(Đọc tiểu thuyết Làng Cói Hạ của Nguyễn Hữu Nhàn)
Bạn đọc đã nhiều lần được làm quen với nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn qua các tác phẩm viết về đề tài tam nông. Lần này anh lại đưa ta về một vùng đất mới với biết bao vui buồn, xoay quanh câu chuyện làm giàu ở Làng Cói Hạ. Câu chuyện không dài, chỉ gần 300 trang in, với những diễn biến dồn dập, xung đột từ đầu đến cuối, làm nổi bật lên bộ mặt của một làng quê trong những ngày đầu bước vào sự nghiệp đổi mới. Đó là một bức tranh xã hội sinh động, mới mẻ, giàu kịch tính. Nhân vật trung tâm được tác giả dụng tâm xây dựng công phu nhất là Lê Bùi, Bí thư Đảng uỷ xã.
Lê Bùi tiêu biểu cho lớp cán bộ có bề dày hoạt động cách mạng đáng kính nể. Thời kỳ chống Pháp, Ông được phân công làm Trung đội trưởng du kích của xã Hợp Thịnh. Bám đất, bám dân vận dụng lối đánh linh hoạt, vừa phân tán, vừa tập trung, trung đội của ông đã tiến hành những trận tập kích bất ngờ, chớp nhoáng, cả ban đêm, lẫn ban ngày, làm cho bọn địch đóng ở bốt Hạ mất ăn mất ngủ. Trong lúc đội quân của Lê Bùi cơ động, linh hoạt, hoạt động tung hoành từ Tam Dương đến Bình Xuyên, Vĩnh Yên tiêu diệt, bắt sống nhiều tên thì bọn địch ở bốt Hạ phải co cụm lại trong các lô cốt bê tông, không dám đi lùng sục các nơi. Đó chính là thời cơ để đêm đêm các đoàn dân công từ Hợp Thịnh vượt qua mũi súng của địch để chuyển lương thực ra vùng tự do.
![]() |
Sau hoà bình lập lại, Lê Bùi được bầu làm Bí thư Huyện ủy Tam Dương. Đến cải cách ông bị quy oan. Ở trong tù ông kiên quyết không chịu tố điêu. Khi sửa sai, Ông được bầu vào Thường vụ Tỉnh uỷ. Chính ông là người đã nhiều lần tham gia bàn bạc với Bí thư Tỉnh uỷ Kim Ngọc đưa ra chủ trương khoán hộ. Khi nghị quyết được thông qua, Lê Bùi xin về làm Bí thư Huyện Lập Thạch để làm thí điểm. Phong trào đang lên thì khoán hộ bị ách lại. Lê Bùi được cử sang làm chuyên gia nông nghiệp giúp Lào. Hoàn thành nhiệm vụ, Ông xin về quê trực tiếp làm Bí thư Đảng uỷ xã Hợp Thịnh, trong đó có Làng Cói Hạ.
Câu hỏi ngày đêm nung nấu Lê Bùi là làm thế nào để vực một vùng quê đất bạc mầu, quanh năm thiếu đói, dân phải bỏ ruộng đi chạy chợ tứ tán khắp nơi thành một địa phương đủ ăn đủ mặc, tiến lên làm giầu? Trước hết Lê Bùi quan tâm đặc biệt đến vấn đề năng suất. Muốn vậy phải đưa tiến bộ khoa học vào công nghệ sản xuất, tìm giống mới cho năng suất cao, thay đổi cách chăm bón cho phù hợp, thâm canh đi đôi với quảng canh.Việc trồng thí điểm rồi đưa vào sản xuất đại trà vụ ngô đông là một bước ngoặt thay đổi đời sống của Hợp Thịnh. Từ chỗ thiếu đói, toàn xã đã vươn lên đạt chỉ tiêu 600kg lương thực đầu người một năm, gấp đôi trung bình cả nước. Không thoả mãn với thành tích đó, Hợp Thịnh còn tìm cách vươn lên cao hơn. Với tầm nhìn xa, Bí thư Lê Bùi đặt vấn đề cho toàn Đảng bộ phải tập trung lãnh đạo hợp tác xã phấn đấu từ sản xuất tự cấp, tự túc tiến lên giai đoạn sản xuất hàng hoá, tham gia vào thị trường cả nước và xuất khẩu. Đấy là một mục tiêu to lớn và táo bạo. Ngoài lúa và ngô, Hợp Thịnh trồng thêm đậu tương, trồng nấm hương, mở rộng diện tích nuôi cá, tăng thêm đàn gia súc, sản xuất thêm bẹ ngô, mở mang các nghề thủ công… Mở rộng sản xuất đến đâu đã có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đảm nhiệm đến đấy. Họ được đào tạo cơ bản từ các trường đại học, trung cấp của tỉnh và trung ương. Rõ ràng, chất lượng trí tuệ trong mỗi sản phẩm của Hợp Thịnh ngày càng cao. Đó quả là một cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt của Hợp Thịnh. Nhưng không thể dừng lại ở đó, với khát vọng làm giàu, Hợp Thịnh còn tập trung đắp một con đập lớn, thu hút hàng nghìn lao động. Khi hoàn thành, Hợp Thịnh sẽ hoàn toàn chủ động về mặt tưới tiêu, lại tăng thêm đáng kể nguồn lợi thuỷ sản.
Chuyện làm ăn đang thuận buồm xuôi gió, khách đến tham quan ngày càng đông, thì đoàn kiểm tra của trên xuất hiện. Họ sục vào tất cả mọi ngõ ngách. Rồi đến Ông Rán, Phó Chủ tịch tỉnh xuống tìm Lê Bùi, thông báo ý kiến của Thường vụ kỳ tới để ông nghỉ hưu, đưa lớp trẻ lên. Hai sự kiện này loang ra, lập tức một số phần tử lạc hậu, bất mãn tụ tập nhau bàn cách chống ông Bùi quyết liệt. Phao tin Hợp Thịnh sẽ có khởi nghĩa rồi đồn thổi, rải tờ rơi, mạo hiểm hơn nữa, chúng ném dao găm và truyền đơn vào nhà Lê Bùi, yêu cầu ông từ chức. Đứng đầu súi giục và giật dây những hành động phi pháp này là ông Khái Hanh. Hồi chống Pháp, có lần ông Khái Hanh đã viết đơn kiện tên đồn trưởng bốt Hạ lấy cánh cửa của dân làm nắp hầm. Để lấy lòng dân, bọn chỉ huy cấp trên đã đổi tên đồn trưởng đi nơi khác. Với công lao đó, Khái Hanh nhất định đòi phải được làm Bí Thư hay Chủ tịch Hợp Thịnh. Nay thấy ông Lê Bùi về, Ông cho rằng Lê Bùi đã tranh của ông cái chức đó. Ông thù Lê Bùi từ đó.
Trước những mũi tên nhằm vào mình, Lê Bùi rất thản nhiên. Bao tâm huyết ông đổ dồn vào việc làm giàu cho Hợp Thịnh. Do đó ông kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn giữ được vai trò tiên phong, gương mẫu, lười làm việc để gia đình mình nghèo đói. Ông trực tiếp chỉ đạo việc xoá nghèo cho xã viên. Theo đó, mỗi gia đình nghèo được cấp 5 sào ruộng tốt để có điều kiện chăm sóc đưa năng xuất lên. Ngoài ra, mỗi hộ nghèo còn được cấp không 1.000 viên ngói để làm nhà, được vay dài hạn 1 tạ thóc để khỏi đứt bữa. Ông tiếp tục rà lại các khâu, khâu nào chưa có cán bộ vững thì cử đi học. Ông Bùi hết lòng ủng hộ lớp trẻ. Ông kiên quyết bác bỏ sự vu cáo Chủ tịch Chí có liên quan với quốc dân Đảng.
Đối với những kẻ hò hét, chống đối điên cuồng như Bồng, ông Bùi biết tất cả, nhưng ông không định kiến, ngược lại rất khoan dung, chờ đợi. Nhiều lần ông đến nhà khuyên giải Bồng, bày cách cho vợ chồng Bồng làm giàu. Không vội hình sự hoá các hành vi chống đối, kiên trì thuyết phục lôi kéo những kẻ lầm đường trở lại con đường thiện, đó là thái độ trước sau của ông Bùi.
Đối lập với Lê Bùi, Bồng cố làm giàu theo cách khác. Ấy là việc ra sức cuốc đất tìm vàng thuê cho Thoòng. Đó quả là một câu chuyện hoang đường và bi thảm. Tổ tiên Thoòng ngày xưa làm quan trong triều, có công đàn áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương. Chú của Thoòng làm lính đội cho Pháp đóng ở bốt Hạ. Hắn suýt chết một lần bởi họng súng của Lê Bùi. Năm 1954, hắn vào Nam, theo Nguyễn Cao Kỳ lên đến hàm trung tá. Khi Nguyễn Văn Thiệu lên, Nguyễn Cao Kỳ thất thế, chú của Thoòng chuồn sang Mỹ. Giờ đây từ bên ngoài hắn vẫn luôn gửi thư về qua Thoòng lôi kéo Bồng chống lại ông Bùi.
Theo gia phả, tổ tiên của Thoòng còn chôn 60 lượng vàng tại Hợp Thịnh. Thoòng thuê Bồng cuốc đất tìm vàng, nếu thấy thì cho Bồng 40 cây, còn hắn chỉ nhận 20 cây mà thôi. Bồng mải mê cuốc đất lấn sang đất của Nghị Hoà tới gần 2m. Nghe Bồng nói cuốc đất để đào ao nuôi cá, Nghị Hoà tưởng thật nhường luôn 1m50 dọc theo tường rào mà không nhận một đồng xu nào. Cuối cùng thì Bồng cũng tìm thấy vàng nhưng bị Thoòng lập mưu cướp hết, để lại cho một đống đồng rỉ. Đau đớn trước sự thật này, Bồng choáng váng bị tai nạn giao thông. May mắn được bà con cứu chữa kịp thời. Đến lúc ấy Bồng mới quỳ xuống trước mặt Ông Bùi, run rẩy nói: Ông cho con xin.
Bên cạnh mối quan hệ ông Bùi với Bồng là mối quan hệ với gia đình An.
An là một thiếu nữ có nhan sắc, con gái ông Khái Hanh. Tuy là đứa con gái duy nhất trong gia đình nhưng An bị ông bố ghét bỏ, không được học hành, phải rời quê đi làm công nhân lâm nghiệp từ nhỏ. Ở đội trồng rừng, An chăm làm, biết nhún nhường, nên được mọi người quý mến. Tới hội nghị tổng kết năm, cô được gọi lên Ban Tổ chức làm tiếp tân phục vụ khách mời. Nhân dịp hiếm có này, Giám đốc lâm trường tìm cách hãm hiếp cô. Tủi nhục và uất ức, đang đêm An tìm ra đầm Trâu tự tử. May mắn cô được người đàn ông cứu vớt. Người này cũng chẳng tử tế gì hơn lão giám đốc đê tiện. Hắn bắt cô thoả mãn hắn rồi đẩy đi làm khách làng chơi cho cánh lái xe đường dài. Trong một lần lái xe qua ngã ba Sung Sướng, Toàn – lái xe của Hợp tác xã Hợp Thịnh được Hoành, Tiểu đội trưởng ở Trường Sơn năm xưa, mở cửa dúi vào ca bin một cô gái sực mùi nước hoa. Đó là lúc An vừa chữa khỏi bệnh ở Nam ra. Ra đến chỗ sáng, Toàn nhận ra An, em gái mình. An bàng hoàng đẩy cửa xe lao ra ngoài. Toàn chốt cửa giữ lại, kiên quyết đưa An về quê.
Về đến Hợp Thịnh, Toàn vào báo cáo với Ông Bùi. Ông Bùi vui vẻ nhận An làm thủ kho của Hợp tác xã. Chẳng những thu xếp việc làm, Ông Bùi còn bố trí chỗ ở cho An tử tế. An làm quen với công việc và quên dần những năm tháng ô nhục đã qua. Công việc của cô trở nên bận bịu khi công trường đắp đập được mở ra. Ở đây cô gặp Nghị Hoà, cán bộ kỹ thuật của công trường. Họ làm quen với nhau và một mối cảm tình nhen nhóm lên gắn bó giữa hai người. Tất cả những sự gần gũi đó không lọt qua mắt vợ Bồng, người tình cũ của Nghị Hoà. Cứ thế, một mối tình tay ba làm khổ cả ba người. Vợ Bồng vừa chán chồng bao nhiêu càng yêu Nghị Hoà bấy nhiêu. Nghị Hoà càng yêu An càng tự hổ thẹn vì đã mang tội một lần ngoại tình với vợ Bồng. An không hề hay biết mối quan hệ cũ giữa vợ Bồng và Nghị Hoà, cô chỉ tập trung làm mọi việc để chiếm được tình yêu của Nghị Hoà, làm lại cuộc đời mình. Không thể lảng tránh mãi được, cuối cùng ba người gặp mặt nhau. Trước thái độ chân thành của An, vợ Bồng bưng mặt khóc và chính thức rút lui để An yên tâm xây dựng hạnh phúc với Nghị Hoà.
Thoát khỏi sự ghen tuông của vợ Bồng, An lại phải đối mặt với sự ruồng rẫy của Bố. Ông Khái Hanh không đồng ý gả An cho Nghị Hoà chẳng vì lý do gì khác, chỉ vì ông không thích. Thế thôi. Toàn nói với Bố sẽ đứng ra tổ chức đám cưới cho An. Biết chuyện ông Bùi cũng trực tiếp đến nhà ông Khái Hanh khuyên ông thuận gả An cho Nghị Hoà. Ông Khái Hanh phản ứng ra mặt. Ông Bùi quay về, vừa đi vừa nghĩ, cứu người ta ra khỏi chết đói xem chừng còn dễ hơn đưa người ta thoát khỏi sự ngu tối.
Điều ông Bùi không ngờ tới là Khái Hanh mới lên tỉnh gặp ông Rắn tố cáo mình, bịa đặt ra mọi chuyện. Ông lấy làm hãnh diện vì còn được ông Rắn mời uống bia.
Câu chuyện của An và Nghị Hoà càng trở nên rối rắm.
Nghĩ mình đã có một quãng đời lầy lội, không xứng đáng với Nghị Hoà, An viết thư để lại, đi tìm một ngôi chùa nào thật vắng, xuống tóc đi tu. Toàn kiên quyết giữ em ở lại.
Sau hơn nửa năm về Hợp Thịnh, đoàn kiểm tra không tìm được bất cứ vi phạm, khuyết điểm gì. Bọn xấu tung tin đoàn kiểm tra nhận hối lộ nên mới thế.
Trong khi đó, chuyện làm giàu ở Hợp Thịnh cứ mỗi ngày một phát đạt. Tivi, máy cát sét, máy khâu, vải vóc… đổ về ngày càng nhiều. Tiền ấy lấy ra từ lạc, đậu tương, nấm rạ, gà công nghiệp, lợn đóng hộp xuất khẩu. Con đập lớn sắp hoàn thành, sẽ còn nhiều cái mới lạ nữa. Ông Bùi không chỉ lo làm giàu cho hợp tác xã mà còn lo đến phúc lợi xã hội. Ông ký kết với Viện Điều dưỡng Trung ương về khám sức khoẻ cho trẻ em. Hàng trăm trẻ em thiếu dinh dưỡng được đưa về Hà Nội chạy chữa, mọi chi phí hợp tác xã lo. Các bà, các chị mỗi năm được thầy thuốc ở Trung ương khám bệnh hai lần. Đoàn chèo được đầu tư dàn dựng những vở lớn. Các giáo viên mỗi tháng được cấp thêm 42kg gạo.
Kiên trì phương hướng đa dạng hoá sản phẩm, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, ông Bùi cho mời các thợ mộc, thợ điện, thợ làm ngói, gạch giỏi về Hợp Thịnh, qua đó mà học lấy kỹ thuật nâng cao tay nghề. Muốn cạnh tranh với thiên hạ thì chất lượng hàng hoá phải hơn hẳn người ta.
Ngoài cương vị một cán bộ tài đức vượt tầm, Lê Bùi còn là một xã viên gương mẫu. Ông tranh thủ từng giờ trước và sau khi ở nhiệm sở để làm việc gia đình. Ông xắn quần cuốc đất, bắt bèo, dưới nước thì chăm sóc ao cá, trên bờ thì vỗ béo đàn lợn. Mô hình VAC của nhà ông cả xã đến thăm quan, nhân rộng. Mỗi năm từ mô hình ấy, ông thu về bạc triệu, không những đủ chi tiêu cho đời sống hàng ngày mà còn có tiền gửi tiết kiệm.
Giữa lúc công việc ở Hợp tác xã mỗi ngày lại có thêm tin vui thì một tin dữ như một làn gió độc ập về xã: Ông Bùi đi viếng mẹ nuôi ở Phúc Yên, bị giết, vứt xác lên đường tàu, phi tang. Các cán bộ xã cử nhau đi khắp nơi tìm ông Bùi, nhưng chẳng có tin nào đích xác. Cả xã rối lên, chìm đắm trong đau thương mất mát quá lớn. Đám bất mãn thì mừng ra mặt. Nhưng chúng đã mừng hụt. Không biết từ đâu Ông Bùi đi xe máy về tươi cười vào thẳng trụ sở Ủy ban xã. Mọi người xúm lại hỏi. Ông bảo đây là lần thứ 17 người ta phao tin ông chết.
Đại hội Đảng bộ xã cuối năm ấy, ông Bùi được bầu lại làm Bí thư Đảng uỷ với 100% số phiếu. Chủ tịch Bùi Minh Chí trúng Tỉnh uỷ viên dự khuyết, Chủ nhiệm Thành được cử đi học Cao cấp chính trị, Phùng Quang Hùng được bầu làm Phó Chủ nhiệm, Đại biểu Quốc hội. Đó không phải là một tin vui với ông Rán. Ông tuyên bố vẫn không công nhận Đảng bộ Hợp Thịnh là Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Vì sao? Vì cái điểm huyệt của ông là các hợp tác xã trọng điểm do ông trực tiếp chỉ đạo được đầu tư đủ thứ thì cứ lẹt đẹt, trong khi Hợp Thịnh không được đầu tư gì cả thì ngày càng khởi sắc.
Câu chuyện làm giàu ở Làng Cói Hạ khép lại ở đó. Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn gọi chương cuối là chương tạm kết. Tạm kết, tức là kết thúc mở. Đó là xu hướng của tiểu thuyết hiện đại. Nếu gọi tiểu thuyết hiện đại là sự dồn nén thông tin, là tái hiện cuộc sống đa tuyến, là sự kết hợp các thủ pháp dẫn chuyện, đối thoại, độc thoại, hài hước và chính luận… thì Làng Cói Hạ có đủ các yếu tố đó. Nhưng nói cho cùng, mọi thủ pháp đều không có mục đích tự thân. Tiểu thuyết với sứ mệnh cuối cùng của nó là xây dựng nhân vật, coi đó là hình tượng nghệ thuật đặc trưng của thể loại. Đọc xong Làng Cói Hạ, ta nhớ mãi ông Lê Bùi, một cán bộ, một đảng viên có tầm nhìn xa, suốt đời tận tuỵ vì dân vì nước, sáng suốt và nhân hậu, một nhân cách nhất quán lấy việc đem lại hạnh phúc cho mọi người là niềm vui lớn nhất của đời mình. Đó là thành công đáng ghi nhận của Nguyễn Hữu Nhàn.
Được viết năm 1989, sau đổi mới ba năm, đến nay Làng Cói Hạ đã ra mắt bạn đọc trên nửa thế kỷ. Ấy thế mà khi đọc lại, ta vẫn thấy cuộc sống tươi mới như ngày hôm qua. Dù mô hình hợp tác xã đã có nhiều thay đổi, nhưng khát vọng làm giàu của Hợp Thịnh, của ông Bùi vẫn luôn luôn mới. Đó cũng là thông điệp, là dự báo mà tác giả gửi đến chúng ta chăng?
Hà Nội, ngày 26/2/2025
------------
Bài viết rút từ tập "Ám ảnh chữ"