Sáng tác

Cha nuôi. Truyện ngắn của Cao Kim

Cao Kim
Truyện 10:34 | 03/07/2026
Baovannghe.vn - Năm 1953, quân Pháp đánh chiếm Hội An, mẹ con tôi cùng người làng chạy vào Hưng Mỹ. Trên đường đi, máy bay Dacota thả bom vào đội hình người tản cư, mẹ tôi bị thương nặng.
aa

Đoàn người tay xách nách mang, gồng gánh một đầu con một đầu quần áo chạy tán loạn, tìm nơi ẩn nấp. Người lao vào bụi cây, khe suối, người cố chạy nhanh lên phía trước cho thoát tầm máy bay. Còn lại mình tôi bên người mẹ bị thương.

Một người đàn ông tên là Năm đưa về nhà chăm sóc. Đến tối, xem chừng mẹ tôi đã quá yếu, bà mấp máy môi, tay yếu ớt ra hiệu cho tôi và ông Năm lại gần, một tay chậm chạp lần vào túi áo trong lấy ra một gói vải nhỏ, đưa cho ông Năm, rồi tắt thở.

Tôi òa khóc, phần vì mất bà, phần vì tôi sợ. Tôi sống với ai đây? Ông Năm đứng ra lo liệu, đưa mẹ tôi ra gò đất nghĩa địa của làng. Đứng trước gò đất vừa đắp thành nấm, ông khấn:

“Thưa chị, tui sẽ nuôi cháu, nhà có khoai, ăn khoai có rau ăn rau, con tui răng, cháu rứa”.

Ông lạy bốn lần, rồi dẫn tôi về nhà.

Năm ấy tôi bước sang tuổi thứ sáu.

Ông Năm có khuôn mặt chữ điền, hơi quá khổ, cằm bạnh, lông mày rậm, đôi mắt thâm trầm. Nhìn ông, tôi hơi sợ. Bà Hai, vợ ông là một người đàn bà đẹp, trực tính... Ngày đầu tiên, nhìn kỹ hai người, tôi liên tưởng đến một đóa hoa bên cành gai. Tôi có cảm giác sợ thay cho bà. Chỉ cần một cơn gió nhẹ, chứ chưa nói đến bão giông, gai sẽ đâm nát cành hoa.

Các con ông, An con trai đầu hơn tôi một tuổi và Bình đứa con gái nhỏ hơn tôi hai tuổi. Cả hai đều khoẻ và rất giống ông, không chỉ là bóng mờ mà hiển hiện lên từng động tác, khi An cười, tôi thấy giống ông cười, khi Bình giận tôi thấy cái bặm môi cũng rất giống, trong con mắt hồn nhiên ấy có tia giận rất rõ. Còn tôi, người gầy, da trắng, lại nhát gan, cộng thêm xứ lạ càng rụt rè, nhút nhát hơn.

Trong gia đình năm con người này, tôi cảm thấy lạc lõng. Ngồi quanh mâm cơm dọn trên nền nhà bằng đất sét nện, tôi rưng rưng khóc. Phần vì nhớ mẹ, phần vì tủi thân, lẻ loi. Ông chủ động gắp thức ăn vào chén cho tôi. Gọi là thức ăn, nhưng đó là lát dưa muối trộn với đậu phộng và một con mắm, thịt rã ra thành nước chỉ còn trơ xương, hình con cá cơm, gọi là mắm cá cơm - sau này tôi biết thêm đây là loại mắm ngon có tiếng. Ông nói với vợ:

“Tui đã nhận nó làm con nuôi, từ rày trở đi, nó là con mình”.

Bà im lặng.

Hai đứa con ông cũng im lặng, dường như chữ con nuôi là gì hai đứa không cần để ý, chỉ biết từ nay trong nhà này có thêm một thằng con nít không phải mẹ mình đẻ ra, mà cha gọi là con nuôi.

Ông nói thêm:

“Cực một tý nhưng xem ra như thêm đũa thêm chén thôi mà”.

Bây giờ bà mới lên tiếng:

“Thì tui có nói chi mô”.

“Ăn đi con”.

Cha nuôi
Hình ảnh minh họa. Nguồn pinterest

Tiếng “con” phát ra từ miệng ông gọn chắc, tôi cảm thấy sức lay lạ thường, một cảm giác rung nhẹ người, âm sắc của tiếng “con” chứa đựng yêu thương của người cha (như cha ruột) và nỗi cảm thông cay cực của một đứa con nít bơ vơ giữa cõi đời, lạ nước lạ cái nơi xứ lạ người dưng.

Tôi bưng chén cơm lên mà tay run run, chỉ muốn đặt chén xuống, chồm tới ôm ông.

Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được một người đàn ông gọi con một cách trìu mến như vậy.

Tôi sinh ra đã không được gặp cha, chỉ nghe mẹ nựng:

“Lớn lên theo cha đi đánh giặc, làm cách mạng”.

“Ăn đi con”.

Tôi giật mình nhận ra đó là tiếng của bà Hai. Tôi nhìn bà mà hai hàng nước mắt tự nhiên chảy dài, tôi đưa tay lên quệt vài giọt nước mắt đã lặn vào miệng, cảm giác mặn chát. Hàng rào vô hình ngăn cách giữa tôi và gia đình đã không còn nữa…

Trăng sáng, mẹ đem thúng gạo lứt xay hồi chiều đổ vào cối. Cha đánh tiếng:

“Thằng An, thằng Được đi giã gạo với mẹ mày”.

Mỏ chày cất cao rồi rơi thịch xuống cối, những hạt gạo va vào nhau xào xạc, mẹ ngồi bên cối lùa gạo.

Đêm trăng làng quê có sức làm cho con người không buồn ngủ, ánh trăng như nối dài ánh ngày, để người nông dân còn thời giờ lo chuyện trong nhà, khi cả ngày làm ngoài ruộng. Tôi và An giã xong cối gạo thì mẹ giục:

“Hai đứa đi ngủ đi”.

“Mẹ cũng đi nghỉ sớm”.

“Tao ráng vần, sàng, sảy cho xong để mai còn có gạo nấu”.

Sáng sớm, gà trên chuồng chưa nhảy xuống đất, mẹ phải thức dậy nhen lửa nấu cơm. Trước khi mặt trời vừa nhô lên khỏi mặt biển thì cơm phải dọn lên mâm để mọi người vào và ăn, rồi ai nấy đều ra đồng...

Thế là tôi học bài học làm người một cách nhẹ nhàng khi bước vào ngôi nhà thứ hai của đời mình.

Tôi theo An đi giữ bò. Nhà ông Năm có ba con bò, một con nái đang có chửa, dáng đi chậm và nặng nề, tôi có cảm giác con bê trong bụng mẹ đã lớn, chỉ còn chờ ngày một ngày hai thì đàn bò sẽ là bốn con.

Ra tới bờ sông, An nói:

“Mi coi bò, tau đi kiếm cho mẹ nắm củi”.

Rồi An mất hút trong vạt cây lúp xúp, nào là chà là gai, mua mọc dọc triền sông.

Tôi nhìn dòng sông, đoạn này nhỏ và cạn, nước trong, nhìn thấy những mảng rong chân vịt trong lòng nước, cát trắng mịn. Tôi nhìn cá, từng đàn cá bống trắng màu của đất cát bơi sát đáy sông, bầy cá ngạnh chừng hơn chục con, bơi lưng chừng, giương hai cái ngạnh như cánh chiếc máy bay thả bom của Pháp. Và kìa đàn cá diếc bơi chầm chậm đến sát bờ nước, chỉ cần tôi đưa tay ra là có thể chụp được. Sự ham thích dẫn dắt tôi theo đàn cá mà tôi nghĩ chắc chắn mình sẽ bắt được.

Cho đến khi An quay lại nạt và đưa tay lên định đánh tôi, tôi mới biết đàn bò đã ăn gần hết một luống dây khoai lang…

Không biết từ đâu, cha nuôi tôi cũng có mặt đang phân bua với người bị hại, tôi nghe cha nói:

Mũi dại lái chịu đòn, chú cứ để tui đền”.

Ông quay lại nhìn hai đứa tôi đang đứng bên mấy con bò, giờ chậm rãi nhai lại thức ăn ngon và bổ nhất của nó (có lúc nào nó được ăn dây khoai lang đâu, chỉ ăn cỏ, mà cỏ cùn cỏ xấu và rơm khô), ông quát:

“Lùa bò về chuồng, tau giần nát xương”.

Ông bỏ đi

Tôi nhìn đàn bò, nhất là con bò choai, thấy cái tướng nó vô tư không thèm biết đến cái tội là làm cho tôi có tội. Tôi giận quá, lượm đoạn cây định phang cho nó thì An giựt lại, mặt hằm hằm, nói:

“Ngu rứa”.

Tôi chưa dịu cơn tức, cứ ấm ức trong lòng, còn An đang cúi gằm mặt xuống đất như người chịu lỗi, càng làm tôi sợ. Tôi vùng chạy theo hướng bờ sông.

Nghe đâu đến tối chưa thấy tôi về, mẹ nuôi nói:

“Rứa là thằng Được không về rồi”.

Cha nuôi tôi còn giận, buông một câu gọn:

“Đói phải bò về”.

Rồi ông ra hiên ngồi hút thuốc.

Mẹ và An đi tìm, không thấy tôi, quay trở về.

Đêm khuya, cha tôi còn đứng ngoài sân dõi mắt theo hướng bờ sông.

Ông đốt đuốc, là đoạn rơm quấn chặt, dài bằng cánh tay, còn gọi là con cúi, khi châm lửa vào đầu đoạn rơm, lửa cứ ngún mãi, khi muốn lửa có ngọn, người ta thổi mạnh vào đầu con cúi, lửa sẽ đỏ, soi rõ lối đi.

Trời nhập nhoạng tối, bờ sông lạnh, tôi giấu mình trong bụi dứa dại, cắn răng chịu những đàn muỗi bay vo vo cắn vào tay vào chân vào mặt, cắn răng chịu mấy con kiến càng từ thân cây duối bám vào người đốt đau điếng.

Một tiếng bùm bất chợt vang lên, tôi giật mình, một cảm giác gợn gợn chạy dọc xương sống, tôi như ngưng thở nhìn xuống sông, thấy một con chuột to đang bơi, càng làm tôi bớt sợ vì đã tìm ra nguyên nhân của tiếng động, không phải cái gì ghê gớm đe dọa đến tính mạng mà chỉ là một con chuột, nhưng chính vì chuột biết bơi là một chuyện lạ nên tôi tò mò quan sát.

Con chuột trồi lên mặt nước, miệng gặm một con cá bống lớn, nó trườn lên bờ, đặt con cá dưới một bụi ô rô trước mắt tôi, rồi lại lặn xuống sông, con cá bống chưa chết hẳn, đuôi còn quẫy và cựa mình, nhưng không đủ sức lăn xuống mép nước… Tôi định bò ra nhặt lấy con cá thì cha nuôi đi ngang qua nói bâng quơ:

“Thằng dại, nằm bờ, nằm bụi, con ma dẫn đi nhận nước có mà chết”.

Nghe tiếng ma, tôi sợ quá, vạch gai chạy ra, quì dưới chân ông, xin tha.

Ông nói gọn lỏn:

“Cái thằng”.

Rồi dẫn tôi về.

Mẹ lấy cơm cho tôi ăn, ngồi bên bà, ánh sáng ngọn đèn dầu hoả soi gương mặt bình thản, miệng nhai trầu, bà nói giọng như bị líu lại do vừa nói vừa giữ bã trầu khỏi rơi ra…

“Lần sau đừng có dại như rứa”.

Tháng Chạp, trời lạnh, gần sáng cha gọi tôi dậy đi nhổ mạ.

Mẹ tôi nói:

“Để hắn ngủ thêm một tý, trời lạnh lắm”.

Cha:

“Lạnh không chết, làm thằng đàn ông phải biết chịu cực”.

Thằng đàn ông ư?

Tôi mới có chín tuổi đầu.

Ba cha con tôi quảy gánh ra đi, sương dày không nhìn thấy lối, bàn chân chạm vào đất lạnh, len tới xương, tôi bấm mấy ngón chân xuống mặt đường đầy bùn nhão nhoét mà đi.

Ngồi chồm hổm trên luống mạ, tay nhổ mạ, mà hai hàm răng tôi cứ đánh vào nhau lập cập.

Tôi muốn khóc.

Nghĩ đến mẹ,

Giá như bà còn sống chắc không để tôi như thế này.

Tôi nuốt nghẹn mà không trôi, cứ chực trào ra.

Nhìn cha thoăn thoắt làm, tôi cố làm theo ông.

Khi mẹ tôi gánh cơm sáng ra đồng, nhìn gánh mạ đã chất đến ngọn gióng, bà nhìn ba cha con hài lòng, cái bực của tôi cũng không còn. Tôi nhìn cha, ông bình thản ăn cơm như không hề có chuyện lạnh, cực hay gì gì nữa.

Đến mùa trồng khoai, quê tôi gọi là khoai lang Trà Đỏa, hàng khoai thẳng cao bằng đầu người tôi, từ bên này nhảy qua bên kia không khỏi. Cha dẫn hai đứa tôi ra ruộng vừa gặt xong, nói:

“Hai đứa bay, mỗi đứa đi một bên cho thẳng”.

Đi gọi là xớt, nghĩa là lát cuốc đầu tiên tạo hình phải thẳng, không được chỗ lớn chỗ nhỏ. Người lớn có kinh nghiệm, còn An và tôi mới tập tò, hai đứa ngó nhau mà đi, nhưng không được dăm nhát cuốc lại phải sửa. Cứ thế vừa lâu lại vừa không ra vồng khoai. Trong khi đó, cha đi xong một vồng khoai. Ông chống cuốc nhìn hai đứa, bực:

“Làm cái ngữ... tau cho mỗi đứa cán cuốc bây giờ”.

Tôi sợ xanh mặt, còn An thì bình tĩnh hơn dù biết lỗi, nhưng có cái gì đó chưa phục lời trách của cha. Công bằng mà nói, hai đứa đã làm hết sức, nhưng tôi đâu có biết cha mong cho hai đứa tôi tiếp thu nhanh làm đúng, đừng để ông phải nhắc nhở, sinh ra trên luống khoai mà làm chậm và dở như thế thì ông bực là phải.

Nói cho hung rứa thôi, nhưng ông bắt tay vào sửa, vừa sửa vừa dặn:

“Muốn cho thẳng, nhìn hàng gốc rạ mà đi”.

Dần dần tôi cũng thành... người đàn ông.

An học hết tiểu học, lên học tiếp ở Hà Lam học trung học đệ nhất cấp.

Tôi trở thành người đàn ông bên cha làm mọi chuyện vừa nhiều vừa nặng nhọc, lại bị ông quở mắng.

“Thằng Được, răng mi chưa cho trâu ra cày?”

Trong khi đó, trâu người ta mướn mất rồi.

Ông lại mắng:

“Làm ăn ri có chết không”.

Kêu người ta cấy rồi mà khâu làm đất chưa xong. Ông lại sai tôi ra ruộng cuốc. Mà cuốc chạy cho kịp người ta cấy, phải nín hơi, hai tay phồng rộp, không dám để cha biết, sợ ông nói: “Sinh ra trên luống đất cày, không nhát được”.

Tôi có nhát dâu, chẳng qua quá sức mà thôi...

Mùa hạn, người dân phải thức đêm, đứng đìa tát nước, ngày mùa, ai cũng bận, không kêu được người làm. Cha đứng một đầu sòng, tôi một đầu, hai người tát nước quên ăn. Hai tay tôi mỏi nhừ, rã rời nhưng mỗi khi kéo gàu nước lên phải mím môi cố sức kéo cho kịp cha, đến khi đuối quá, tôi ngã luôn xuống sòng.

Ông quát:

“Răng mi không nói?”

“Nói răng được”.

“Tổ cha mi”!

Ông chửi, nhưng tôi cảm thấy không giận mà cảm động, nghẹn nghẹn ở cổ. Khi ông nói Tổ cha mi là ông thương hết mực.

Cha cho An và tôi lên Hà Lam học trung học. Nhà bây giờ không còn ai là đàn ông nữa. Mẹ tôi, em Bình cực quá, phải làm thật nhiều để bù lại miệng ăn thì có miệng làm thì không là hai đứa tôi.

Từ Hà Lam về thăm ông, thấy ông ngồi trên bờ ruộng khoai đang đào, trước mặt ông là rổ khoai luộc và một chén muối đậu phộng. Ông nuốt không trôi, nhưng cứ ưỡn cổ lên cho cục khoai tụt xuống họng.

Thương ông quá.

Trước đây, những bữa ăn nửa buổi như thế này, bao giờ mẹ cũng nấu cháo đường với đậu đen hay đậu xanh, vừa ngon vừa giải nhiệt. Giờ chỉ có khoai. Tôi biết mình đã ăn hết phần của ông rồi. Tôi hỏi:

“Răng cực ri cha”?

“Tau chịu được, bay ráng mà học”.

“Nhưng con không nỡ”.

Ông trợn mắt nhìn tôi, định nói gì, nhưng lại thôi.

Tôi lao vào cầm cuốc giúp ông. Chừng một chặp, tay mỏi nhừ, ngồi nghỉ. Thấy một cụ già xách bị đi qua, ông ngoắc lại, lựa những củ to bỏ vô bị cho cụ. Tôi nói:

“Cho chi nhiều rứa cha”?

“Để dành cho tụi bay”.

Tôi tự hỏi “Để dành ư”?

Làm sao tôi hiểu được kiểu để dành ấy.

Chừng hai năm sau, An trúng tuổi quân dịch, cha phải bán đợ sào khoai, lấy tiền lo lót, nhưng cũng chỉ được một năm. Năm sau, chính quyền Ngụy bắt đi quân dịch. An không dám ở một chỗ. Chừng thấy không trốn được, cha nói với An:

“Đến nước này phải chọn thôi”.

Tôi hỏi lại:

“Chọn răng cha”?

“Không lẽ thằng An đi lính Cộng hoà”?

“Đi thôi, ở lại đây có ngày cũng chết dưới tay bọn chó má (chỉ lính Cộng hoà).

“Không”.

“Bởi rứa, mẹ mi chuẩn bị đồ dùng cho hắn”.

Thế là An lên cứ.

An đi rồi, chính quyền gọi ông lên đồn hỏi:

“Ông cho con đi theo Cộng sản hả”?

“Đâu có, hắn lớn rồi, hắn đi mô, tui làm răng mà biết”.

“Cha già láo”!

Bọn lính Cộng hoà phủ đầu ông bằng loạt dùi cui vào bất cứ chỗ nào trên người ông coi như dằn mặt cái thằng cha có cảm tình với Cộng sản. Bọn lính thường nói cha là người “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản”.

Ông lết về nhà nằm nửa tháng, mẹ chạy thầy chạy thuốc, may có ông xã Chửng, thầy thuốc ở xã tìm cách chạy Đông y, cha mới gượng dậy được.

Tết đến, thấy tôi mặc quần áo rách, ông nói với mẹ tôi:

“Sắm cho thằng Được bộ đồ mới”.

Mẹ tôi nói:

“Lấy đồ thằng An mà mặc”.

Đúng là An có để lại mấy bộ đồ còn mặc được, nhưng tôi thấy ông thở ra, dường như chưa ưng cách mẹ tôi nói.

Chính quyền lại bắt ông lên đồn.

Lần này thì phơi nắng ông cả ngày cùng hơn chục người trong xóm có con đi theo cách mạng.

Ông im lặng. Bọn lính đánh bao nhiêu, tuỳ, ông cả gan không trả lời bọn ông. Cứ để cái thân ngày càng già của ông chịu những cú đạp bằng giày bôtđêsô, bằng báng súng vào người, bằng những cái tát tai, đá đít. Ông trơ ra như tượng đá.

Chúng lại thả ông ra.

Tôi nói với ông:

“Cha cho con đi lính, chừng đó không thằng nào ức hiếp cha nữa”.

Ông giơ tay định tát tôi một cái. Mắt trừng trừng:

Thú thật tôi chưa bao giờ thấy ông nhìn tôi như thế. Dữ dằn quá, như sắp xé xác lột da tôi.

Khi nguôi cơn giận, ông lục tìm gói vải mẹ trao cho ông giây phút trút hơi thở cuối cùng năm nào, ông đưa cho tôi:

“Con có người cha đi tập kết”.

Trời ơi! Thế mà tôi đâu có biết.

Nhìn lá thư người cha viết để lại cho mẹ, mới biết ông động viên mẹ lo nuôi tôi, đợi hai năm, tổng tuyển cử, ông lại về...

Hai năm ư?

Đã mười năm rồi.

Giờ thì tôi đã hiểu răng (vì sao) cha nuôi định đánh tôi.

Tôi ứa nước mắt nhìn ông.

“Tau tính với mẹ mi rồi, mi cũng đi”.

Tôi sững người.

Tôi đi? Ai lo cho gia đình, cha đã già, mẹ đã yếu. Cầm cái cuốc đã không nổi, ngồi một chặp đứng lên đã thấy mỏi lưng. Bình sắp có chồng...

Những câu hỏi mà sức của tôi không thể nào trả lời bằng hành động được.

Lính Cộng hòa lại đi ráp, có hôm một xe GMC đỗ ở đầu làng, rồi nhanh chóng bao vây các lối về làng, những người đàn ông con trai đang làm ngoài đồng bị chúng bắt đi về các trung tâm huấn luyện.

Kiểu ni thì phải chọn thôi.

Và tôi đã chọn... theo chân An.

Tôi lên cứ, gia nhập lực lượng vũ trang tỉnh.

Thỉnh thoảng đơn vị về vùng Đông Thăng Bình qua hành lang đường dây từ trên núi xuống, qua đường Một, tạt vào làng, nhưng không lần nào đến ngõ được. Địch mai phục nhà tôi suốt đêm. Hễ du kích đánh đồn Đầu Cầu là sáng hôm sau, cha mẹ tôi bị bắt lên đồn, chúng tra khảo, những câu hỏi như “Tối qua, con ông về đánh đồn phải không?” Chúng lại đánh ông. Lần cuối, ông bị gãy một chân và phải nằm nhà. Theo chúng nói thì “đánh cho chừa theo Việt cộng”. Tôi nghe nói ông bà cực lắm. Thương cha mẹ mà chỉ biết nhìn từ xa.

Cho đến ngày giải phóng, tôi và cha đẻ tìm về...

Trời ơi! Thân cha nuôi chỉ còn da bọc xương, đắp mền nằm rên. Mẹ tôi tóc đã chớm bạc. Căn nhà bị giặc đốt. Giờ, ông bà ở trong căn lều lợp mấy tấm tôn.

Tôi ôm ông khóc.

Cha đẻ tôi quỳ dưới chân ông, ghi ơn ông nuôi dưỡng.

Ông cầm tay cha đẻ tôi, miệng cười mà như mếu.

Tôi biết ông mừng cho cha con tôi...

Rồi tôi đi, cha đẻ tôi cũng đi theo đoàn quân tiến về phương Nam...

Cho đến khi có dịp tìm về thăm ông thì ông đã ... đi xa

Anh An cũng đã hy sinh ở Đồng Nai trước ngày giải phóng không lâu.

Mẹ tôi lặng lẽ vào ra trong căn nhà xiêu vẹo.

Hai mẹ con ôm nhau khóc.

Ngoài trời mưa giăng mờ mịt, mắt tôi mờ đi.

Trong tiềm thức, tôi nghe như lời ông nói năm nào “làm thằng đàn ông phải chịu cực”. Tôi giật mình, đưa tay lên lau nước mắt, buột miệng gọi: “Cha ơi!”...■

Văn nghệ, số 17+18/2015
Một chút thôi - Thơ Trần Thu Hà

Một chút thôi - Thơ Trần Thu Hà

Baovannghe.vn- Một chút thôi hỡi niềm kiêu hãnh/ Là ngựa Xích Thố một ngày cũng rủ bờm sắc cỏ/ Là nắng ban mai
Nhạc Việt rộng cửa với nghệ sĩ “đá chéo sân”?

Nhạc Việt rộng cửa với nghệ sĩ “đá chéo sân”?

Baovannghe.vn - Nếu trước đây những khái niệm như “người mẫu đi hát”, “diễn viên chuyển sang âm nhạc”… thường mang cảm giác hoài nghi, thì với sự phát triển đa dạng của thị trường nhạc Việt, những định kiến trên đang dần thay đổi.
"Cảm xúc Long Thành", "Truyện cổ Andersen" và "Thế giới thần tiên" tôn vinh nghệ thuật Rối

"Cảm xúc Long Thành", "Truyện cổ Andersen" và "Thế giới thần tiên" tôn vinh nghệ thuật Rối

Baovannghe.vn - Ba chương trình nghệ thuật đặc sắc gồm "Cảm xúc Long Thành", "Truyện cổ Andersen" và "Thế giới thần tiên" sẽ được Nhà hát Múa rối Việt Nam công diễn trong tháng 7, không chỉ đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật múa rối của công chúng mà còn tôn vinh nghệ thuật Rối.
Khởi động mùa giải thứ Tư - Giải Báo chí "Vì sự nghiệp phát triển Văn hóa Việt Nam"

Khởi động mùa giải thứ Tư - Giải Báo chí "Vì sự nghiệp phát triển Văn hóa Việt Nam"

Baovannghe.vn - Sáng 2/7, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Phan Tâm - Trưởng Ban Tổ chức Giải Báo chí toàn quốc "Vì sự nghiệp phát triển Văn hóa Việt Nam" lần thứ Tư đã chủ trì cuộc họp Ban Tổ chức, nhằm thống nhất kế hoạch triển khai mùa giải lần thứ Tư - năm 2026.
Quy định mới về hoạt động báo chí và nguyên tắc hoạt động của phóng viên không thường trú

Quy định mới về hoạt động báo chí và nguyên tắc hoạt động của phóng viên không thường trú

Baovannghe.vn - Quy định về hoạt động báo chí của cơ quan báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam