Thầy phán:
- Người chết ngoài đường, ngoài chợ; kể cả chết trong bệnh viện cũng không được đưa xác vào lối cửa chính. Điều kiêng kỵ này để tránh cho con, cho cháu không bị lụn bại về sau này!
Tường nhà đổ bê-tông kiên cố. Đành phải dùng ba ca cưa máy mới đục thành cửa nách vào gian phòng cuối. Gian phòng cuối vốn là hầm rượu. Đội xe ôm cửu vạn cật lực nửa ngày mới chuyển hết rượu sang gian phòng khác.
Sau tang lễ, cửa nách khóa chặt. Cửa nách im ỉm qua đêm ngày hiu quạnh. Phía bên ngoài cửa lủng lẳng chiếc khóa đồng. Bên trong gian phòng nằng nặng âm khí. Mỗi năm một lần, vào ngày giỗ, con gái của người quá cố mới từ quê nhà ra, mở cửa nách, vào thắp hương. Nét mặt người con gái u sầu, vẫn buồn bã y như ngày bố mất. Tay cầm vạt áo lau nước mắt xuôi ròng ròng, nói với anh trai thứ:
- Trong cùng một ngôi nhà, bát hương thờ bu thì đặt trên tầng năm, bát hương thờ thầy thì đặt tầng dưới cùng! Bác xem, chuyển hai bát hương cho thầy bu gần nhau…
Trai thứ nhưng là chủ ngôi nhà, thế chân trai trưởng thay người anh mấy chục năm nay chưa trở về. Chủ ngôi nhà vẫn dứt khoát quan điểm như hôm làm tang lễ:
- Thầy phù thủy ấn quyết rồi. Liệm ở nơi nào thì đặt bàn thờ nơi ấy!
Người em gái tủi thân, khóc dấm dứt, tất tả về quê để kịp gặt lúa mùa.
Sau năm năm mới làm lễ cải táng. Nghĩa trang ngoại ô thành phố trên đất mượn nên cải táng muộn hơn quê nhà. Sau thủ tục cải táng cụ ông, thầy phù thủy giúp gia chủ di bát hương với ảnh thờ cụ bà từ tầng năm xuống gian phòng tầng dưới. Người em gái vẫn dấm dứt: "Thầy bu thờ bên nhau là trên tầng năm chứ đâu phải dưới phòng u tối thế này?"
Đêm phố phường yên tĩnh. Trong gian thờ hiu quạnh lại càng yên tĩnh.
Cửa nách là gỗ tạp. Mặt gỗ phía ngoài ngó ra khoảnh đất hoang nhỏ thắt thẹo. Cỏ dại đang ngửa mặt đón mưa đêm tí tách. Điện đường hắt ánh vàng vọt lên cánh cửa đang đóng chặt. Đêm khuya kéo mi mắt không gian trĩu xuống. Tiếng mèo cái ngấy đực cào vào màn đêm. Mặt gỗ phía trong cửa nách thì đang chứng kiến cuộc đoàn viên, hoan hỉ kỳ lạ. Hai di ảnh trên bàn thờ chớp mắt sống động. Cụ ông mặc áo vệ quốc quân bạc màu, râu bạc rủ xuống hàng huân huy chương đeo trên ngực áo. Cụ bà mặc áo cánh nâu, tóc quấn ngang, miệng bỏm bẻm nhai trầu, đôi môi đỏ thắm. Cụ ông thong thả vuốt chòm râu bạc, cười khà khà:
- Gớm thật! Bấy nhiêu năm, cùng trong một ngôi nhà mà cách biệt, nay mới bình tâm bên cạnh bu nó…
Cụ bà đưa tay quết nước trầu trên khóe miệng, cười thõn thẽn:
- Thỉnh thoảng, đêm hôm khuya khoắt, thầy nó vẫn hiện hình đến tầng năm trò chuyện với tôi đấy thôi!
- Chẳng thể hơn bây giờ, hai bát hương đặt cạnh nhau, hai ảnh thờ đặt sát sàn sạt…
- Gớm! Ở cõi âm mà thầy nó cứ tếu táo như hồi trai trẻ gặp dân công hỏa tuyến! Nhưng nói thật với thầy nó, trong lòng vẫn buồn. Cớ sao thằng hai không rước thầy nó lên tầng năm với tôi? Ngự trên đó mắt mới dõi được cùng trời, cuối đất xem thằng cả đang lưu lạc chốn nào chứ!
Cụ ông đưa mắt tìm cái điếu cày. Nhưng trên bàn thờ chỉ có bao thuốc lá trong đĩa. Cụ ông cười:
- Chẳng hiểu sao, bây giờ vẫn thấy thèm điếu thuốc lào Vĩnh Bảo như thời đi chiến dịch Điện Biên!
Cụ bà phụ họa:
- Tôi thì vẫn ăn trầu thiếu vôi như đận tải lương qua đèo Lũng Lô!
Cụ ông ghé tai cụ bà:
- Bu nó này! Khi còn trên cõi dương, tôi với bu nó rất buồn nghe tin thằng cả hy sinh trên chiến trường miền Tây Nam bộ. Nhưng tổ tiên mới cho tôi hay, thằng cả chỉ bị thương nặng trong một trận chống càn. Cuối tháng này con nó về tới nhà, bu nó ạ!
Tiếng gà gáy tung khí dương tỏa khắp đất trời. Hai di ảnh trở lại im ắng trong khung kính. Mặt gỗ phía trong của cánh cửa nách nhìn vào hai di ảnh. Khóe mắt cụ bà vẫn hằn qua mặt kính nỗi âu lo. Nỗi âu lo con cái sao lại hằn sâu trong mắt người mẹ như là mấu cây hằn trên thân cây vậy? Lần đầu tiên gỗ vô tri, vô giác được chính kiến linh hồn người đã khuất vẫn khôn nguôi lo lắng, dõi theo người đang sống trên dương thế!
Quả nhiên, cuối tháng, mặt gỗ bên ngoài cửa nách thấy hai người đàn ông đứng trên khoảnh đất hoang phía trước. Người mặc áo phông in hình chiếc vợt cầu lông trên ngực, tự giới thiệu:
- Tôi là tổ trưởng dân phố 3A. Vợ chồng chú Bài chủ nhà ra nước ngoài chăm con đang học trường dân lập. Chuyến đi dài quá nửa năm. Cô chú ấy gửi tôi chìa khóa cửa nách, nhờ thắp hương cho hai cụ. Thiêng quá! Bác về đúng ngày hôm nay giỗ sấc cụ ông. Vậy thì việc hương khói, tổ dân xin trao lại cho đằng bác.
Người đàn ông mặc áo bà ba, cổ quấn khăn rằn cúi đầu cảm tạ. Một tay tỳ lên nạng, một tay run run mở khóa cửa nách. Tổ trưởng dân phố cầm hộ gói đồ vào phòng, nói:
- Nhà to nhất dãy phố mặt tiền mà nơi thờ tự hai cụ lại chật chội hệt trong hầm dã chiến. Chẳng còn cách nào khác, bác phải cùng sinh hoạt trong gian phòng thờ vậy.
Người đàn ông mặc áo bà ba huơ tay chỉ gian phòng thờ, cười:
- Thế này là rộng chán! Hồi ông cụ nhà tôi ém quân mai phục giặc Pháp trong chiến dịch Hà Nam Ninh, hai người trong hầm bí mật thay nhau thở qua một ống đu đủ. Hậu sinh bọn tôi đánh Mỹ sống cả tháng dưới hầm bí mật. Hầm chật đến nỗi phải ôm suốt ngày khẩu súng trong lòng mới đủ chỗ ken người dưới lòng đất.
Tổ trưởng dân phố hỏi:
- Bác tên là Cường phải không? Khi còn trên dương thế, hai cụ luôn nhắc tới tên con trai cả của mình!
Người mặc áo bà ba gật đầu:
- Vâng, tôi tên Cường.
Tổ trưởng dân phố yên tâm chia tay…
Ông Cường chống nạng cọt kẹt đến trước ban thờ. Một tay giữ nạng, một tay giơ lên trán chào kiểu bộ đội trước hàng quân.
Lời khấn oang oang:
- Kính thưa thầy bu! Hôm nay con về đúng ngày giỗ sấc của thầy. Con lên đường tòng quân đánh Mỹ mới vào tuổi mười tám. Ngày trở về đã ngoài sáu mươi. Tóc trên đầu con đã bạc nhưng vẫn là thằng cu Cường bé bỏng của thầy bu. Con là thương binh, cụt hai cẳng. Sau chiến tranh, con ở lại Cà Mau đến bây giờ là để trả ơn cưu mang của đồng bào. Cụt hai giò nhưng con vẫn làm được khối việc cho bà con trong đó. Con chưa về cũng vì không muốn chất gánh nặng lên vai thầy lúc tuổi già. Thầy là vệ quốc quân, bu là dân công chiến dịch Điện Biên Phủ thì từng trải hơn con nghĩa tình kháng chiến của đồng bào. Ở tận cùng đất nước nhưng đêm cũng như ngày, con vẫn nhớ thầy bu lắm. Hôm nay, con về với thầy bu đây hu hu…
Tiếng khóc rung không gian phòng thờ. Tiếng khóc của người lính chiến từng trải vỡ òa! Mặt gỗ bên trong cánh cửa nách thấy gian thờ vốn quanh năm tối tăm, ẩm mốc bỗng bừng sáng hơi người.
Ông Cường chuẩn bị chỗ ăn nghỉ cho mình theo thói quen của lính chiến trường. Ông đóng một chiếc đinh thuyền lên tường buộc một đầu dây võng. Đầu dây kia buộc vào bản lề cửa nách. Ông leo lên võng dù, đung đưa nằm để thử độ chắc của hai đầu dây. Võng chao qua, chao lại trong gian thờ như mảnh trăng non bồng bềnh trong đám mây mỏng. Ông âu yếm nói với cái bản lề cửa nách:
- Bé tẹo mà chắc chắn gớm nhỉ!
Cửa nách được khen, lẽ ra nó phải vô cùng hân hoan, vui mừng. Ít ra thì nó phải cọt kẹt mở ra, mở vào cho mặt gỗ phía bên ngoài cánh cửa được thơm lây. Nhưng nó cố giấu sự bùi ngùi vào trong thớ gỗ. Nếu gỗ có nước mắt thì mặt cánh cửa đã ướt đẫm. Nhưng trên mặt gỗ ứa ra giọt nhựa từ bên trong sâu thẳm của trầm. Đó là lúc mặt gỗ bên trong cánh cửa nách nhìn thấy ông Cường tháo hai chân giả đặt xuống chân tường. Hóa ra, chiếc võng ru ông ngủ, chỉ ru nửa thể xác còn lại của con người.
![]() |
| Hình ảnh minh họa. Nguồn pinterest |
Sáng sáng, cánh cửa nách mở ra. Mặt gỗ phía bên trong được lật ra phía bên ngoài trời. Cánh cửa bé nhỏ nên nó chỉ nhìn thấy mọi sự diễn ra trên khoảnh đất hoang bên cạnh. Khoảnh đất hoang bị chèn giữa hai ngôi nhà cao tầng. Cánh cửa nách nghe ông tổ trưởng dân phố chuyện trò với ông Cường:
- Chẳng hiểu có sơ xuất gì mà những người đến đo đạc quy hoạch cho thành phố lại để sót khoảnh đất bằng cái nong tằm chỗ này? Họ quên. Nhà ta lại gặp điều hay. Nếu không qua khoảnh đất hoang này cũng chẳng có lối khác rước thi hài cụ ông vào nhà!
Phòng ở cùng trong gian thờ song thân, rất eo hẹp nơi tiếp khách. Ông Cường nhặt mấy tấm gỗ cốp-pha ngoài công trường về, đóng thành bộ bàn ghế tiếp khách. Xoay xở tìm vị trí. Cuối cùng, tổ trưởng dân phố tham gia dọn cỏ dại trên khoảnh đất hoang, kê bộ bàn ghế tự tạo. Nơi đây, hàng ngày tụ tập các cựu chiến binh cùng đợt tòng quân đi B với ông Cường. Tổ trưởng dân phố là cựu binh chiến trường C. Ngồi trên ghế đóng ván cốp-pha, lại nhớ kỷ niệm ngồi trên triền đá tai mèo sắc nhọn, bỏng rát trên dãy Trường Sơn. Ông nhận xét:
- Ngồi trên ghế dính vữa bê-tông vẫn êm ái chán so với ngồi trên đá tai mèo!
Các cựu chiến binh chiến trường B nhớ lại:
- Hành quân qua miền Tây Nghệ An, bọn mình lấy búp sim sao lên giả làm chè búp. Uống chát đầu lưỡi cũng thấy đời tươi ra phết!
Từ ngày ông Cường về sống chung trong gian phòng thờ, cánh cửa nách mở ra, đóng vào liên tục. Mặt gỗ phía trong cánh cửa luôn được mở lật ra phía nắng trời. Mặt gỗ chăm chú nhìn các bạn ông Cường. Mặt người nào cũng sạm tàn nhang như mặt gỗ mới bào lau vậy. Họ tuổi cao nhưng xưng hô với nhau bằng vai phải lứa, tưởng mình mới qua tuổi vị thành niên. Người nào cũng tưng tưng như lũ trẻ. Họ luôn miệng nhắc những kỷ niệm chiến trường để sống trong tâm tưởng thời trai tơ. Cây thì muốn mau già. Cây già thì mới có lõi, có trầm. Người thì muốn trẻ mãi. Mặt gỗ cánh cửa cho rằng, mong muốn của đời người ngược hẳn với mong ước của đời cây.
Ban đêm, mặt gỗ phía ngoài cánh cửa lại quay vào phía bàn thờ. Nét mặt di ảnh cụ ông, cụ bà trên bàn thờ có vẻ thay đổi. Mặt gỗ cánh cửa nhận ra gương mặt của hai cụ trong khung kính với gương mặt người uống trà ngoài vườn đều là những gương mặt có thật.
Tổ trưởng dân phố cùng các cựu chiến binh chiến trường B rủ nhau dọn dẹp khoảnh đất hoang cho phẳng phiu, tươm tất.
- Ở chiến trường, bọn tớ còn trồng hoa dại trên bờ công sự cơ mà!
Khoảnh đất hoang trở thành vườn rau với hoa. Gọi là vườn nhưng chỉ trồng được vài mạ rau cúc hoặc rau cải. Cúc lớn lên vừa là rau, vừa là hoa. Loài cải cũng vậy.
- Thế là bạn Cường có vườn riêng rồi nhé!
- Chỉ thiếu một người cùng ông lão này bắt sâu, tưới cây thôi!
Cả bọn cười ha hả…
Những người đàn ông luống tuổi xắn ống quần, vắn ống tay áo cuốc đất. Quần xắn quá đầu gối. Ống tay áo vắn quá khuỷu tay.
Mặt gỗ cánh cửa kêu cọt kẹt vì quá kinh ngạc! Những mắt gỗ trên cánh cửa nhìn thấy người xắn cao ống quần để phơi ra chân gỗ. Những người vắn cao ống tay áo lộ ra cánh tay giả. Mỗi bước đi, chân phát ra tiếng cót két. Sao tiếng kêu từ chân người lại giống tiếng cây rừng cọ vào nhau lúc rừng động?
Xong việc. Ống quần lại thả chùng xuống kín chân giả. Mọi người quây quần, ngồi trên ghế cốp-pha vui vẻ uống trà. Có người vẫn đặt cánh tay giả trên bàn cho tiện sinh hoạt. Cánh tay giả giống cành cây, chỉ khác là cành cây không có bàn tay. Chính bàn tay mới vãi được hạt giống lên luống đất.
Độ hạt cải nảy mầm làm cho khoảnh đất hoang cựa cọ sự sinh sôi. Những hạt sương mai long lanh đậu trên mầm cải bao tử. Con bướm vàng mảnh mai xập xòe cánh trên mặt luống rau. Mọi người ngừng uống trà, sững sờ nhìn cánh bướm vàng và những cánh nắng mai bay bay…
Ban đêm, mặt gỗ cánh cửa quay vào trong ban thờ. Sau nhiều đêm đắn đo, mặt gỗ cánh cửa đã kể cho hai di ảnh trên ban thờ những biến đổi trên khoảnh đất nhỏ. Hai gương mặt di ảnh giãn nở, vui mừng hệt buổi Hội Cựu chiến binh phường tặng áo lụa. Cụ ông nháy nháy mắt, nói với cụ bà:
- Cái độ đơn vị cũ tặng cho món tiền dưỡng lão, tôi đưa cả cho bu nó. Hình như bu nó mua chỉ vàng để dành cho thằng cả nhỉ?
- Tôi góp thêm tiền bán mấy buồng cau, mua được hẳn hai chỉ vàng, đánh được hai chiếc nhẫn trơn. Đó là để dành cho con trai cả ông làm sính lễ.
Cụ ông cười khà:
- Bu nó vun vén đến là khéo. Chỗ nhẫn vàng vẫn giữ được chứ?
- Tôi cho vào chiếc lọ, đem chôn dưới gốc chanh đầu khoảnh đất bên ngoài kia.
- Vậy bu nó để tôi chỉ dẫn cho thằng cả lấy vàng lên mà dùng! Để tôi xem, ngày mai là ngày đại hỷ đấy?
Đêm khuya mát lạnh.
Không gian trong gian phòng yên ắng. Cụ ông bước ra khỏi di ảnh. Cụ chỉnh đốn quân trang tươi tỉnh, rồi quay lại nói với cụ bà trong di ảnh:
- Làm việc gì cũng phải đàng hoàng bu nó ạ!
Cụ ông tiến lại cánh võng dù. Con trai của cụ đang say giấc. Cụ luôn giữ thói quen giơ tay lên trán chào trước người lính, vì con trai cụ là người lính. Báo mộng xong, cụ ông về mồi thuốc lào, rít một hơi sâu. Khoan khoái nhả khói, rồi ung dung bước vào khung kính.
Sáng mát trong rải nắng non lên luống rau cải. Các cựu chiến binh đưa một khách lạ đến thăm người trồng rau. Khách lạ chính là cô Dung y tá trạm xá phường. Lứa rau cải đã trút gần hết lá bao tử. Lớp lá răng cưa xòe rộng đong nắng vàng. Cô Dung lúng túng nhờ tổ trưởng dân phố trao tặng ông Cường túi phân đạm u- rê.
Tổ trưởng dân phố e hèm, nói ý xa xôi:
- Rau lứa cải vãi, Cường nhớ chăm bón cho khéo nhé!
Ông Cường bối rối nhận túi phân đạm u- rê. Rồi pha ấm trà mới để mời khách. Đắn đo hồi lâu, ông nói với mọi người:
- Lạ lắm! Đêm vừa rồi, mình mơ thấy thầy bu báo mộng. Thầy cầm tay, dắt ra đầu luống rau, chỉ xuống dưới gốc chanh, bảo: "Thầy bu dành cho anh cả đôi nhẫn vàng để chỗ này. Anh một nhẫn. Sáng mai có thêm người đến, anh đeo vào cho người đó một nhẫn!".
Tổ trưởng dân phố tiếp lời:
- Cựu chiến binh mà báo mộng là mệnh lệnh chuẩn xác!
Các cựu chiến binh chiến trường B thi hành ngay công việc. Gốc chanh được bứng lên, để tạm sang bên để trồng lại. Vừa gạt lớp đất mỏng, mọi người thấy chiếc lọ gốm thường dùng đựng trầu cau. Tay run run. Ông Cường nghiêng miệng lọ lên mặt bàn lổn nhổn vữa xi măng. Quả thật, đúng hai chiếc nhẫn vàng. Trong nắng sớm, hai chiếc nhẫn sáng láng, tinh khôi. Cựu chiến binh lớn tuổi nhất đứng dậy, cọt kẹt bước đến bên chiếc bàn, trang nghiêm nói:
- Thật là duyên kỳ ngộ! Chẳng phải hôm nay cô Dung tới đây là duyên trời định hay sao?
Tổ trưởng dân phố bước đến, cầm hai chiếc nhẫn. Mắt rưng rưng, sáng long lanh. Ông lồng vào ngón tay Cường một nhẫn, lồng vào ngón tay Dung một nhẫn. Lần đầu tiên đeo nhẫn cô nhìn xuống bàn tay mình và thấy lạ hẳn đi. Cường nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay ấy.
Dung đỏ bừng mặt. Nhưng không cãi. Cô cũng không hiểu sao đã ngoài ba mươi tuổi mà vẫn lỡ làng duyên phận, chưa ai từng ngỏ lời mặc dù cô đâu có đến nỗi xấu gái. Cô cứ đợi, cứ hẹn cho đến ngày hôm nay.
Tổ trưởng dân phố đi trước. Mọi người cọt kẹt bước qua ngưỡng cửa nách, tiến vào gian phòng, trang nghiêm đứng trước ban thờ. Cửa nách linh cảm điều gì đó sinh sôi, lớn lao gấp bội sự nảy mầm của lứa rau cải ngoài vườn. Sự sinh sôi ấy đang bắt đầu nảy mầm trong gian phòng này.
Người cựu chiến binh lớn tuổi nhất lệnh mọi người chỉnh đốn hàng ngũ trước ban thờ. Ông châm lẻ nén hương thơm, trịnh trọng cắm lên hai bát hương. Hương thơm ngát, linh thiêng. Các cựu chiến binh giơ tay lên trán, chào, đồng thanh:
- Báo cáo hai cụ! Hai cụ cho phép anh em chúng con tiến hành lễ đính hôn cho hai em Cường và Dung ạ!
Tới đây, mọi người cảm nhận một điều mới mẻ: mọi người bỗng thấy gian phòng nhỏ hẹp như hóa thành cung điện nguy nga. Tường như dát vàng. Cánh cửa nách gỗ tạp như hóa thành cánh cửa vàng dính đầy ngọc bích. Chiếc võng dù như hóa thành chiếc giường kim hỷ. Màn rủ xuống những chùm hoa cải vàng hóa thành những chuỗi ngọc li ti...■