Chẳng ai trồng, chẳng ai chăm, bình bát cứ thế lớn lên bên bờ sông, bên bờ ruộng, âm thầm gom vị ngọt của đất và nước cho mùa quả ngọt thơm.
Đầu hè, bình bát lặng lẽ ra hoa. Rồi chẳng biết từ lúc nào, tháng sáu, tháng bảy đã chín vàng. Những quả bình bát chín thường tự tách cùi, rơi tõm xuống nước. Vì thế, bọn trẻ chúng tôi phải canh hái đúng lúc quả vừa tới, vỏ mới nứt nhẹ, để lộ lớp thịt vàng nhạt bên trong.
Bình bát không ngọt đậm đà như mãng cầu ta, không có vị chua thanh như mãng cầu xiêm. Bù lại, mùi thơm của quả rất riêng, giống như hương hoa, thoang thoảng, gây nghiện. Ai đã yêu bình bát thì không thể quên hương vị đặc biệt của nó.
Bọn trẻ chúng tôi thường trốn nhà đi hái quả giữa trưa. Hái được một rổ quả thì mặt đứa nào cũng đỏ như gấc. Lúc ấy, mỗi đứa chọn một gốc cây, ngồi bệt xuống bờ cỏ, đón ngọn gió sông mát rượi, rồi tách đôi quả, lột vỏ, cắn ngập răng vào lớp ruột thơm nức. Cách ăn ấy không ngon bằng khi được mẹ hoặc chị thêm vào chút sữa đặc, chút đường, ít đá, vậy mà chúng tôi lại thấy thú vị vô cùng.
Ai không kiên nhẫn thì đừng ăn bình bát. Bởi vì vừa ăn, người ta lại phải vừa ngồi lựa ra cả mớ hạt. Tôi bật cười khi nghĩ, hóa ra cây trái cũng biết thử thách lòng người. Có những thứ càng yêu thích, càng phải kiên nhẫn mới có được. Bình bát, xem ra, cũng biết điều ấy.
Bình bát cũng lạ. Mặc cho người ta thưởng thức theo cách nào, hương vị của nó vẫn không thay đổi. Thứ thịt quả màu mỡ gà mềm mại, ngọt thanh, đọng lại trên đầu lưỡi vị mơ hồ khó gọi thành tên. Có lẽ vì thế mà đến tận bây giờ, giữa bao nhiêu thức quà ngon, tôi vẫn nhớ quả bình bát của những buổi trưa quê nhà, một món quà giản dị mà chỉ chợt nhớ đã thấy thèm quay về tuổi thơ.
Hồi bé, chúng tôi thích đi hái bình bát. Không hẳn vì thèm ăn, bởi cây trái trong vườn mùa hè đâu có thiếu. Hái bình bát, thật ra chỉ là cái cớ để bọn trẻ chúng tôi rình bà Ba Say.
Nhà bà Ba Say cuối xóm vừa sát sông. Ngôi nhà che tạm bợ mấy tấm tôn nằm gọn trong một lùm bình bát rậm rạp. Cành bình bát vươn dài, che luôn một bên lối ra vào.
Bà Ba Say chỉ nghe cái tên thôi, người trong xóm đã hình dung ra dáng đi ngất ngưởng. Bà nghiện rượu. Bà uống nhiều, uống đến say khướt mới thôi. Đàn ông thường “rượu vào lời ra”, còn bà, rượu vào là hát.
Bà ngồi trên phản, hai chân buông thõng. Mái tóc vàng khè vì cháy nắng, khuôn mặt đỏ quạch. Mỗi khi cất tiếng hát, cái đầu bù xù lại gật gà gật gù trông rất ngộ. Bàn tay bà nhịp nhịp vỗ vào mép phản, giọng khàn khàn:
|
“... Toàn dân chúng phen này...
Lũ phát xít hai mươi năm,
Kìa chúng đang hà hiếp ta...”
Có mỗi một bài, bà hát đi hát lại không biết chán. Bọn trẻ con nghe bà hát đến thuộc lòng. Giữa chừng bà say quá quên lời liền có đứa nhắc. Vậy là bà lại hát. Hát đến độ phiêu mới thỏa.
Bà phiêu trong cơn say hồn nhiên như một đứa trẻ. Có lẽ đó là lúc bà quên hết sự đời, quên những buồn vui đã đi qua, quên cuộc sống cô độc một mình ở ngôi chòi tôn, ngày nóng rát bỏng, ngày mưa lạnh lẽo. Lúc say, bà hiền như đất. Đứa nào leo lên mái nhà hái bình bát, hay chạy vào bếp xin miếng nước, bà cũng chỉ cười, chẳng vung gậy la mắng như những lúc tỉnh rượu.
Không chiều nào bà Ba không say. Người ta nghe bà hát đến thuộc, có khi ngán ngẩm. Vậy mà đến một ngày không còn nghe tiếng hát ấy nữa, cả xóm lại thấy thiếu một điều gì.
Rồi một buổi trưa đi dọc sông chúng tôi không nghe tiếng hát của bà nữa. Bà ốm liệt giường. Hay tin, những người trong xóm ghé thăm bà. Người đem miếng cháo, kẻ cho viên thuốc. Người ta rỉ tai nhau bà uống nhiều rượu quá mà mang bệnh nặng khó mà qua khỏi. Rồi cháu gái về đem bà lên tỉnh. Ngôi nhà đóng cửa im ỉm, những lùm bình bát được thể trùm luôn cửa ra vào. Chẳng có ai còn ghé qua đó nữa.
Lại mùa bình bát dọc sông chín rộ. Bọn trẻ chúng tôi ngày ấy giờ đã lớn, đứa đi học, đứa đi làm, đứa xa quê biền biệt. Có dịp gặp nhau đứa nào cũng than nhớ bà Ba Say hát, nhớ mùi vị bình bát chín. Không biết ở đâu còn có những đứa trẻ lớn lên bằng thói quen mê ăn bình bát, mê nghe tiếng hát của một người đàn bà say như chúng tôi ngày ấy? Chỉ biết thứ quả dại mọc đầy ven sông, vàng rực dưới nắng, lại mang một hương vị gây thương nhớ đến lạ.
Nỗi nhớ ấy cứ âm thầm lớn lên, rồi ở lại thẳm sâu trong ký ức. Để rồi một ngày, tình cờ bắt gặp đâu đó một cây bình bát, lòng tôi bỗng chùng xuống, nhớ quê da diết. Nhớ những cánh đồng giữa trưa hè, nơi gió từ sông thổi lên mát rượi. Nhớ những bụi bình bát dẻo dai nghiêng ngả theo gió, như cũng đang lắc lư theo giọng ca khàn đục của bà Ba Say năm nào: “Toàn dân chúng phen này…”