Công nghiệp văn hóa đã trở thành sức mạnh, ngành kinh tế cho nhiều quốc gia đi đúng hướng.
Hàn Quốc với chiến lược quốc gia về phát triển văn hóa từ những năm 1990, đến nay đã đạt nhiều thành tựu. Làn sóng Hallyu đưa văn hóa xứ kim chi phổ biến trên thế giới. Âm nhạc, điện ảnh, truyền hình, văn chương… chính là sức mạnh mềm của Hàn Quốc. Xuất khẩu nội dung văn hóa mang về 14,16 tỉ USD cho Hàn Quốc (số liệu năm 2024). Tại Anh, công nghiệp sáng tạo đóng góp khoảng 124 tỉ bảng Anh/năm (khoảng 5,2% GDP đất nước này). Chính phủ Anh cũng có chiến lược phát triển ngành công nghiệp sáng tạo 10 năm (2025-2035), với mục tiêu đưa Anh thành điểm đến số một về đầu tư cho sáng tạo.
Những năm qua, Việt Nam đã có chủ trương và ban hành một số chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, lấy giá trị văn hoá và con người Việt Nam làm nguồn lực đặc biệt.
Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, phần Xác lập mô hình tăng trưởng mới xác định phát triển “công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản”. Dự thảo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu “Xây dựng các chính sách đột phá, hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, bảo tồn và phát huy di sản và khuyến khích mạnh mẽ sự sáng tạo trong nghệ thuật, thiết kế, sản xuất nội dung số.”
Từ 2016, Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, xác lập công nghiệp văn hóa là một lĩnh vực kinh tế quan trọng, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng, thu ngân sách.
Ngày 14-11-2025, Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây được coi là văn kiện quan trọng nhằm tạo đột phá cho những ngành kinh tế sáng tạo, công nghệ và giá trị văn hóa.
Chiến lược xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt, gồm: Điện ảnh; Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình-phát thanh; Xuất bản. Đây là những ngành tạo ra các sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân và phù hợp với mục tiêu hội nhập quốc tế, phát triển bền vững đất nước.
Chiến lược nêu rõ đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, đóng góp 7% GDP; lực lượng lao động tăng 10%/năm và chiếm 6% tổng lao động xã hội.
Chiến lược nhấn mạnh việc quy hoạch và phát triển đồng bộ các trung tâm công nghiệp văn hóa, không gian sáng tạo, khu phức hợp văn hóa gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm địa phương và quốc gia. Đây sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo lập hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hiện đại.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội - coi Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một “cú hích”, nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và khai thác sức mạnh mềm văn hóa trong phát triển kinh tế quốc gia.
Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cho rằng chiến lược đúng mang ý nghĩa quan trọng đối với tương lai công nghiệp văn hóa Việt Nam. Nó tạo khuôn khổ chính sách để huy động nguồn lực đầu tư theo các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa. Chiến lược cũng chú trọng xây dựng hệ sinh thái sáng tạo, hỗ trợ các không gian văn hóa, trung tâm công nghiệp văn hóa và các cụm sáng tạo tại các thành phố lớn - những “thung lũng sáng tạo” có thể tập hợp tài năng và kết nối với thị trường quốc tế.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương - Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam - nhấn mạnh chiến lược xác định mục tiêu xây dựng Việt Nam thành quốc gia có ngành công nghiệp văn hóa phát triển, đủ sức tham gia sâu vào chuỗi giá trị sáng tạo khu vực và thế giới.
Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng hiện nay đã có chủ trương, chiến lược và thống nhất nhận thức về vai trò của công nghiệp văn hóa. Để phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ ở tầm nhìn mà cần hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể sáng tạo tham gia thị trường.
Không chỉ các chuyên gia, những người đang trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa sáng tạo đều ủng hộ định hướng và chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa. Từ thực tiễn tổ chức nhiều sự kiện văn hóa lớn tại Việt Nam, ông Phạm Minh Toàn - chuyên gia truyền thông, công nghệ - nói tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam là rất rõ, thậm chí có thể nói là đang mở ra “thời cơ vàng”. “Chúng tôi đã làm việc nhiều năm trong các dự án về điện ảnh, âm nhạc, lễ hội, thời trang, ẩm thực và nhận thấy ở đâu cũng có năng lượng sáng tạo rất mạnh từ giới trẻ, từ doanh nghiệp tư nhân và cả các địa phương”.
Phát triển công nghiệp văn hóa không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước hay nỗ lực riêng lẻ của doanh nghiệp. Các dự án văn hóa thành công đều là kết quả của sự liên kết ba bên: Nhà nước - Doanh nghiệp - Cộng đồng sáng tạo. Do vậy, ông Phạm Minh Toàn đề xuất lấy mô hình hợp tác công - tư (PPP - public - private partnership) là “chìa khóa” để phát triển công nghiệp văn hóa. Trong mô hình này, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và dẫn dắt, thông qua việc xây dựng chính sách, quy hoạch hạ tầng văn hóa, tạo cơ chế thuận lợi và bảo đảm các yếu tố pháp lý - tài chính. Còn doanh nghiệp tư nhân là lực lượng trực tiếp triển khai, khai thác, đầu tư và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ văn hóa.
Công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, khi văn hóa vừa mang giá trị tinh thần vừa là nguồn lực kinh tế đặc thù, gắn với sáng tạo, tri thức, công nghệ. Công nghiệp văn hóa góp phần đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm, đóng góp trực tiếp vào GDP. Công nghiệp văn hóa cũng góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Khi các giá trị văn hóa truyền thống được chuyển hóa thành sản phẩm sáng tạo mang hơi thở đương đại, văn hóa không những được gìn giữ mà còn được lan tỏa rộng rãi tới công chúng trong nước và quốc tế. Phát triển công nghiệp văn hóa là yêu cầu của tăng trưởng kinh tế, chiến lược lâu dài nhằm xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc, thúc đẩy phát triển bền vững.
![]() |
| Hình ảnh trong "Tinh hoa Bắc Bộ"- vở diễn thực cảnh sử dụng nhiều chất liệu văn hóa truyền thống. Nguồn Internet |