Ông bầu thưa gửi qua loa, ấy vậy mà sáng sớm hôm sau hương chức mời về đình Trầm Vang trình diễn. Người đoàn mừng ứa nước mắt. Có tiền thưởng chuyến này rồi có lẽ lay lắt thêm được năm bảy bữa. Họ tức tốc cuốn gánh mà đi.

Hồ Trầm Vang là một vũng nước mênh mông. Dòng Mê Kông từ thượng nguồn đổ xuống đây, vướng phải truân chuyên mà tụ lại thành một vùng nước thâm trầm, sâu hoắm. Bên bãi bồi có xóm có làng. Người trong xóm đưa những cặp mắt vàng ủng vì quen ăn nhiều khô mắm, ngó đoàn hát nối bước vô sân đình. Đám con nít túm tụm lại coi, tụi nó cười khúc khích, hưởng sái chút phù hoa của đời còn sót lại. Những đôi mắt đó thì lại sáng lung linh.

Nghề hát có hồi sinh? Người đoàn không biết. Họ chỉ biết chén cơm đã bưng ra trước mặt, bây giờ ráng ca hay múa đẹp rồi được ăn.

Hồ Trầm Vang bữa đó đột nhiên khóc òa. Không hiểu tại sao, nó buồn cơn lửa binh hay là giận con người đen bạc? Mưa rớt lên nóc đình rào rào, chảy xuống hàng ba thành những cái vòi ồng ộc. Đoàn Viễn Phương thấp thỏm, không lẽ không diễn được? Đây có phải điềm gì không? Cứ như vậy tới non nửa bữa cơm chiều thì mưa ngơi. Người ta mặc áo tơi, tụ lại cầm đuốc lá dừa đứng ngộp sân đình. Những ánh mắt lay láy đó nhìn vào trong, thấy những áo bào, mũ lộng vắt treo rũ rượi. Ánh lửa bập bùng tràn vô dưới chân tượng thờ. Ông bầu ứa nước mắt, ngó đào kép: “Bữa nay, chết cũng phải diễn! Tổ còn thương mình lắm!”

Hát bội cúng kiếng rất kĩ trước khi mở màn. Thượng hương, khai tràng, điểm trống, cúng tiền tổ. “Khai tràng đại bội” là cái lễ quan trọng nhất, nó có tới năm màn, dùng để tẩy uế cho sân khấu linh thiêng: cúng nhất vị, nhị vị, tam đa, tứ dân, ngũ hành. Trước đó còn phải cúng “Tam giáo đạo sư”, “Thập nhị công nghệ”. Có những vở diễn mà phần cúng còn dài hơn phần chính của vở, nhưng bà con vẫn rất thích coi. Mấy lễ cúng đó có vui không, có đẹp không? Không hẳn, nói trang nghiêm thì đúng hơn. Nhưng điều bà con say mê ở đó là những gương mặt hóa trang xanh đỏ, là áo mão cân đai, là tiếng ngũ cung vang vọng dìu dặt. Họ khao khát thứ ánh sáng lung linh do hàng mấy chục ngọn đuốc vây quanh sân khấu. Họ chìm đắm thứ không gian vàng vọt, ấm áp giữa tịch mịch màn đêm ngoài kia. Những cái đó, có khi nó còn hơn nội dung của vở diễn.

Vậy rồi có sự lạ. Khi lễ cúng đã được một nửa, đột nhiên ông Tám hậu đài đã hóa trang xong, chui tọt xuống gầm bàn thờ Tổ ở bên trong. Ông già hành sự quái dị, mắt trợn ngược, nghiến răng ken két, gầm gừ như ông hạm trên rừng. Ông bầu phán là “Ông về!” Người đoàn sợ xanh mặt, họ đều biết, những người đóng vai quỷ thần hay bị ông bà về dựa, trêu chọc. Ông Tám đóng vai Hắc Vô Thường, có lẽ nào ghê gớm như vậy? Nhìn kìa, cái mặt đen thùi, vận một bộ áo đen dài thượt, tay cầm xích sắt, đang thu lu cuộn mình dưới gầm bàn thờ. Nhìn ông ta bây giờ có khác gì quỷ sai thật đâu?

Người đoàn Viễn Phương thi nhau quỳ xuống bái lạy. Trong lúc bên ngoài thì quây quần bên sân khấu, kèn trống inh ỏi, bên trong thì im phăng phắc, rùng rợn kì bí, thằng nhắc tuồng chạy vô hớt hải thông báo:

“Thằng... thằng kép Bảy ôm thùng tiền trốn rồi ông bầu ơi! Má nó! Thằng khốn nạn!”

Thùng tiền đó trưng ở trước cổng đình, người xóm bước vô coi là cho tiền tùy hỉ. Đó không phải tiền bình thường nữa mà là xương máu, là nghề với nghiệp, là chén cơm manh áo. Tiền và người cùng biến mất. Đêm nay, Hắc Bạch Vô Thường kẻ thì tẩu thoát, kẻ thì thất thần. Vậy rồi diễn làm sao?

Ông bầu ngồi yên, cố gắng nhắm mắt trấn tĩnh để định liệu. Nhưng bình tĩnh thì chưa thấy, chỉ thấy mồ hôi ông tuôn ra những hột bự như đậu xanh, hai bàn tay còn run lên bần bật. Không trả tiền lại được, cũng không diễn được. Không lẽ trời đất, Tổ nghiệp triệt hết đường sống của đào kép rồi sao?

Ông Tám hậu đài, người đã ở trong đoàn từ rất lâu. Ông ta cũng chính là người kéo tấm màn nhung đó, mở ra muôn vàn không gian thời gian, lôi khán giả từ thực tại trôi dạt về quá khứ, bay phốc bên Tàu rồi về lại nước Nam. Ông ta là người nấu cơm, nuôi cho đào kép no bụng. Ông ta cũng là người gánh thùng đồ để lên ghe, cầm lái mà đưa đoàn hát xuôi theo vạn lí. Bây giờ, ông Tám hậu đài đương chầm chậm chui ra khỏi gầm bàn trước ánh mắt ngỡ ngàng của bao nhiêu ngôi sao sân khấu. Ông đứng thẳng mà cái lưng vẫn gù gù. Búi tóc xi nhông bung ra, xõa xuống cằm, che nửa gương mặt đen như hắc hạm. Ông siết sợi lòi tói trên tay, miệng gầm gừ: “Khai diễn!”

Bà con ngó lên sân khấu, thấy dàn ngũ cung tuôn ra dòng âm thanh lả lướt. Là điệu “khách”, dùng liu cống để tạo không khí hùng hồn, bi tráng. Âm thanh như sà xuống từ đọt tre. Đây là đoạn nhạc của kép Bảy, là cảnh Bạch Vô Thường dùng quỷ bộ để nhào ra trước, hù dọa người ta. Cả đoàn nhốn nháo, rồi ai làm ông Trắng? Lúc đó, ông Tám hậu đài lướt ra giữa khoảng sân gạch tàu đuốc rọi lung linh. Ông ta vẫn đang bận cái áo đen thùi, nhưng bên vai kia đã vắt lên một dải lụa trắng, đầu đội cái nón cao có ghi bốn chữ “Nhất Kiến Phát Tài”. Khi ông xuất hiện, phần trắng đó hướng về phía khán giả, miệng thì ngậm cái lưỡi giả đỏ lòm, như ánh lửa lập lòe kéo một vệt trong màn đêm. “Quỷ bộ!”

Ai đó kêu lên như vậy. Đúng, không hề sai. Là Bạch Vô Thường đang dùng tướng đi của ma quỷ, trở ra từ bóng tối. Tà áo trắng toát đó vụt đi, mà đôi chân bên trong không hề lay động. Bạch Vô Thường cười rít lên the thé, quỹ đạo trước mặt cứ lạng qua lạng lại, biến ảo khôn lường. Ông đờn cò kéo một nhịp cao chót vót, làm vài khán giả giật bắn cả mình. Tiếng cười của Bạch Vô Thường ngân nga ra xa tít bờ hồ Trầm Vang, lôi kéo dơi quạ bay lên xào xạc. Có đứa nhỏ ré lên khóc. Bạch Vô Thường trừng đôi mắt lộn tròng, nhìn xoáy vào nó vô cùng quỷ dị. Mẹ nó chụp miệng con, gắt: “Im đi!” Bà mẹ lẫn tất cả khán giả chung quanh sống lưng đã bất giác lạnh ngắc hết rồi.

Người đoàn Viễn Phương ai nấy sững sờ. Ông già Tám đó học được quỷ bộ từ khi nào? Vô lí! Thân hình ổng vụng về như vậy thì đi bình thường còn té, huống hồ là lướt trên đầu ngón chân? Đằng này, kĩ thuật khó ghê gớm kia đang tuôn ra thong dong, lại còn nhấn nhá bộ pháp theo tiếng nhạc. Ông Tám hậu đài đang đóng vai Bạch Vô Thường thật đó sao? Cái điệu cười đó đâu thể nào là giọng của ổng? Còn cái kiểu nhanh chậm, uốn éo kia, sao rợn hết da gà. Kép Bảy mà ở đây chưa chắc làm được như vậy! Đây không thể là con người thật đang diễn được. Đây... chính là Bạch Vô Thường!

Khi ấy, tiếng trống giậm “Đùng!” một cái, ban ngũ cung chuyển qua điệu “nam”, dùng hò xang xự tạo sự trầm đục, kéo dài. Âm thanh như luồng dưới nền đất mà trồi lên. Ông Tám hậu đài chậm rãi quay vai bên kia ra khán giả. Phần áo đen bên dưới của ông ta phất phới, mái tóc lõa xõa, bay tả tơi theo gió thốc từ mặt hồ trước đình. Lạnh quá, một ông già liền kéo cái khăn rằn quấn kín cổ. Ông Tám hậu đài giậm một bước thật mạnh. “Rùng!” Lại nghe một bước nữa. “Rùng!” Hơi ông ta trầm xuống, gầm gừ trong cổ họng như có lò than cháy lùng bùng trong đó. Ông ta bước đi, sợi xích sắt cà xuống nền gạch nghe leng keng, thứ âm thanh sắc lạnh bén ngót. Cái nón trắng và chót lưỡi dài đã khéo léo cất đi lúc nào không ai hay, bây giờ hiện ra trước mắt bà con là một hung thần ác sát mặt mũi đen sì, đương há ra cái miệng đỏ lòm. Khán giả há hốc, im phăng phắc. Trong cánh gà, người đoàn chuyển từ ngỡ ngàng sang sợ hãi. Một mình ông Tám diễn cả hai vai Hắc Bạch Vô Thường. Không thể như vậy được! Làm sao mà... mà... Hay là Tổ độ? Hay là “Ông” đang diễn thay ông già hậu đài đó?

Không ai lí giải được. Bây giờ, sân khấu là của riêng Hắc Bạch Phán Quan. Không đúng, là của một mình ông Tám. Ông ta là đen, mà ông ta cũng chính là trắng!

4.

Kép Bảy khua chèo, chiếc xuồng lướt trên mặt hồ Trầm Vang. Hơi sương bốc lên thành những luồng mây khói, lau đế phất phơ che đậy bóng hình của kẻ lưu vong. Kép Bảy vừa mừng vừa sợ. Mừng vì cuối cùng cũng thoát khỏi kiếp cầm ca, có một số vốn kha khá, trốn đi chỗ khác xây lại cuộc đời. Hắn biết mình có bộ mã phong lưu, không làm kép thì cái lưỡi dẻo quẹo này cũng giúp hắn sống sung sướng được. Còn sợ vì một lẽ giản đơn: làm chuyện tội lỗi. Sao mâu thuẫn quá? Tại sao đã quyết ăn cắp mà còn sợ? Đã trốn đi thì còn ai bắt bớ kịp mà lo lắng gì? Gánh hát còn đang điên đầu không biết xử trí với bà con ra sao, có ai rảnh mà đi tróc nã hắn nữa chớ? Hay là hắn sợ vì không gian tĩnh mịch chung quanh? Bốn bề sau cơn mưa tối đen như mực, chỉ có chấm sáng leo lét sau lưng, là nơi đình thần diễn ra vở Hắc Bạch Vô Thường. Kép Bảy nhếch mép, không có hắn thì còn ai có bản lĩnh nhảy ra diễn. Ông bầu được không? Hay thằng kép Bình, hay con đào Tuyết giả trai? Ai cũng không xong, nhất là cha già Tám cục mịch đó. Ổng chỉ có thể đóng vai Hắc Vô Thường, ậm ờ vô tri. Toàn bộ cục diện của vở đó là một mình ông Trắng mặc sức mà tung hứng. Bạch Vô Thường đã ôm tiền mà tẩu rồi, thì Hắc Vô Thường cũng trở thành vô dụng mà thôi!

Chợt một cơn gió thốc qua mũi, chiếc xuồng mong manh chao đi. Bọc tiền để phía trước đột nhiên rớt chủm xuống nước. Kép Bảy điếng hồn, đưa tay chụp lấy nhưng hụt lấc. Hắn ngã người gần sát mặt nước, chới với muốn cắm đầu. Nhanh trí, kép Bảy chụp lại sợi lòi tói neo xuồng. Hắn lấy lại được thăng bằng, ghì đứng lên lại.

“Má, mém nữa thì tiêu đời!”

Kép Bảy văng tục, thở phào sau cơn hú vía. Bây giờ có bơi giỏi cỡ nào, rớt xuống nước là chết chắc. Cái lạnh thấu xương sẽ bóp teo cơ bắp, lôi người xuống tận đáy hồ cho mà coi. Kép Bảy tiếc tiền lắm, ngó xuống mặt hồ rồi lại ngó về phía sân đình. Rồi hắn tự an ủi, thôi kệ, tiền phi nghĩa có xài cũng xui xẻo. Tới nước này rồi có khi trở lại chỗ bà hội đồng Hà may ra sẽ được ấm no. Dạo đó ngu quá, đang đương thời, ham làm kép chánh nổi tiếng mà từ chối bả. Bây giờ quay về liệu bà hội đồng có chờ mình chăng?

Miên man suy tính, kép Bảy bất thần trợt giò khi mũi xuồng mất lái, tròng trành trên cơn sóng. Xuồng đi chậm rì, nhưng chỉ một sơ hở thôi, mặt ván ướt sũng nước do cơn mưa đã đẩy hắn té ùm xuống hồ Trầm Vang. Hắn điếng hồn, tay quơ quào nhưng không chạm được vật gì hết. Nước cứ tuôn qua kẽ tay hắn, không níu giữ lại được. Kép Bảy cuồng loạn giãy giụa, nghe dòng nước giá băng tuôn ào ào xuống phổi. Cả người hắn đông cứng, bắp chân trái bị vọp bẻ, co quặp đau đớn xộc lên não. Còn cái chân phải, nó đang quấn vô sợi lòi tói buộc xuồng khi nãy, là thứ đã cứu hắn một mạng vừa tức thì. Hắn không thể làm gì khác, trợn tròn mắt cảm nhận từ từ cái chết tới gần. Phía sân đình khi đó rộ lên một tràng pháo tay ầm ĩ, những tiếng cổ vũ vang vọng. Kép Bảy không có tâm trí thắc mắc. Hắn đang bận chết.

Kép Bảy chìm xuống lòng hồ Trầm Vang theo từng khắc giây. Phút cuối cùng, ở đuôi mắt hắn thấy có hai bóng hình đang dập dềnh trong nước. Một bóng áo trắng với cái lưỡi dài đỏ hoét. Một bóng áo đen tóc xõa bù xù. Hắc Bạch Vô Thường? Họ đứng yên, không hù dọa, không trấn áp chi hết. Họ nhìn. Và kép Bảy chìm vào hư không.

5.

Sáng hôm sau, gánh hát Viễn Phương chống sào ra đi. Người trong đoàn đều rù rì nhau chuyện hôm qua “Ông về”, nhập vô ông Tám rồi độc diễn một mình cả hai vai Hắc Bạch Vô Thường. Nhưng “Ông” là ông nào, họ đâu có biết chắc? Hay là Tổ nghiệp thương đoàn hát khổ sở, về “đãi” một lần, cho thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan? Hoặc đó chính là nhị vị phán quan, thấy con người diễn tuồng về mình thì hiển linh đó? Không ai biết, bản thân ông Tám hậu đài lại càng không biết. Ông tỉnh dậy, thấy cả người mỏi nhừ, nóng sốt. Ai hỏi, ông cũng lắc đầu, lắp bắp nói rằng mình có biết quỷ bộ, có biết xuất quỷ nhập thần gì đâu. Rồi kép Bảy đâu? Không có nó làm sao diễn vở này được nữa?

Đoàn Viễn Phương ra đi không một xu dính túi. Bọc tiền thưởng nằm dưới đáy hồ Trầm Vang mất rồi. Thứ họ giữ lại được chính là danh dự và lòng ái mộ của bà con. Họ xuôi theo dòng sông, lại trôi về một nơi vô định. Có thể ngày mai họ lại được diễn, hoặc ngày mốt, thậm chí là tới tháng sau, năm sau cũng không chừng. Ông bầu ngó xa xăm, nhìn chân trời rợn màu tím ngắt. Nước lớn rồi sẽ ròng, một ngày hai bận, trời đất luôn là vậy. Giờ nào nước lớn thì đi, ròng thì mình dừng nghỉ. Ông ngó qua chỗ ông Tám đang nằm, thấy ông già hậu đài lại múa máy bàn tay, học cách ra bộ. Ông bầu thở dài, bệnh quá đây, sao chẳng nghỉ đi?

Miết mấy ngày sau, người Trầm Vang thấy một chiếc xuồng con tấp vô bờ. Người ta trông rõ có sợi lòi tói đung đưa buộc trước mũi, nhưng đầu dây không có cái gì hết. Họ kiểm tra, thấy bụng xuồng có cái nón dài màu trắng. Bốn chữ đỏ loét còn nhơm nhớp ướt mem: “Nhất kiến phát tài”.

Phía sau người đàn ông. Truyện ngắn của Ngô Thị Ý Nhi

Phía sau người đàn ông. Truyện ngắn của Ngô Thị Ý Nhi

Baovannghe.vn - Thằng Hai cưới vợ. Dù đã mong mỏi chuyện này từ lâu lắm rồi, vậy mà khi nó đến, đến một cách nghiêm túc thì vợ chồng tôi, chẳng ai bảo ai, cả hai đều ngấm ngầm cảm thấy đôi chút ngỡ ngàng.
Khởi động Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026

Khởi động Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026

Baovannghe.vn - Sự kiện do Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội tổ chức; Sở Văn hóa và Thể thao là đơn vị chủ trì thực hiện.
Chạm vào chiếc lá - Thơ Trương Minh Hiếu

Chạm vào chiếc lá - Thơ Trương Minh Hiếu

Baovannghe.vn- Này, chạm vào lá đi em/ Cho cây bớt tủi lãng quên bên đường
Tôi không thấy thơ mình như trước nữa - Thơ Thi Hoàng

Tôi không thấy thơ mình như trước nữa - Thơ Thi Hoàng

Baovannghe.vn- Nhớ lại câu thơ mình riết róng viết ra/ về lại phố cũ đường nét xưa di trú
Bao nhiêu năm để được thành người

Bao nhiêu năm để được thành người

Baovannghe.vn - Năm 2026, nhà thơ Bằng Việt tròn 85 tuổi. Anh đã hoàn thành bản thảo tập thơ mới mà anh trực tiếp viết bằng bốn ngữ Việt, Anh, Pháp, Nga với 123 bài.