Và khi bóng tối tràn từ trên núi Bảy Voi xuống lòng đường rồi len vào từng nếp nhà cũng là lúc ký ức của những đêm xa xưa trở về chiếm trọn tâm trí tôi. Tôi ngồi nhìn bóng núi nhòa dần vào đêm mà để mặc cho những dòng hồi tưởng len lỏi tìm về. Đối mặt với bóng tối người ta hay mơ về ánh sáng. Và tôi cũng đang nhớ về dòng ánh sáng chảy tràn trên cánh đồng quê mình những năm tháng tuổi thơ.
Không phải đèn điện. Không phải trăng. Cũng chẳng phải sao. Đó là dòng ánh sáng thắp lên từ bàn tay con người trên cánh đồng để bảo vệ mùa màng.
|
Ngày ấy quê tôi chưa có điện. Đêm ngày ấy đúng thật là đêm. Mẹ tôi thường nói, tối như hũ nút. Tối như bưng lấy mắt đến nỗi không nhìn thấy cả bàn tay chính mình đang giơ ra trước mặt.
Khi bên chiếc bàn gỗ đơn sơ, ngọn đèn hoa kỳ sáng một quầng sáng nhỏ đủ soi mờ tỏ những khuôn mặt đang rì rầm trò chuyện bên ấm chè xanh thì cũng là lúc ngoài cánh đồng trước nhà tôi vô vàn “ngôi sao” được thắp lên. Mỗi “ngôi sao” là mỗi chiếc đèn được lũ chúng tôi đem ra cánh đồng để bẫy bướm. Cả cánh đồng đang chìm trong bóng tối đen kịt được thắp sáng lung linh trông cứ như một dòng sông hoa chảy tràn ra mãi. Bất giác tôi liên tưởng đến cảnh bây giờ người ta hay thả đèn hoa đăng vào mỗi dịp rằm tháng bảy. Đêm càng đen thì những ngọn đèn lại càng sáng. Ngày ấy, chỉ một ngọn đèn nhỏ cũng đủ xé toạc màn đêm đang ken dày trước mắt.
Quê tôi ngày ấy, cái ngày mà mọi thứ đều được cung cấp bởi hợp tác xã, người ta vẫn gọi là “thời bao cấp”, công điểm đều được quy ra thóc và tôi vẫn còn trong vùng tuổi dại. Ký ức của những tháng ngày đói khổ ấy trong tôi không nhiều nhưng mỗi khi nhớ lại đều thấy lòng mình rưng rưng một niềm xúc động. Xúc động vì dù đói khổ nghèo nàn nhưng người dân quê tôi vẫn đối xử với nhau rất chân tình và rộng rãi. Người ta hay nói về những nỗi cơ cực thời bao cấp nhưng với tôi, trong mớ ký ức cũ mòn ấy lại là một phần đời vô cùng đẹp đẽ. Đẹp vì tôi còn vô lo vô nghĩ. Đẹp vì bố mẹ tôi vẫn còn khỏe mạnh. Đẹp vì tất cả những người yêu thương vẫn bên tôi mỗi ngày. Và đẹp nhất là cả làng đều chung một tấm lòng, chung một niềm vui, chung cả những nỗi âu lo.
Ngày ấy, người dân quê tôi có thể làm rất nhiều việc cho hợp tác xã để có công điểm. Công điểm chính là thóc, là gạo, là những bữa cơm dẫu có độn thì cũng độn ít khoai sắn hơn. Bắt bướm để đổi lấy công điểm là việc mà lũ con nít chúng tôi có thể làm được, đúng như lời Bác Hồ dạy: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ.” Nghĩ đến niềm vui sướng khi đem những con sâu bướm bắt được đổi lấy công điểm, những cân thóc, hạt gạo là chúng tôi nôn nao từ chiều tới lúc ăn cơm tối. Cơm nước xong là xách đèn xách chậu ra đồng mà không cần bố mẹ phải thúc giục.
Ngày ấy ở quê tôi cũng không có nhiều thuốc trừ sâu như bây giờ. Mà cùng đâu phải thích phun lúc nào thì phun. Khi nào cần phun thì hợp tác xã sẽ cử người đi phun mà cũng không phải lúc nào muốn cũng có thuốc để phun. Vì thế, để bảo vệ hoa màu, cây cối trước sâu bệnh thì cách chủ động nhất là dùng chính đôi bàn tay của mỗi người để bắt sâu.
Tháng ba, khi cánh đồng lúa bước vào thì con gái cũng là lúc sâu bệnh phát triển mạnh nhất. Tôi đã từng mê đắm vẻ đẹp của cánh đồng quê mình mỗi sáng đến trường. Có hôm vì mải dõi theo cánh cò trắng mà trượt chân phi cả xuống vệ cỏ báo hại tôi phải chạy về nhà để thay đồ. Nhưng khi sâu bệnh phát sinh, chỉ sau một đêm, cả cánh đồng lúa xanh tươi mơn mởn đẹp như tranh vẽ kia lớp bị sâu ăn, lớp bị bọc lại bởi tổ bướm, lòng người dân quê như có lửa đốt. Ruộng của hợp tác xã, lúa của hợp tác xã, chẳng của riêng nhà nào nhưng ai cũng như ngồi trên lửa. Bên ấm trà buổi sớm mai của bố và các bác các chú trước khi nghe tiếng kẻng để ra đồng là chuyện sâu bướm đang phá hoại mùa màng. Nỗi lo âu hằn lên từng ánh mắt vốn đã trải qua biết bao nhọc nhằn giờ lại càng thêm nặng âu lo. Tôi nhớ ngày ấy mẹ tôi được bầu làm đội trưởng đội sản xuất. Sáng sớm mai khi tôi tỉnh dậy mẹ tôi đã ra đồng từ lúc nào cho đến tối mịt mới trở về, cả người dính đầy bùn đất. Những cuộc họp đội được tổ chức ở ngay sân nhà tôi. Bao nhiêu ý kiến, bao nhiêu giải pháp đưa ra nhằm cứu lúa.
Rồi Đoàn thanh niên xã tôi phát động phong trào “Đêm hoa đăng bắt bướm trừ sâu” để đổi lấy công điểm. Thế là bắt đầu những đêm cả làng quê thức cùng cánh đồng.
Để bẫy bướm cần có một chiếc đèn vừa phải sáng để dụ bướm vừa phải trụ lại với gió ngoài cánh đồng. Nhà nào có được cái đèn bão là oai lắm rồi chứ đừng nói đến đèn măng sông. Đèn măng sông chỉ được dùng trong các đám hiếu hỉ thôi chứ chẳng ai “sang” đến mức đem đèn măng sông đi bẫy bướm cả. Nhà tôi thì không có đèn bão chứ đừng nói đến đèn măng sông. Thế là bố tôi phải bắt tay làm ngay cho chị em tôi chiếc đèn vừa đủ sáng lại vừa trụ được với gió.
Bố tôi lấy một cái chai thủy tinh, dùng dây thép nung đỏ để cắt phần đáy chai và cổ chai ra, chỉ lấy phần hình trụ rồi làm thành một cái đèn, tôi gọi là đèn chai. Phần chứa dầu được làm từ chiếc lọ đựng mực của chị em tôi. Đế đèn làm từ miếng ván cắt tròn có treo hai sợi dây thép đồng ở hai bên, vừa giữ cho “bóng đèn chai” khỏi đổ, vừa để treo vào một cái móc, có thể móc vào bất cứ đâu. Có đèn rồi, chỉ cần treo vào cái cọc, bên dưới để chậu nước là thành một cái bẫy bướm.
Tôi nhớ mãi cái đêm đầu tiên đi đặt bẫy, cả ba chị em đứa nào cũng sợ ma nên cứ đùn đẩy đi trước với đi sau. Đi trước thì sợ ma nó chắn ngay trước mặt rồi thè cái lưỡi đỏ lòm, dài cả mét như trong chuyện các chú bộ đội ở nhờ nhà tôi hay kể cho nghe. Đi sau thì sợ ma từ đâu ngồi lên vai lên cổ hay bắt cõng trên lưng. Chỉ đi giữa là an toàn nhưng ba chị em ắt phải có đứa đi trước, đứa đi giữa, đứa đi sau. Lối bờ ruộng chỉ khoảng 20cm làm sao mà dàn hàng ngang được. Chần chừ, đùn đẩy chán chê thì bạn của chị gái tôi sang bảo, đi theo tao. Thế là chị ấy đi trước, chị gái tôi cõng thằng em trai tôi khóa đuôi còn tôi đi giữa. Đêm đầu tiên trót lọt như vậy. Và ai đó vẫn nói, có lần thứ nhất ắt có lần thứ hai. Đêm đầu tiên trót lọt rồi, những đêm sau chị em tôi không còn đùn đẩy nhau nữa. Nói thật, sợ thì vẫn sợ đấy nhưng cứ nghĩ đến thành quả thu về đổi lấy công điểm là nỗi sợ cũng chịu lép vế.
Đêm nào cũng thế, những chiếc bẫy bướm cứ soi sáng cả cánh đồng. Chúng tôi ngồi trong bóng tối mà mắt thì không rời quầng sáng trên chiếc chậu của mình. Những con bướm trắng từ cánh đồng xanh trông thấy ánh đèn lao nhanh về. Chúng bay loạn xạ trên quầng ánh sáng một lát rồi rơi xuống chậu nước. Chúng tôi vui mừng khi thấy đàn đàn lũ lũ bướm bay vào chậu. Đó là công điểm. Đó là thóc, là những nồi cơm phải độn ít hơn.
Những ngày tháng đó dẫu có đói khổ nhưng vui. Làng quê tôi lúc nào cũng rộn ràng tiếng nói cười, tiếng gọi nhau. Đi làm cùng nhau, đi chơi cùng nhau, niềm vui hay nỗi buồn cũng chia sớt cho nhau. Đói nghèo thì cả xóm đói nghèo nên trong ký ức của tôi không thấy mình thua thiệt. Mẹ tôi thường hay nói dù có khổ cũng là khổ “K.H” (ca hát) chứ không phải khổ “KH” (khổ đến khờ).
Thời gian trôi qua, cuộc sống đổi thay từng ngày, có những phần ký ức đã lùi sâu vào dĩ vãng nhưng những ai đã trải qua chắc hẳn đều không thể nào quên. Những tháng ngày bao cấp ấy - cái thời kỳ mọi thứ đều được phân phối ấy cứ như một đốm sáng xanh níu giữ con người ta sống chậm lại một chút, biết ơn cuộc đời này nhiều hơn, yêu cuộc sống nhiều hơn.
Cánh đồng sáng lung linh như dòng sông thả đầy đèn hoa đăng ấy cứ chảy mãi, chảy mãi vào miền ký ức của tôi rồi ở lại trong đó. Nó nhắc nhở tôi biết trân trọng tất cả những gì đang hiện hữu bên mình.