Từ nền tảng ấy, tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn tiếp tục hiện diện và vận động trong đời sống đương đại. Tại Bắc Ninh, sự phát triển phong phú của thực hành này đang cho thấy nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với truyền thống, từ gìn giữ những giá trị cốt lõi đến thích ứng với đời sống hôm nay.
| Hát văn (chầu văn) là thể loại chính và đặc trưng nhất sử dụng thơ ca thờ Mẫu. Hát văn là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời ca, giai điệu, tiết tấu và thường được biểu diễn bởi một hoặc nhiều cung văn, cùng với các nhạc cụ truyền thống như đàn nguyệt, trống, sáo, nhị, phách. Lời hát là những bài văn vần thuộc thể lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn,… do dân gian đặt ra, truyền miệng qua nhiều đời. Điệu hát văn rất phong phú, những con số thống kê ở mỗi tài liệu nghiên cứu có những cách phân loại và thống kê khác nhau về hệ thống làn điệu với những điệu được đặt tên “chuyên biệt” như điệu bỉ, miễu, thống, phú, dọc, kiều dương, cờn, xá, hãm,… Một số điệu trong hát chèo, hát ví ruộng đồng, cò lả,… hay một số làn điệu như lưu thủy, hành vân, kim tiền. Có lúc còn ngâm thơ theo lối cổ, được sử dụng linh hoạt theo từng giá đồng, thanh đồng,… |
Vùng kinh Bắc xưa bao gồm bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay, không chỉ nổi tiếng với những di sản văn hóa phong phú mà còn là một trong những không gian văn hóa có nhiều di tích, thực hành tín ngưỡng và hình thức diễn xướng liên quan đến phong tục thờ Mẫu. Cho đến hôm nay, với sự tiếp biến văn hóa và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu trong sự dung hợp giữa các dân tộc thiểu số của địa phương, Bắc Ninh đã có hệ thống thờ Mẫu phong phú.
Đến nay, Bắc Ninh không chỉ bảo tồn nghệ thuật hát văn, một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu được thực hành rộng rãi trong các di tích đền, phủ và cả các điện thờ tư gia mà còn tổ chức thường niên các liên hoan hát văn, hát chầu văn để các nghệ nhân, thanh đồng và những người yêu thích loại hình nghệ thuật này có cơ hội giao lưu, biểu diễn.
Từ khi UNESCO ghi danh “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, hoạt động hát văn, hầu đồng được tổ chức bài bản hơn, góp phần giúp cộng đồng nhận thức rõ hơn ranh giới của thưởng thức nghệ thuật, của thực hành tín ngưỡng.
Trước hết, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện rõ nét qua các nghi lễ hầu đồng. Trong đó, nghệ thuật thơ và ca của hát văn trong các khóa lễ, giá đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trong thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu, hát văn giữ một vị trí đặc biệt. Không chỉ dẫn dắt diễn biến của nghi lễ, hát văn còn tạo nên không gian âm thanh thiêng liêng, nơi âm nhạc, lời ca và nghi thức hòa quyện, làm nên sức hấp dẫn riêng của tín ngưỡng. Chính sự gắn bó mật thiết với nghi lễ đã hình thành nên những đặc trưng riêng của hát văn, cả trong cách hát, làn điệu, tiết tấu và nội dung lời ca.
Do đó, hát văn chính là loại hình âm nhạc - diễn xướng dân gian được trao truyền qua nhiều thế hệ với những quy thức và lối thể hiện tương đối chặt chẽ. Mỗi làn điệu, mỗi cách hát đều gắn với nội dung và hoàn cảnh thực hành cụ thể. Sự kết hợp giữa âm nhạc, lời ca giàu chất thơ và diễn xướng đã tạo nên những giá trị nghệ thuật đặc sắc, đồng thời làm nên sức sống của hát văn trong thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu.
Theo các nhà nghiên cứu, các làn điệu hát văn rất đa dạng, từ những điệu trang trọng, hùng tráng đến những điệu mềm mại, trữ tình, phù hợp với từng giá đồng và tính cách của vị thần giáng.
Nội dung các bài hát văn thường là tả phong cảnh các miền thánh cai quản, kể chuyện về các thánh, tả hình dáng, hành động, tâm lý, tính cách của thánh,… như chầu ông Hoàng Mười, chầu bà Chúa Thác Bờ, bà Chúa Sơn Trang, bà Chúa Thượng Ngàn...
Thơ ca trong thờ Mẫu ở Bắc Ninh mang những đặc trưng riêng biệt, phản ánh rõ nét văn hóa và tâm linh của vùng đất Kinh Bắc. Hầu hết các bài thơ ca được lưu truyền qua nhiều thế hệ bằng hình thức truyền miệng, được biến tấu và sáng tạo thêm qua thời gian. Lời thơ thường sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, so sánh, mang đậm tính ước lệ của văn học dân gian. Ngôn ngữ thường gần gũi với đời sống, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Âm nhạc là hồn cốt, là động lực để lời ca được cất lên, còn vũ điệu là sự minh họa, là biểu hiện của lời ca.
Trong các buổi hầu đồng, cung văn (người hát chầu văn) thường có khả năng ứng tác lời ca theo diễn biến của buổi lễ, theo cảm xúc của Thanh đồng, tạo nên sự sống động và chân thực. Nội dung các bài thơ ca rất phong phú, từ ca ngợi công đức của các vị thần, kể chuyện về sự ra đời, hiển linh của các Mẫu, các Chầu, các Quan, cho đến những lời khấn nguyện, ước mong về sức khỏe, tài lộc, bình an.
![]() |
| Di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là di sản văn hóa phi vật thể thứ 10 của Việt Nam được UNESCO vinh danh. Ảnh minh họa: Báo Ảnh Việt Nam/TTXVN |
Ở hát văn - chầu văn, âm nhạc, điệu múa, lời ca mang đặc trưng của nghi lễ tâm linh, tín ngưỡng, nên thường được hiểu là một loại hình nghệ thuật chỉ phù hợp với những nơi thờ tự như đình, đền, miếu, hội. Song, đến nay, chầu văn nhiều khi đã tách khỏi không gian đó để bước lên sân khấu nghệ thuật như một tác phẩm nghệ thuật riêng biệt. Một trong những bài chầu văn nổi tiếng nhất là Cô đôi Thượng Ngàn được nhiều nghệ sĩ, đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp thể hiện. Điều này thể hiện rõ nét trong các buổi biểu diễn văn nghệ, liên hoan dân ca dân tộc…
Một ví dụ cho sự tiếp biến văn hóa trong thực hành thờ Mẫu, đồng thời cho thấy nỗ lực bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, là đền Bà Chúa Then ở Hương Sơn, xã Lạng Giang. Những năm gần đây, không gian thực hành tín ngưỡng tại đây ngày càng thu hút người thực hành và du khách. Đáng chú ý, trong cùng một không gian tín ngưỡng đã hình thành sự giao thoa giữa thực hành Then và thờ Mẫu, với các ban thờ Mẫu Liễu Hạnh, Tam Phủ, Tứ Phủ và ban thờ riêng bà Chúa Then. Sự đan xen này cũng góp phần tạo nên một điểm đến du lịch tâm linh của địa phương.
Thực tế tại đền Bà Chúa Then cho thấy tín ngưỡng thờ Mẫu đang có sự giao thoa, tiếp biến và dung nạp giữa các lớp tín ngưỡng, tạo nên những hình thức phối thờ đa dạng. Vì vậy, việc nghiên cứu và nhìn nhận thờ Mẫu trong đời sống đương đại cần một cách tiếp cận cởi mở hơn, để nhận diện đầy đủ quá trình vận động và những giá trị đang được tiếp nối trong thực hành tín ngưỡng.
Thơ ca trong hát văn không chỉ truyền tải những giá trị tâm linh mà còn là một hình thức nghệ thuật giàu sức sáng tạo, phản ánh tâm hồn và đời sống tinh thần của người Việt. Vì vậy, cần có thêm những cuộc trao đổi sâu sắc trên truyền thông về giá trị thơ ca trong thực hành thờ Mẫu ở các địa phương và vùng miền, qua đó giúp cộng đồng hiểu đúng, trân trọng và cùng gìn giữ, phát huy những giá trị ấy. Đây không chỉ là bảo tồn một di sản văn hóa, mà còn là gìn giữ một phần bản sắc tinh thần và tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam.