Vì vậy, cho dù có đi nơi đâu, thì Hò khoan Lệ Thủy luôn thấm đẫm trong tầm hồn những người con xứ Lệ. Và, theo dòng chảy của thời gian, nó như một món ăn tinh thần theo chân họ tỏa khắp muôn phương cùng với nỗi lòng da diết.
|
Nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Bình cũ, ôm trọn dòng Kiến Giang thân thương, từ những cánh đồng làng quê, Lệ Thủy đã sinh ra sản phẩm tinh thần trên dòng sông thơ mộng, trong xanh bao đời. Đó là dân ca hò khoan Lệ Thủy, làn điệu tâm tình có sức sống mạnh mẽ, cuốn hút lòng người đến kì lạ.
Không chỉ là hình thức diễn xướng dân gian, hò khoan Lệ Thủy còn là nét sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật truyền thống độc đáo của người Lệ Thủy nói riêng, Quảng Bình (nay là Quảng Trị) nói chung. Những giai điệu đã có tự bao đời, ăn sâu và thấm đẫm trong tâm hồn người dân Lệ Thủy với những giai điệu mộc mạc và làm say đắm lòng người.
Một bài viết trên báo Nhân dân dẫn lời nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ cho biết, tiến sĩ Dương Văn An (1514-1591), đời Mạc, người quê làng Tuy Lộc, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy ngày nay đã để lại cho hậu thế tác phẩm địa lí - văn hóa nổi tiếng Ô Châu cận lục viết năm 1553. Tài liệu này đã mô tả, khảo cứu vùng duyên hải miền Trung từ Ðèo Ngang đến Quảng Nam, mà chủ yếu là Tân Bình (Lệ Thủy và Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị ngày nay). Trong tác phẩm của ông, chúng ta gặp những hội hè bơi thuyền lúc xuân sang, tục hát đưa linh, chèo cạn… Như vậy là trước cả quá trình Nam Bắc phân tranh diễn ra, ở nơi đây đã mang rõ bản sắc văn hóa vùng miền.
Hò khoan Lệ Thủy ra đời trong môi trường lao động sản xuất, nhưng trong từng giai đoạn lịch sử, môi trường diễn xướng có sự thay đổi nhằm phù hợp với sự phát triển của địa phương qua từng thời kì. Đồng thời, nó được dân gian chắt lọc qua những thăng trầm và biến cố, để vẫn giữ đúng quy tắc, luật nghiêm ngặt không hề thay đổi của chín mái hò khoan: Lỉa trâu; Mái nhài (dài); Mái ruỗi; Mái chè; Mái nện; Mái ba; Mái xắp; Mái hò khơi và Mái hò nậu xăm.
Nhạc cụ chính trong hò khoan Lệ Thủy là đàn nhị và mỏ. Hai loại nhạc cụ này, khi hòa vào nhau thì âm thanh dịu dàng, sâu lắng và rất đỗi da diết, mến thương. Âm hưởng chủ đạo của nhạc cụ là âm hưởng làng quê mộc mạc, gần gũi nên cứ mỗi lần làn điệu được ca lên thì âm hưởng đó xuyến xao như tiếng lòng của làng quê Việt.
Hò khoan là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng có tính sân khấu hay trong những lúc nông nhàn. Độc đáo ở hò khoan Lệ Thủy, là chỉ trong trường hợp biểu diễn hay thi thố thì mới dùng đến nhạc cụ như: nhị, sáo, trống... Còn thông thường, nhạc cụ trong hò khoan chỉ là những công cụ lao động như: chày giã gạo, mỏ tre, sanh, gậy, mâm đồng, chén trà... Những công cụ lao động thô sơ này bắt nhịp tạo ra âm thanh rất mộc mạc, gần gũi, đời thường.
Bên cạnh đó, hò khoan Lệ thủy có những đặc trưng rất riêng lẻ về bề dày truyền thống văn hóa cũng như sự khác biệt về vùng miền và thể loại ca từ đối đáp, xướng xô, cả chín mái đều sử dụng xướng xô… Vùng đất “địa linh nhân kiệt” tạo cho hò khoan Lệ Thủy cả bề sâu và chiều rộng, đa dạng về nhạc điệu, phong phú về ngôn từ. Hò khoan Lệ Thủy trải rộng từ ngàn xanh đến sông sâu, từ đồng bằng ra biển lớn. Trên núi có sự vang vọng, vút cao đầy uy lực mà tình cảm trong điệu hò lỉa trâu của thợ sơn tràng. Dưới biển có sự dẻo dai, kiên trì nhưng vững chãi của mái hò khơi; sự rộn ràng, phấn chấn của mái hò nậu xăm. Vùng đồng bằng chiêm trũng thì có sự sinh động, ân tình nghĩa nặng của sáu mái hò với thể biến hóa linh hoạt, phóng khoáng của người hát. Trong những năm kháng chiến, hò khoan hiện hữu trong môi trường mới là tuyên truyền địch vận, lúc tiếp tế cho kháng chiến, nói chung là hò cách mạng.
Trong công cuộc xây dựng quê hương đất nước, môi trường diễn xướng của hò khoan Lệ Thủy được sân khấu hóa phục vụ đắc lực công tác tuyên truyền việc xây dựng nông thôn mới, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, phê phán thói hư tật xấu và được đưa vào giảng dạy trong trường học. Bên cạnh đó, hò khoan Lệ Thủy cũng biến hóa linh hoạt trong mọi môi trường, nhằm phù hợp với vai trò chuyển tải tâm tư nguyện vọng của người dân. Ðiều đáng nói, dù ở môi trường nào nó vẫn giữ được gốc của mình, đó là các mái hò (tức điệu hò) vẫn nguyên bản và ngày càng được bảo tồn, gìn giữ.
Ngày 8/5/2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quyết định công nhận hò khoan Lệ Thủy là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Việc hò khoan Lệ Thủy được vinh danh là kết quả của quá trình nỗ lực gìn giữ, bảo tồn, phát triển di sản của chính quyền và ngành văn hóa địa phương. Trong đó, có sự dày công, tâm huyết của các nghệ nhân luôn cháy hết mình để dòng dân ca dung dị này chảy mãi.
Trên hành trình gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, nhiều năm nay, công tác bảo tồn và phát huy giá trị hò khoan Lệ Thủy luôn được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm. Ðặc biệt, làn điệu dân ca này được đưa vào giảng dạy trong các trường học tại Lệ Thủy, đã mang lại hiệu quả, tạo môi trường nuôi dưỡng quan trọng để hò khoan Lệ Thủy được kế thừa, vang mãi với thời gian.
Nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể này, đầu tháng 4 vừa qua, Khoa Văn học; Khoa Ngôn ngữ học, Tiếng Việt và Việt Nam học và Trường THPT chuyên Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tổ chức buổi Tọa đàm và diễn xướng Di sản dân ca Hò khoan Lệ Thủy trên dòng thời gian. Sự kiện thu hút sự tham gia của các chuyên gia, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và đông đảo công chúng yêu mến di sản hò khoan Lệ Thủy.
Đây không chỉ là dịp để hò khoan Lệ Thủy vang lên giữa lòng Hà Nội, mà còn mang đến cho công chúng Thủ đô cơ hội lắng nghe và cảm nhận làn điệu dân ca cổ truyền giàu bản sắc dân tộc. Đồng thời, là không gian giao lưu, trao đổi học thuật giữa các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến văn hóa dân gian. Bên cạnh đó, chương trình góp phần khẳng định và lan tỏa những nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong đời sống đương đại.
Chia sẻ tại buổi tọa đàm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ cho biết hiện nay, di sản hò khoan Lệ Thủy đang đối mặt với những thách thức trong quá trình bảo tồn. Đó là, người viết các tác phẩm mới có chất lượng cao còn hạn chế và chưa bài bản. Cùng với đó là sự mai một của các nghệ nhân cao tuổi, môi trường diễn xướng truyền thống (trên sông nước, khi lao động) bị thu hẹp, và thiếu nguồn kinh phí cũng như phương pháp truyền dạy.
Cũng tại buổi tọa đàm, trò chuyện với chúng tôi, Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hải Lý - Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) Nghệ nhân Hò khoan Lệ Thủy, là CLB được mời diễn xướng trong buổi tọa đàm, cho biết: “Hò khoan Lệ Thủy ăn sâu vào tiềm thức của người dân nơi đây. Theo dòng chảy thời gian, hò khoan Lệ Thủy được bảo tồn và phát huy bởi chính những nghệ nhân, những người yêu giọng hò xứ Lệ. Bản thân tôi cũng như các nghệ nhân khác trong CLB ra sức truyền dạy cho các thế hệ đi sau, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của nó. Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn đang đứng trước những khó khăn, thách thức lớn như: thiếu nguồn kinh phí để hoạt động; việc giảng dạy chưa được thường xuyên và chưa có giáo trình bài bản, đa số là tự phát hoặc theo nhu cầu. Bên cạnh đó, lớp trẻ ít mặn mà nên vấn đề tìm người kế cận còn hạn chế… Tôi rất lo lắng nếu tình trạng này kéo dài, thì hò khoan Lệ Thủy sẽ mai một theo thời gian.”
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong việc bảo tồn nhưng hành trình của hò khoan Lệ Thủy chưa bao giờ dừng lại. Cảnh vật có thể thay đổi theo dòng thời gian nhưng tiếng hò khoan thì vẫn mãi là lời ru, lời nhắn nhủ yêu thương, là di sản thiêng liêng chảy mãi trong dòng máu người Lệ Thủy… Thế hệ hôm nay và mai sau vẫn tiếp tục “thổi lửa” vào di sản độc đáo này, để tiếng hò không chỉ vang trên sông Kiến Giang mà còn lan tỏa, khẳng định bản sắc văn hóa với bạn bè muôn phương.
![]() |
| Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hải Lý - Chủ nhiệm CLB Nghệ nhân Hò khoan Lệ Thủy (người đứng thứ ba từ phải sang) đang biểu diễn hò khoan Lệ Thủy. Ảnh: V.T |