Trong nhiều nội dung của văn bản có việc cấm lạm dụng phương tiện kĩ thuật, sử dụng âm thanh từ bản ghi thay cho biểu diễn trực tiếp. Báo Văn nghệ có cuộc trò chuyện với ca sĩ, giảng viên thanh nhạc và nhà sản xuất âm nhạc Nguyễn Bá Phú Quý về chủ đề này.
|
Anh đánh giá như thế nào về mức độ khả quan trong áp dụng quy định “cấm hát nhép” của Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM?
Là nghệ sĩ vừa làm công tác sản xuất âm nhạc lẫn đào tạo tài năng, với hơn 15 năm trong ngành, cũng như đã từng tham gia hơn 50 cuộc thi lớn nhỏ, từng hoạt động với vai trò ca sĩ chuyên nghiệp, tôi đánh giá đương đầu với “hát nhép” chưa bao giờ là dễ.
Anh có đề xuất gì để thực hiện hiệu quả nhằm chấm dứt tình trạng hát nhép đang diễn ra khá phổ biến trong ngành công nghiệp biểu diễn, đặc biệt là thị trường hòa nhạc đang khởi sắc tại Việt Nam thời gian qua?
Cần phải làm rõ rằng khán giả và ngay cả nhiều người làm nghề âm nhạc phẫn nộ với việc hát nhép không phải vì những người ca sĩ đang hát nhép mà vì những sự đánh tráo khái niệm đang diễn ra trong ngành này. Các cuộc thi về ca hát ở Việt Nam hiện tại đang được phát trên các kênh truyền hình, có đến 99% các phần thi ấy đều được thu lại để thay thế. Ngày xưa các cuộc thi đều được tổ chức trực tiếp, còn hiện giờ nhiều cuộc thi chỉ diễn ra trong trường quay, khán giả là người cuối cùng được xem show. Vậy ai là người có trách nhiệm trong những việc này?
Theo tôi, hiệu quả nhất chính là thay đổi từ giáo dục âm nhạc để từ người làm chuyên môn cho đến khán giả có nhận thức rõ hơn về tính chất show, thể loại và các dòng nhạc, cũng như các hình thức trình diễn khác nhau thì sẽ cần có những lựa chọn kĩ thuật khác nhau. Chúng ta đã quá rõ về nền âm nhạc của Mĩ và năng lực của các nghệ sĩ ở thị trường này. Ở đó, họ không hề cấm hát nhép. Thay vào đó, hệ thống giáo dục của họ dạy rất rõ ràng.
Những trường như Berklee College of Music, USC Thornton School of Music hay New York University Tisch School of the Arts đều có môn công nghệ âm thanh. Trong đó, Auto-Tune & Vocal Processing không được xem là gian lận mà được dạy như một nhạc cụ/hiệu ứng biểu đạt; Layer vocal/stacking dạy thu chồng-bè, “kĩ thuật” adlibs không phải là yếu nghề mà chính là chuẩn công nghiệp âm nhạc. Hát nhép (lip-sync) sẽ nằm trong môn Performance System, trong đó sẽ có lip-sync cho TV (do broadcast yêu cầu); Partial sync (hát đè 30-70%); hay trình diễn kết hợp vũ đạo trong cả chương trình với kĩ năng giọng hát (full show choreography - vocal strategy).
Thị trường quốc tế không gọi là hát nhép mà sẽ gọi là thiết kế chương trình và phân chia lời hát (show design & vocal distribution). Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở chỗ, các trường ở Việt Nam chỉ tạo ra những người biết hát, còn ở các trường của những đất nước phát triển, họ tạo ra các nghệ sĩ thực thụ. Ở Mĩ, sinh viên thanh nhạc mà không biết thu âm giọng hát, không biết xử lí chất giọng cơ bản, không hiểu playback (nhạc nền) thì bị coi là “thiếu kĩ năng nghề”. Vì vậy, nếu chúng ta chưa có bước tiến trong giáo dục âm nhạc thì nghệ sĩ còn cạnh khóe nhau chuyện hát “live” và cả khán giả cũng sẽ là những người bị kéo vào những tranh cãi không hồi kết kiểu này.
Nghị định 144/2020 trước đây bị hiểu nhầm, cho rằng đang nới lỏng về hát nhép. Theo anh, Việt Nam đã có quy định về hát nhép, hát chồng hay chưa? Nên có quy trình cụ thể như thế nào về việc sử dụng nhạc playback, và phân loại tính chất chương trình ra sao để phù hợp với thực tiễn của ngành biểu diễn hiện nay?
Việt Nam thực tế đã có quy định nhưng còn thiếu chi tiết nên dễ bị hiểu là “nới lỏng”. Vấn đề không phải có hay không mà là chưa đủ rõ để áp dụng. Ở góc độ làm nghề, tôi nghĩ nên xây quy trình theo 3 lớp: phân loại chương trình (hòa nhạc, truyền hình, sự kiện chung, chương trình biểu diễn); phân loại tiết mục (giọng hát, kết hợp, trình diễn) và minh bạch nhạc nền cho các mô hình biểu diễn. Muốn làm được vậy, chúng ta cần có một tổ chức nhà nghề với đầy đủ khả năng kiểm định tệp âm thanh. Tuy nhiên, muốn có những nhân sự như vậy thì vẫn phải quay về câu chuyện giáo dục âm nhạc, chúng ta nên cử người đi học ở các nền âm nhạc phát triển hơn để học hỏi mô hình của họ.
Anh có liên hệ, so sánh nào với thị trường nước ngoài hoặc láng giềng, bởi câu chuyện hát nhép không chỉ diễn ra duy nhất tại Việt Nam. Liệu thị trường nội địa có thể học hỏi được điều gì từ quốc tế trong vấn đề này?
Nếu bạn lên Google hay ChatGPT để tra kết quả về số lượng những nước có quy định cấm hát nhép, bạn sẽ thấy là rất ít, chỉ đếm trên một bàn tay thôi. Họ cũng không thể làm triệt để được, kể cả thị trường nội địa như Trung Quốc cũng không làm được. Dân làm nghề kĩ thuật như tôi có thể khẳng định luôn là nếu muốn lách sẽ có cả ngàn cách để lách. Câu chuyện ở đây là, chúng ta đang phát điên lên bởi tình trạng “giả live”, chứ không phải vấn đề hát nhép. Vì vậy, theo tôi, ta hãy học cách làm của những nước mà âm nhạc của họ vẫn phát triển từng ngày mà không cần phải cấm gì cả.
Việc đánh tráo giữa hát trực tiếp (live) và trình diễn trực tiếp (live performance) tạo ra nhiều hệ lụy. Các ca sĩ nổi tiếng như Justin Bieber hay Ariana Grande thường sẽ giới thiệu họ đang trình diễn trực tiếp thay vì hát trực tiếp. Một trong những học trò của tôi đang làm kĩ sư âm thanh cho show MLT, nơi có đến 99% sản phẩm được đăng tải trên kênh này đều được thu lại phần giọng hát sau chương trình. Các kĩ sư âm thanh phải chỉnh “phô”, hòa trộn (mixing) cẩn thận để khi đăng tải trông giống như ca sĩ đang hát trực tiếp. Tôi thấy rất buồn về tư duy và tự trọng của những người làm nghề ở Việt Nam kiểu như vậy.
Là người hoạt động trong ngành với chuyên môn là giảng viên thanh nhạc và sản xuất âm nhạc, cũng như có thời gian hoạt động biểu diễn, anh thấy có “nỗi oan” về hành vi hát nhép mà ca sĩ phải chịu đựng?
Chúng tôi hoàn toàn không được quyết định về chuyện đó, chỉ có biên tập chương trình hay các giám đốc âm nhạc mới có quyền quyết định một phần trình diễn sẽ là live 100%, nhép 100% hay là live bao nhiêu %. Thậm chí, có những ca sĩ đã dày công tạo ra những bản phối chất lượng nhưng có thể không được lựa chọn biểu diễn vì phía Hàn Quốc, nhãn hàng, ban tổ chức không đồng ý. Kể câu chuyện này để độc giả biết rằng, làm ca sĩ cũng có nhiều góc khuất cay đắng. Khổ một nỗi, cuối cùng ca sĩ vẫn là người phải đứng mũi chịu sào cho rất nhiều câu chuyện mà chính bản thân họ không hề được quyết định.
Hát nhép là một chuyện nhưng làm sao để biến sân khấu và màn trình diễn trở nên thăng hoa và ghi dấu ấn trong lòng khán giả cũng không đơn giản. Và quan trọng hơn, có cách nào để nghệ sĩ có thể “cháy” trên sân khấu. Liệu anh có kinh nghiệm cá nhân nào về câu chuyện hát nhép có thể chia sẻ?
Ca sĩ nổi tiếng thế giới The Weeknd từng bước lên sân khấu với hàng vạn khán giả đang hò reo nhưng vẫn phải tuyên bố phải hủy show vì lí do sức khỏe, dù các show diễn của anh ta thường xuyên hát nhép hoặc hát live 70%. Chung quy lại, hát nhép hay hát chồng hay hát trực tiếp 100% cũng chỉ là một tiết mục. Một show diễn, khán giả yêu quý một nghệ sĩ là cả một quá trình, vì vậy tác phong làm nghề, tự trọng và đạo đức nghề của một nghệ sĩ sẽ là chìa khóa quyết định.
Rõ ràng, khán giả chi tiêu để đi xem hòa nhạc là bởi họ muốn có được trải nghiệm tốt nhất. Hát live là một trong các yếu tố bên cạnh chất lượng âm thanh, ánh sáng, dàn dựng, kịch bản, đường dây chương trình. Tại Việt Nam, liệu đã đáp ứng được điều này và làm sao để cải thiện tốt hơn?
Khán giả họ không mua giọng hát đâu, tôi nghĩ những người bỏ tiền ra mua hầu hết là mua “một kỉ niệm đáng nhớ”. Các loại thiết bị, máy móc hay cả xây dựng những nhà hát hiện đại đều không khó, nền âm nhạc của chúng ta, vấn đề của các show âm nhạc của chúng ta kém hấp dẫn thì vẫn luôn là ở lí do ở mặt con người thôi.
Tôi không hề bi quan, vừa rồi có show của Phùng Khánh Linh làm rất tốt. Tôi rất tin tưởng vào những người trẻ và với cương vị là một người làm giáo dục thì điều tôi mong mỏi nhất là sự thay đổi về mặt giáo dục âm nhạc cũng như công tác quản lí âm nhạc của chúng ta. Tôi cho rằng đã đến lúc đổi công thức rồi. Nếu tôi là người có quyền quyết định, tôi sẽ cho rất nhiều nghệ sĩ của chúng ta đi học nhạc ở những nước có âm nhạc phát triển và tạo ra nhiều cú bắt tay về việc trao đổi, hợp tác phát triển nghệ sĩ.
Phan Chung thực hiện